Journey in Life: 10/27/12

Saturday, October 27, 2012

Đánh thuế khi làm "chuyện ấy" nơi công cộng?

(bài repost từ blog cũ, 11/2008)

Hôm nay dạo qua blog OnlyU về "teen xxx trong công viên", nhớ đến bài viết của nhà báo Stephen J Dubner, đồng tác giả quyển "Kinh tế học hài hước" đọc hồi tháng 9/2008, viết lại chơi.

Photo: timeout
"An Immodest Proposal: It's time for a Sex tax": Đề xuất khiếm nhã: đã đến lúc đánh thuế xxx

Căn cứ vào việc thấy rằng:
- Đảng Dân chủ đại thể là ủng hộ việc đánh thuế và Đảng Cộng hòa đại thể là phản đối các hành vi xxx ko cần thiết; và bi vì:

- Chi phí ko tính trước của những hành động xxx thường cao ở mức ko chấp nhận được, đặc biệt là trong chính trường (vd cụ thể có thể thấy cựu Tổng thống Clinton: với scandal tình dục nổi tiếng Monica Lewinsky, Mark Foley - nghị sĩ Quốc hội Đảng Cộng hòa đến từ bang Florida: liên tục gửi những tin nhắn và email khiêu dâm đến nhiều bé trai (teenaged boys) từng làm ở báo của Quốc hội, Larry Craig - chính trị gia bang Idaho: bị bắt vì hành vi tình dục đồng giới ở phòng vệ sinh nam, John Edwards - ứng viên bầu cử Phó Tổng thống của Đảng Dân chủ năm 2004: ngoại tình với phụ nữ 42 tuổi và có con với bà ta, và gần đây nhất là anh chàng Levi Johnston: là cha của cái thai 5 tháng của Bristol - con gái bà Sarah Palin, Bristol sinh năm 1990, tức là chưa đến tuổi thành niên...) và bởi vì:

Photo: examiner
- Việc theo đuổi hành vi xxx gây nhiều tổn thất cả ngoài lĩnh vực chính trị, gây ra mất năng suất, có thai ngoài mong muốn, các bệnh truyền nhiễm, băng hoại hạnh phúc gia đình; và bởi vì:

- Chính phủ liên bang hiện bây giờ, và luôn luôn, cần tiền.

Cho nên, tôi đề xuất đánh thuế "chuyện ấy" đối với các công dân Mỹ.

Tuy nhiên, cũng cần làm rõ rằng, mục đích của việc đánh thuế xxx không nhằm ngăn cản, hạn chế việc làm "chuyện ấy" mà là để thu về một phần các chi phí gây ra bởi những hành vi xxx ngoại vi nhất định, đặc biệt là khi làm "chuyện ấy" ở nơi công cộng, gây nên lãng phí nguồn lực vốn đã hạn chế; vì vậy:
- Các cặp vợ chồng sẽ được thưởng cho việc làm "chuyện ấy" ở nhà , ngược lại:

Photo: trekearth
- Mức thuế cao nhất sẽ đánh vào những hành vi xxx như tình dục tiền hôn nhân, ngoại tình, và các hành vi xxx ko bình thường và ko mong muốn khác; và:

- Các hành vi xxx giữa những người đồng giới, hoặc nếu làm "chuyện ấy" với sự tham gia của hơn 2 người; hoặc trên máy bay , ngoài bãi biển , trong công viên hoặc ở bất kì nơi nào ko được coi là "địa điểm truyền thống cho việc ấy" hiển nhiên sẽ bị đánh thuế cao hơn.

Cơ quan thuế vụ (IRS) sẽ được trao toàn quyền thu thuế nói trên.

Hơn nữa:
- Đây ko phải là lần đầu tiên thuế này được đề xuất ở Mỹ; năm 1971, nghị sĩ Đảng Dân chủ từ Providence, R.I tên là Bernard Gladstone đã có đề xuất tương tự ở bang của mình, gọi là "thuế có khả năng bội thu", nhưng buồn thay, biện pháp này đã nhanh chóng bị loại bỏ vì coi là "khiếm nhã" (bad taste).

