Journey in Life: April 2013

Search This Blog

Tuesday, April 30, 2013

Lương bổng công bằng cho phụ nữ: Cuộc đấu tranh còn dang dở


Những nữ công nhân hàn tại ụ nổi (dry dock) Todd Erie Basin năm 1943. Trong Thế chiến II, phụ nữ ngày càng đảm nhận những công việc của nam giới trước đây. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ), Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

By Michael Burgan / Sơn Phạm dịch

Hầu hết người Mỹ biết rằng cứ mỗi đô la thu nhập của một người đàn ông, một phụ nữ làm chính công việc đó vẫn nhận được ít hơn rất nhiều. Như một lời nhắc nhở, Ngày Lương bổng Công bằng (Equal Pay Day) được kỉ niệm hàng năm vào một ngày thứ Ba của tháng Tư. Ngày đó, năm nay là ngày 9 tháng Tư - được chọn để minh họa khoảng thời gian trong năm nay mà một người phụ nữ phải làm việc để có được số tiền tương xứng với thu nhập năm trước đó của một nam giới.

Tuy nhiên, rất ít người Mỹ biết rằng trong Bộ Lao động Mỹ Cục Nữ giới để giải quyết những vấn đề này. Và họ cũng không biết Cục này đóng vai trò quan trọng trong việc ban hành Luật Lương bổng Công bằng năm 1963, cấm phân biệt đối xử dựa trên giới tính khi trả lương. Luật này phản ánh công sức và s cam kết hàng năm trời của một người phụ nữ cụ thể: đó là Esther Peterson.

Peterson có vẻ dường như không phải là một nhà cải cách. Sinh ra trong một gia đình Mormon ở Provo, Utah, bà đã một lần k lại là bà được giáo dục để tin rằng những công nhân biểu tình 'có bom trong người và là cộng sản.' Chỉ đến sau khi bà tốt nghiệp cao đẳng và dọn về miền Đông, bà mới trở nên nhạy cảm với tình cảnh túng thiếu của người lao động - đặc biệt là công nhân nữ. Trong những năm 1930, trong khi dạy các lớp buổi tối cho công nhân dệt may, bà đã chứng kiến những người phụ nữ phải vật lộn với cuộc sống hàng ngày để kiếm sống.

Chính quyền Kennedy
Mối quan tâm của Peterson đối với các vấn đề lao động trở nên lớn hơn, và vào năm 1957, bà là phụ nữ vận động hành lang đầu tiên cho AFL-CIO. Vào thời đó, bà đã làm việc với John F. Kennedy về các vấn đề lao động khi ông còn phục vụ ở Quốc hội. Sau khi ông được bầu làm Tổng thống, ông đã chọn Peterson để đứng đầu Cục Nữ giới và đồng thời là Thứ trưởng Bộ Lao động.

Nhờ những chức danh mới và mối liên hệ với Tổng thống, Peterson quyết tâm giúp đỡ phụ nữ nhận được lương bổng ngang nhau cho công việc như nhau. Kỉ nguyên hậu chiến đã mang lại những thay đổi đáng kể trong nhân khẩu học nơi làm việc, khi nhiều phụ nữ đã kết hôn, có con nhỏ gia nhập lực lượng lao động. Hầu hết họ làm các 'công việc của phụ nữ' truyền thống như y tá, giáo viên hoặc thư kí văn phòng. Và khi phụ nữ làm các việc tương tự như của đàn ông, họ thường bị phân biệt đối xử khi trả lương. Một số tiểu bang có các đạo luật ngăn cấm hành vi này, nhưng Peterson muốn có sự bảo vệ ở cấp liên bang.

Chính quyền Dwight Eisenhower đã ủng hộ luật này nhưng vấp phải sự chống đối từ các thành viên chủ chốt ở Quốc hội. Trong suốt thời gian của mình như là nhà lập pháp, Kennedy đã có lời ủng hộ (lip service) ý tưởng này, nhưng chưa bao giờ có bất c hành động mạnh mẽ nào để ủng hộ nó. Khi một luật lương bổng công bằng mới được đề xuất vào năm 1961, Kennedy đồng ý để Peterson và nhân viên của bà là mũi xung kích cho nỗ lực này.

Năm 1962, một dự luật được thông qua ở Hạ nghị viện, gây ngạc nhiên đối với cộng đồng doanh nghiệp. Phòng Thương mại Mỹ đã có khả năng làm hỏng (derail) biện pháp này ở Thượng nghị viện trong một khoảng thời gian, nhưng cuối cùng Thượng nghị viện cũng thông qua một phiên bản của luật này. Tuy nhiên, các th thuật câu giờ dẫn tới những rào cản thủ tục đã ngăn dự luật không được trình tới Tổng thống để được ký thành luật. Tuy nhiên, Peterson đã không nao núng. Bà và các nhân viên bắt đầu dự thảo một dự luật mới. Lần này, những trở ngại thậm chí không chỉ đến từ nhóm lợi ích doanh nghiệp và những nhà lập pháp thông cảm với họ, mà còn từ các lãnh đạo công đoàn và các cố vấn của Kennedy. Peterson sau đó đã miêu tả sự 'vận động hành lang ngầm' của một số công đoàn chống lại luật này.

 lúc, khi các thành viên của Hội đồng Cố vấn Kinh tế Nhà Trắng cho rằng, không nhất thiết phải có luật này, thì Peterson đã chứng minh ngược lại. Sau đó, Bộ trưởng Lao động William Willard Wirtz nói luật này nếu muốn thực thi sẽ tốn rất nhiều chi phí. Trong cuốn sách của mình, 'Về vấn đề giới tính: Những đòn phép chính trị về các vấn đề phụ nữ, 1945 - 1968,' ("On Account of Sex: The Politics of Women's Issues 1945-1968,") Cynthia Harrison ghi lại phản ứng của Peterson: 'Không hề bất hợp lí khi chi một lượng tiền ch tương đương với số tiền Chính phủ chi cho kẹp giấy và dập ghim để bảo vệ 24 triệu phụ nữ trong lực lượng lao động.'

Miễn trừ thâm niên
Peterson đã giành chiến thắng với chính quyền, và vào ngày Valentine năm 1963, bà trình đề xuất lương bổng công bằng tới Capitol, nơi nó được giới thiệu ở cả hai viện. Trong hơn hai tháng tiếp theo, các nhóm doanh nghiệp lên tiếng phản đối dự luật. Cho dù như vậy, sau một số tranh cãi trong một vài quy định, Luật Lương bổng Công bằng đã được thông qua vào tháng Năm và được ký thành luật vào tháng Sáu. Trong khi luật này đảm bảo lương bổng công bằng cho công việc tương đương, luật cũng có một số ngoại lệ cho việc trả lương khác nhau, bao gồm thâm niên và trình độ.

Peterson nhận thấy công việc của bà và của Cục như là bước đầu tiên quan trọng để đạt được sự công bằng cho phụ nữ. Bà nói 'Chúng ta không còn ở tầng hầm nữa.' Nhưng trong một bức thư gửi tới tờ New York Times, bà than rằng nhiều người Mỹ, và đặc biệt là các phương tiện truyền thông tin tức, vẫn không 'xem xét cảnh ngộ (plight) của phụ nữ với sự nghiêm túc xứng đáng'. Vào thời điểm đó, phụ nữ được trả 60 cents cho mỗi đô la đàn ông kiếm được.

Ngày nay, phụ nữ kiếm được 77 cents cho mỗi đô la thu nhập của đàn ông - tỉ lệ này thậm chí còn thấp hơn đối với những phụ nữ thiểu số - điều này cho thấy lời cầu xin của Peterson vẫn còn nguyên giá trị như cách đây nửa thế kỷ.

(Michael Burgan là một nhà văn tự do và biên tập viên của Biographer's Craft, bản tin của Hiệp hội quốc tế những người viết tiểu sử.)

Bloomberg

"Make a Dent" nghĩa là gì?