Photo: stefan_heinrich
- Một loại thuế tương tự đã xuất hiện từ trước trong văn học (có thể hư cấu), trong tác phẩm "Gulliver du kí" của tác giả Jonathan Swift, ở xứ sở Laputa: "Đánh thuế cao nhất vào những người đàn ông nào thích thú xxx với người khác nhất, đánh giá trên cơ sở số lượng và bản chất những lần xxx (favors) họ nhận được". Và cuối cùng:

- Ko rõ tại sao cả Swift và Gladstone đều đề xuất là đánh thuế chủ yếu vào nam giới, nhưng xét tới những sự kiện gần đây và cả trước kia trên báo chí, có lẽ hoàn toàn đúng 100% để làm như vậy.
---------------------
Đánh thuế thế này chắc là ổn hết thôi nhỉ, ko còn blog OnlyU để phản ảnh bức xúc nữa nhỉ, he he...

Câu chuyện của Jane


(nhận vụ việc mới ở Okinawa, post lại bài dịch Economist hồi mới sang Nhật)

Jane là một phụ nữ tóc vàng hấp dẫn khoảng 40 tuổi người Úc, sống nhiều năm ở Nhật Bản và là mẹ của 3 đứa trẻ. Jane cũng là nạn nhân của 2 vụ "hiếp dâm": lần 1 bởi tên Bloke T. Deans trong xe ôtô của chính mình vào ngày 6/4/2002 gần một doanh trại hải quân của Mỹ ở Yokosuka.

Lần mà Jane gọi là "bị hiếp lần 2" khi Jane trình báo sự việc ở đồn cảnh sát quận Kanagawa. Ở đó, Jane bị 6 cảnh sát chất vấn hàng giờ đồng hồ, thậm chí còn chòng ghẹo cô. Ở lần gặp sau, họ thậm chí còn cười và nhận xét thô bỉ. Ban đầu Jane còn bị từ chối ko được khám y tế, nước và thức ăn; bị từ chối ko giữ mẫu nước tiểu - bằng chứng pháp y quan trọng nhất của một vụ hiếp dâm. Những cảnh sát đó cũng chẳng lấy mẫu tinh dịch hoặc DNA trên người cô.

Cảnh sát đã xác định được thủ phạm, tên Deans, ở hàng không mẫu hạm USS Kitty Hawk, nhưng vì những lí do ko rõ ràng, đã ko phạt hắn.

Tuy nhiên, Jane đã đưa ra tòa dân sự và thắng kiện: một tòa án ở Tokyo tuyên án tên Deans phải nộp phạt 3 triệu yen (khoảng 30.000 usd) vào tháng 11/2004. Nhưng ngay sau đó, Hải quân Mỹ đã cho Deans giải ngũ, trở về Mỹ rồi biến mất. Sau đó, Jane nhận bồi thường từ Bộ Quốc phòng Nhật Bản, tiền lấy từ quỹ dành cho nạn nhân bởi các tội ác do lính Mỹ gây ra.

Jane cho rằng, lần bị hiếp thứ nhất, tội ác đã ko bị trừng phạt: tên Deans vẫn tự do tự tại -> Jane kiện "lần 2": cô kiện cảnh sát ở Kanagawa đã điều tra cẩu thả và ko đem lại công bằng cho cô. Tháng 12/2007, tòa tuyên bố cảnh sát đã làm hết nhiệm vụ -> Jane kháng án.

Lính hải quân Mỹ thật đẹp trai và hào hoa, nhưng bao nhiêu phần trăm trong số đó là Bloke T. Deans?

Lý do mà những vụ kiện như của Jane không được xử chẳng liên quan nhiều đến cảnh sát ko có năng lực mà đó là bởi thỏa thuận bí mật giữa Mỹ và Nhật Bản năm 1953: ngay sau khi Dwight Eisenhower nhậm chức tổng thống, John Foster Dulles, Bộ trưởng Ngoại giao thời đó, đã tiến hành một chương trình lớn để 2 nước từ bỏ quyền thực thi pháp lý đối với những tội ác do quân nhân Mỹ gây ra.

Tại sao nước Mỹ năm 1953 lại đấu tranh mạnh mẽ như vậy để nắm quyền xử những hành vi tội phạm do lính của mình phạm phải? Theo tài liệu tuyên bố, mỗi tháng có khoảng 30 vụ vi phạm pháp luật nghiêm trọng của lính Mỹ. Việc để cho khoảng 350 lính Mỹ vào tù tại Nhật Bản mỗi năm sẽ là hình ảnh xấu đối với nước Mỹ. Theo tài liệu khác, Mỹ cũng có những thỏa thuận tương tự với Canada, Ý, Ireland và Đan Mạch.