Mất 2 ngày để cố giải quyết đống giấy tờ trên bàn. Photo courtesy Liz Henry.

Trong thành ngữ make a dent có một từ cần lưu ý là dent, có nghĩa là vết lõm. 'Make a dent' có nghĩa là thực hiện, hay làm giảm bớt một điều gì.

Ví dụ
“After being home with the flu (cảm cúm) for a week, I finally returned to the office. I can’t believe how much I missed. I’ve already spent two days trying to catch up (cố giải quyết) on the pile of paperwork on my desk, but I’ve barely made a dent in it (không làm bớt đi được bao nhiêu). There’s still a lot more I need to do.”

“There’s been an unexpected rise in robbery (trộm cướp) in my neighborhood lately. Our police department responded by assigning more officers in the area, but there hasn’t been much change yet. Will that make a dent in the crime rate (có sẽ làm giảm bớt mức độ phạm pháp hay không)? We’ll see (Chúng ta hãy chờ xem).”

VOA

Live by When Life Doesn’t Go Your Way


"You may not control all the events that happen to you, but you can decide not to be reduced by them." 
~ Maya Angelou

Previous post: Nothing is a waste of time

"An Open Book" nghĩa là gì?
Transform_Dec 26

Monday, April 29, 2013

Nhật Bản nới lỏng tiền tệ: Kinh nghiệm từ những năm 1930


Korekiyo Takahashi, trái, trong một bức ảnh không rõ ngày tháng, có sự nghiệp lâu dài trong khu vực công, và từng là Bộ trưởng Tài chính Nhật Bản trong những năm 1930. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ). Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

By Michael Schiltz / Sơn Phạm dịch

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) vừa quyết định có hành động táo bạo nhằm đảo ngược tình hình suy giảm kinh tế ở nước này.

Tân Thống đốc Ngân hàng Trung ương, Haruhiko Kuroda, tuyên bố 'một quy mô mới trong nới lỏng tiền tệ', cam kết sẽ tăng gấp đôi lượng mua vào trái phiếu chính phủ và mở rộng cơ sở tiền. BOJ cũng chính thức chấp thuận và áp dụng mục tiêu đã tuyên bố trước đó là lạm phát 2 phần trăm trong vòng 2 năm. Nới lỏng định lượng sẽ là công việc chính của Ngân hàng này trong tương lai gần, một chiến lược giống với phản ứng của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đối với sự sụp đổ của Lehman Brothers Holdings Inc.

Các hành động của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản cũng đánh dấu, phần nào, sự quay lại với các nỗ lực không chính thống của Bộ trưởng Tài chính Nhật Bản trong những năm 1930, Korekiyo Takahashi, người được Chủ tịch Fed ca ngợi vì đã 'xuất sắc cứu nguy Nhật Bản khỏi Đại khủng hoảng thông qua các chính sách tái lạm phát'.

Takahashi gần đây đã lại nhận được sự chú ý của các nhà kinh tế, các sử gia và các nhà lập chính sách. Ở Nhật Bản, số lượng các ấn phẩm phổ biến về Takahashi cho thấy sự tiếp bước các chính sách của ông. Một cuốn tiểu sử của tác giả Richard Smethurst, 'Từ người lính bộ binh lên Bộ trưởng Tài chính: Takahashi Korekiyo, Keynes của Nhật Bản,' đã trở thành cuốn sách học thuật nổi tiếng khi được phát hành bằng tiếng Nhật vào năm 2010.

Trang phục Nhật Bản
Sự trở lại của Takahashi được củng cố bởi 'tính Nhật Bản' của ông. Phong cách thân thiện của ông mang lại cho ông biệt danh trìu mến 'Daruma', một liên tưởng tới vị thần Phật giáo bụng phệ và biểu tượng của sự may mắn. Ông thường được chụp ảnh trong bộ trang phục truyền thống Nhật Bản, một sự tương phản rõ rệt với người tiền nhiệm thân Anh và không được công chúng mấy biết đến của ông, Inoue Junnosuke, người đã có chính sách bản vị vàng phương Tây bị chỉ trích là đã mang cuộc Đại khủng hoảng tới Nhật Bản. (Junnosuke hầu như được chụp  ảnh trong các bộ âu phục phương Tây.)

Takahashi đã có một nhiệm vụ không hề dễ dàng. Sau khi trở lại chế độ bản vị vàng ở ngang mức trước Chiến tranh, đất nước này đã hứng chịu hai năm giảm phát tới hơn 10%. Vương quốc Anh là nước đầu tiên từ bỏ bản vị vàng, nhưng, như Barry Eichengreen chỉ ra trong cuốn 'Những chiếc gông bằng vàng: Chế độ bản vị vàng và cuộc Đại khủng hoảng, 1919-1939,' - 'Golden Fetters: The Gold Standard and the Great Depression, 1919-1939,' Nhật Bản có lẽ mới là nước đầu tiên từ bỏ các chuẩn mực của chế độ bản vị vàng. (Đối với Vương quốc Anh, từ bỏ vàng ban đầu được trình bày như là một phương sách trong thời kì khủng hoảng.)

Đoán trước bản cáo trạng sau này của John Maynard Keynes về chế độ bản vị vàng như là một di tích man rợ, các chính sách của Takahashi đã triệt để thách thức tính chính thống những người ủng hộ thanh toán nợ (liquidationist) vào thời điểm đó. Sau khi phá giá đồng yen, ông cũng đã hủy bỏ giới hạn chuẩn (fiducial) cho việc phát hành tiền giấy BOJ. Sau đó, ông bắt tay vào chương trình mở rộng tài khóa và giảm hơn nữa tỉ lệ chiết khấu chính thức. Một trong những yếu tố trọng tâm các chính sách của ông là 'hệ thống bảo đảm' (undertaking system, hikiuke), yêu cầu BOJ phải mua trái phiếu chính phủ lãi suất thấp để bù vào sự chênh lệch chi thu ngân sách.

Tuy nhiên, khó có thể phân biệt rạch ròi từng yếu tố của kế hoạch của Takahashi về tỉ giá hối đoái mở rộng, chính sách tiền tệ và tài khóa, chứ chưa nói đến việc tách biệt cụ thể tác động của từng yếu tố này đối với nền kinh tế Nhật Bản những năm 1930.

Một số người lập luận rằng chính sách tiền tệ dễ dãi thúc đẩy sự hồi phục. Số khác cho rằng chính sách kích thích tài khóa mới là yếu tố mấu chốt. Gần đây, các sử gia kinh tế Masahiko Shibamoto và Masato Shizume khẳng định rằng những thay đổi trong tỷ giá hối đoái mới là yếu tố đóng góp lớn nhất vào sự hồi phục kinh tế ở Nhật Bản trong thời kì Đại khủng hoảng, chính sách tài khóa, nếu có, chỉ đóng vai trò thứ yếu.

Thay đổi kỳ vọng
Có vẻ như các lãnh đạo BOJ ngày nay đã nghiên cứu công trình của Shibamoto và Shizume, bởi vì phương sách mới của Ngân hàng này hoàn toàn trong lĩnh vực chính sách tiền tệ dài hạn, không phải tài khóa mà cũng không phải chính sách ngắn hạn. Ví dụ, chương trình mua tài sản trước đây thông qua nghiệp vụ thị trường mở cũng đã được dừng lại. Trọng tâm hiện nay hoàn toàn nhằm vào việc mở rộng cơ sở tiền t và hạ thấp tỉ lệ lãi suất thực, do đó làm tăng chi phí cận biên của việc nắm giữ tiền. Mục tiêu của chương trình là 'thay đổi mạnh mẽ kì vọng của các thị trường và các thực thể kinh tế.'