Vào ngày 10/12/2008, Tòa dân sự tối cao Tokyo (Hight Court) đã ra phán quyết đối với vụ kiện của Jane: kiện cảnh sát Kanagawa. Quan tòa Toshifumi Minami bước vào tòa án, nói với Jane "Cô đã thua kiện. Và cô sẽ phải trả toàn bộ tiền theo kiện" rồi bỏ đi. Bản phán quyết 20 trang, ngắn ngủi, chẳng có mấy chi tiết rõ ràng việc tòa án đi đến quyết định như thế nào. Cô định kiện lên Tòa án Tối cao (Supreme Court). "Tôi đã thua - nhưng họ cũng thua" - cô nói.

Jane sẽ luôn mang trên mình những vết sẹo vô hình không thể xóa nhòa. Nhưng điều này chẳng có nghĩa lý gì với Nhật Bản. Và cả Mỹ.

Văn hóa danh thiếp của người Nhật

Ngày nay, tấm danh thiếp đã trở nên quen thuộc của các doanh nhân, danh thiếp luôn mở đầu các cuộc giao dịch kinh doanh. Tuy nhiên, tại mỗi nơi, văn hoá sử dụng danh thiếp lại có những cách thức khác nhau. Và có lẽ không nơi nào tấm danh thiếp lại được coi trọng như tại Nhật Bản.

Các doanh nhân Nhật Bản luôn được mệnh danh là những người rất tiết kiệm, tính toán trong chi tiêu nhưng lại rất hào phóng khi sử dụng danh thiếp của mình. Theo một thống kê mới nhất của tờ Nihon Kaizai Nhật bản, trung bình tại Nhật Bản một doanh nhân sử dụng khoảng 20 tấm danh thiếp/ngày, đồng thời người Nhật Bản trao tay nhau khoảng 45 triệu danh thiếp/ngày. Những con số trên chứng tỏ Nhật Bản là một trong những quốc gia sử dụng nhiều danh thiếp nhất thế giới trong kinh doanh. Hiện nay, rất nhiều công ty, nhiều doanh nhân muốn hợp tác làm ăn với doanh nhân Nhật Bản. Nhưng đa phần trong số họ không hiểu hết văn hoá danh thiếp của Nhật Bản, dẫn đến tình trạng đôi khi làm mất lòng các đối tác Nhật Bản.

1/ Chú ý đến “chế độ đẳng cấp” khi trao đổi danh thiếp
Nền kinh tế Nhật Bản cũng như người dân Nhật Bản rất nhạy cảm về chế độ đẳng cấp. Trước mỗi cuộc giao dịch kinh doanh, khi trao đổi danh thiếp, người Nhật phải xác định được hàm và chức vị cao nhất của đối tác. Điều này là rất quan trọng khi áp dụng lễ nghi, quyết định sự thành bại trong giao tiếp hay trong các cuộc giao dịch kinh doanh. Các đàm phán thảo luận sẽ cởi mở hơn nếu địa vị ngang hàng thì hai người giao dịch bình đẳng, dễ ăn dễ nói.

2/ Người Nhật quen xưng hô theo danh vị cao nhất của đối tác ghi trong danh thiếp
Khi hợp tác với doanh nhân Nhật hãy theo thói quen này mà xưng hô với họ. Chẳng hạn như giám đốc thì thường gọi là “giám đốc” chứ không xưng hô theo kiểu “ông” hay “anh”.

3/ Người Nhật có biểu hiện rõ rệt trên nét mặt khi trao đổi danh thiếp
Đây là cơ sở để các doanh nhân nước ngoài nắm bắt được chức vị hay vị trí của doanh nhân Nhật Bản. Điều đáng chú ý là động tác và biểu hiện trên nét mặt khi trao đổi danh thiếp cũng có thể đoán ra chức vị cao thấp của đôi bên. Thông thường, động tác khom lưng nhiều, nét mặt khiêm tốn, chân thành thì chức vụ của người trao danh thiếp thấp. Khom lưng càng ít, vẻ mặt tự tin lớn thì chức cụ càng cao.