Việc BOJ nghiêm túc về các dự định của mình cũng được nhấn mạnh bởi quyết định của Ngân hàng này trong việc từ bỏ một số quyền tự chủ. Giống như trong thời kì của Takahashi, các cơ quan thẩm quyền về tài khóa và tiền tệ ngày nay bắt buộc phải hợp tác. Điều này góp phần kiềm chế xu hướng thiên về giảm phát là điển hình của các ngân hàng trung ương độc lập, và trao tín nhiệm hơn nữa cho các nỗ lực của BOJ để thay đổi các kì vọng của những người tham gia thị trường.

Cho dù như vậy, nhưng thế kỉ 21 không phải những năm 1930. Liệu 'lời cam kết sẽ vô trách nhiệm' của BOJ có thành công trong bối cảnh tài chính đã phức tạp hơn nhiều? Người Nhật Bản thường bị buộc tội vì tiến hành chiến tranh tiền tệ, và các nhà đầu tư nước ngoài có thể được cảnh giác về sự xói mòn tính độc lập của ngân hàng trung ương, được cho là dẫn tới thâm hụt chi tiêu không bị hạn chế của Chính phủ.

Chúng ta đã từng ở trong hoàn cảnh này. Những lập luận tương tự cũng được các Thống đốc ngân hàng Trung ương trên thế giới trong những năm 1930 lên tiếng, và cuối cùng họ đã nhận ra là mình ở bên phía sai lầm của lịch sử (they ultimately found themselves on the wrong side of history).

Bloomberg

(Michael Schiltz là phó giáo sư tại Viện Nghiên cứu cao cấp về châu Á, Đại học Tokyo. Ông là tác giả cuốn 'Các chuyên gia quản lý tiền từ Nhật Bản: Tài chính, chủ nghĩa đế quốc và sự hình thành khối đồng yên, 1895 - 1937.' - "The Money Doctors From Japan: Finance, Imperialism, and the Building of the Yen Bloc, 1895-1937."


Di tích man rợ
Kết quả không ngờ từ cách tính GDP cổ điển
Ý tưởng tài tình của Benjamin Graham để tránh các cuộc Chiến tranh tiền tệ
Truyền thuyết về sư tổ Bồ Đề Đạt Ma
Búp bê truyền thống Nhật Bản

"Go to the Mat" nghĩa là gì?

2008 Senior Female Wrestling World Championships at 1st Yoyogi Gymnasium on October 13, 2008 in Tokyo, Japan. Photo courtesy Tsutomu Takasu.

Mat nghĩa là cái thảm, cái đệm hay cái chiếu. 'Go to the mat' xuất xứ từ giới đô vật, khi hai đối thủ vật nhau xuống tấm đệm để xem người nào sẽ thắng. Vì thế, go to the mat có nghĩa là làm mọi cách để giải quyết một vấn đề khó khăn, hay để thắng đối thủ, thường là nhằm giúp một người khác yếu kém hơn mình.

Ví dụ
“When I told my supervisor that I was going to be let go (sắp bị sa thải), he marched into (xông thẳng) the president’s office to defend (bênh vực) me. Apparently, he told him that the company couldn’t afford to lose one of its most valuable employees. If he hadn’t gone to the mat (hết lòng bênh vực) for me, I wouldn’t still be here.”

“What happens to the poor and sick who need to see a doctor? Fortunately, one of my favorite charities is going to the mat for these needy (túng thiếu) people. It’s a clinic (bệnh xá) that travels across the U.S. to provide thousands with free medical services. Because of its staff of volunteer health care professionals and donated supplies (dụng cụ y khoa cùng thuốc men được tặng không), there’s a little less suffering in the country (dân chúng bớt đau khổ một chút).”

VOA

Sunday, April 28, 2013

"The Real McCoy" nghĩa là gì?

Sarah Palin in the Wings. Photo courtesy DonkeyHotey.

McCoy là tên họ của một người. 'The real Mccoy' dùng để chỉ một người hay một vật thật, đúng, chứ không phải giả tạo. Có vài giả thuyết về nguồn gốc của thành ngữ này. Nó có thể dùng để quảng cáo một thứ rượu whisky, hay là tên một ông trùm buôn rượu lậu, hay một võ sĩ vô địch quyền Anh lấy tên là Kid McCoy vào khoảng năm 1900 để gạt bỏ những võ sĩ khác muốn bắt chước anh.

Ví dụ
“The engineers in Las Vegas have built some amazing reproductions, from the Eiffel Tower to some of New York’s famous skyscrapers. But I also love the casinos and the shows. The last time I was there I took in a concert featuring this guy who impersonated (giả) Elvis Presley, the King of Rock n’ Roll. He looked and sang so much like the American icon (y như thần tượng này); I thought I was watching the real McCoy (đang xem Elvis Presley thật sự).”

“In 2008, Governor Sarah Palin became the first woman to run for Vice President as part of a Republican ticket (trong liên danh đảng Cộng hòa). While many dismissed (coi thường) her candidacy, she drew huge crowds at campaign stops across the U.S. Supporters found her quite different from typical politicians. To them, she was the real McCoy, a genuine person that they could identify with (một con người thật mà họ có thể đồng cảm).”

VOA

Saturday, April 27, 2013

Bong bóng South Sea: Sự hình thành nền quân chủ hiện đại ở Vương quốc Anh


Bức họa 'Kế hoạch South Sea' của William Hogarth, năm 1721, mô tả các nạn nhân của vụ bong bóng công ty South Sea được cho đi một vòng quay ngựa gỗ (merry go-round). Nguồn: Kế hoạch South Sea, William Hogarth; được quét từ 'Thiên tài William Hogarth' hay 'Các tác phẩm tạo hình của Hogarth'

By Carolyn Harris / Sơn Phạm dịch

Vụ bong bóng năm 1720 đã sớm dẫn đến s sụp đổ thị trường chứng khoán đầu tiên của nước Anh. Vào tháng 8 năm đó, cổ phiếu của công ty South Sea lên tới mức đỉnh ở giá 1.000 bảng Anh và rớt xuống thê thảm ở mức giá 150 bảng Anh vào cuối tháng 9.

Cuộc khủng hoảng này đã làm sạt nghiệp hàng nghìn nhà đầu tư, trong đó có cả Sir Isaac Newton, người đã có câu nói nổi tiếng sau khi mất trắng 20.000 bảng Anh, 'Tôi có thể tính toán chính xác đường đi của các thiên thể nhưng không tính được sự điên rồ của con người.' Vụ sụp đổ này cũng vĩnh viễn thay đổi cấu trúc của chế độ quân chủ lập hiến, cho phép một Thủ tướng trở thành người đứng đầu Chính phủ trong khi các vị vua dần đảm nhiệm vai trò nghi lễ hơn của người đứng đầu Nhà nước.

Vị vua vào thời điểm đó, Vua George I, là người kế vị gây tranh cãi từ chị họ của mình, Nữ hoàng Anne. Ông thừa kế ngai vàng nước Anh và Scoland bởi đạo Luật Settlement năm 1701 đã loại bỏ 54 người thân gần gũi hơn của Nữ hoàng khỏi ngôi vị thừa kế do họ là người Công giáo La Mã. George I, hoàng tử bang Hanover của Đức, là người Tin lành.

Nhân tình của Vua
Tuy nhiên, những người Tin lành Vương quốc Anh không chấp nhận cuộc sống cá nhân của Vua. George I độc thân, đã li dị và bỏ tù vợ vì tội ngoại tình vào năm 1694. Khi ông lên ngôi vua năm 1714, ông đến London với em gái cùng cha khác mẹ* (ngoài giá thú) Sophia Charlotte von Platen, và người tình Melusine von der Schulenberg. Hai người phụ nữ này được các nhà trào phúng gọi là 'con voi' và 'cây nêu' vì ngoại hình của họ. George Frideric Handel đã sáng tác 'Nhạc nước' (Water Music) nổi tiếng để át đi tiếng của những người lái đò trên dòng sông Thames chỉ trích vua và nhân tình khi họ đi trên xà lan hoàng gia.