4/ Không nên tùy tiện sử dụng danh thiếp khi làm ăn với người Nhật
Doanh nhân Nhật không có thói quen tuỳ tiện trao đổi danh thiếp. Trong các trường hợp giao dịch kinh doanh, đàm phán hợp đồng thì nếu một người có địa vị thấp nếu không được người khác dẫn dắt hoặc không vì lý do đặc biệt cần thiết thì không đủ tư cách trao đổi danh thiếp với người có địa vị cao hơn. Vấn đề này xuất phát từ truyền thống văn hoá “đẳng cấp” của người Nhật Bản. Trong kinh doanh, khi bạn muốn hẹn đàm phán giao dịch với một đối tác Nhật Bản thì bạn nên dựa vào chức vụ của mình để hẹn đúng người có chức vụ tương xứng với bạn. Còn nếu bạn muốn hẹn một người có chức vụ cao hơn thì tốt nhất là nên có uỷ quyền của cấp trên tương xứng.

5/ Gọi tên chính xác đối tác Nhật Bản được ghi trong danh thiếp
Xuất phát từ truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời của mình, người Nhật dựa vào danh thiếp để gọi chính xác và đúng tên người giao dịch bởi vì họ tên người Nhật rất phức tạp. Có thể nói, Nhật Bản là nước có nhiều họ nhất trên thế giới, có đến 370.000 họ trong khi tiếng Nhật chỉ có 50 âm cơ bản, khiến khi nói chuyện dễ gặp các từ đồng âm khác nghĩa. Ví dụ: Sasaki có thể đại diện cho 9 họ; Goto đại diện cho 11 họ; Koji đại diện 12 họ,…

6/ Sử dụng tấm danh thiếp trang nhã, lịch sự
Người Nhật còn có thói quen in danh thiếp một cách trang nhã, dễ đọc theo một quy tắc nhất định, Chức vụ thường được in đậm nổi bật nhất, thường chỉ ghi chức vụ cao nhất để khỏi làm nhiễu trí nhớ của người muốn giao dịch. Nếu danh thiếp của bạn có sự khác biệt về hình thức với người Nhật Bản thì tốt nhất nếu có quyết định làm ăn với người Nhật thì bạn nên chuẩn bị cho mình một hộp danh thiếp lịch sự, gây ấn tượng với người Nhật, điều này là rất quan trọng trong việc lấy cảm tình đầu tiên của người Nhật.

Quen nết đánh chết không chừa

what is bred in the bone will come out in the flesh *
Photo: tin247

* Lifelong habits or inherited characteristics cannot be concealed: Thói quen suốt đời hay các đặc tính di truyền không thể che giấu được, ví dụ 'Once a liar, always a liar' (một lần nói dối, suốt đời nói dối).

Thực ra có ý kiến là tục ngữ này được dẫn nhầm và gây hiểu nhầm. Phải là "what is bred in the bone will never come out of the flesh", ý nghĩa thực sự là những gì liên quan đến tính di truyền: chúng ta thừa hưởng các đặc tính từ tổ tiên của chúng ta, và những đặc điểm tương tự sẽ được thừa hưởng từ chúng ta bởi con cháu chúng ta. Một khi đã là trong máu thịt (in the flesh), nó sẽ không bao giờ mất đi (never come out).

"Fall on your sword" nghĩa là gì?

Các hiệp sĩ trong khiên giáp đấu nhau trên lưng ngựa. Ảnh: BBC

Nếu bạn 'fall on your sword' (ngã vào thanh kiếm của mình), có nghĩa là bạn nhận lỗi cho một hành động nhóm mà có thể không phải trách nhiệm cá nhân của bạn.

Ví dụ
He doesn't think he's to blame – but he's falling on his sword anyway.
She's going to resign - she's falling on her sword even though it's not her fault.
He is the boss – it's only right he's falling on his sword this time.

Xin lưu ý
Một cụm từ khác cũng có nghĩa nhận lỗi về điều gì là 'to take the flack' (nhận sự chỉ trích dữ dội).

She's always taking the flack for things. Even when it's not her fault.

Thực tế thú vị:
Việc vinh danh phong tước hiệp sĩ tại Vương quốc Anh có từ thời của tinh thần hiệp sĩ thời Trung Cổ. Vua hay Nữ hoàng dùng kiếm chạm vào vai người sẽ được phong tước hiệp sĩ.