Sophia Charlotte và Melusine lo lắng về tình hình tài chính của mình. Giá cả ở London đắt hơn 4 lần so với ở Hanover trong khi hai người này mong muốn nuôi sống bản thân và những người lệ thuộc theo phong cách cung đình. Sophia Charlotte góa chồng, sống với 5 người con** bằng tiền lương hưu còm cõi. Cô tìm cách tăng thu nhập bằng các cách khác, kể cả mua vé số và nhận các khoản tiền hối lộ để được tiếp cận nhà vua. Melusine cũng thiếu tiền tương tự. Cô phải tự lực cánh sinh để nuôi 3 'cháu gái' của mình. Trên thực tế, đây là các con của cô với George I, người không bao giờ thừa nhận tư cách làm cha. Cô cũng hứa hẹn sẽ tác động đến vua để nhận tiền của mọi người.

Cuối cùng, những người cầu mong ân huệ gồm cả các đại diện của công ty South Sea, mới được thành lập năm 1711. Công ty mong muốn giữ lại độc quyền năm 1713 đối với thương mại tiềm năng của Vương quốc Anh với thuộc địa của Tây Ban Nha ở Nam Mỹ và thổi phồng giá cổ phiếu của nó. Sophia Charlotte và Melusine mỗi người nhận lượng cổ phiếu trị giá 15.000 bảng Anh trong công ty cùng với lời hứa sẽ được nhận thêm 120 bảng Anh cho mỗi một điểm tăng thêm của cổ phiếu trên mức 154 điểm. Hai 'cháu gái' của Melusine mỗi người nhận 5.000 bảng Anh cổ phiếu. Công ty South Sea giữ được độc quyền của mình và giá trị cổ phiếu tăng liên tục cho tới năm 1720.

Vào thời điểm vụ sụp đổ, bản thân George I được đồn đoán là đã nhận các khoản tiền từ công ty này. Ông trở thành thống đốc của công ty vào năm 1718 và đã đầu tư vốn của mình trong dự án cũng như thừa hưởng cổ phiếu của Nữ hoàng Anne. Ông cũng đã chịu thiệt hại tài chính cá nhân lớn.

Mức giá ưa thích
Melusine đang tháp tùng vua tới Hannover khi giá cổ phiếu của cô giảm vào tháng 9 năm 1720. Cô viết cho John Aislabie, Bộ trưởng Tài chính, 'nếu chúng tôi có mặt ở Anh, tôi và cháu gái hẳn đã bán những cổ phần này, khi chúng ở mức giá lợi thế như vậy, và tôi ước gì ông đã có lòng tốt bán giúp chúng tôi, hơn nữa khi ông đã đánh giá và thấy chúng (sic) không tăng mà còn giảm như vậy. Aislabie xét rằng ông đã không thể bán các cổ phiếu của Melusine ở mức giá ưa thích mà không làm mất uy tín nhà vua và vị trí của mình.

Trong cuộc điều tra sau vụ bong bóng công ty South Sea, các khoản tiền mà Sophia Charlotte và Melusine nhận đã được công bố rộng rãi. George I ngăn chặn việc dẫn độ Thủ quỹ công ty South Sea - Robert Knight, người đã trốn khỏi nước Anh vào tháng 1 năm 1721 sau khi bóng gió về các khoản hối lộ khổng lồ chi cho những người danh tiếng nhất trong triều đình. John Blunt, một trong những người sáng lập công ty, bị bắt và đã cung cấp danh sách các khoản hối lộ. Vào tháng Ba, Melusine và Sophia Charlotte đã bị kết tội nhận hối lộ trong cuộc tranh luận ở Thượng ngh viện.

Do các thành viên trong triều đình của mình dính líu đến vụ án, vua George I đã không thể nắm thẩm quyền giải quyết vụ việc một mình. Thay vào đó, Robert Walpole, Thủ tướng (First Lord of the Treasury) mới được lập, nắm quyền giải quyết. Tài sản của các giám đốc của công ty South Sea bị tịch thu và được phân phát cho những cổ đông bị phá sản, và cổ phiếu được chia giữa công ty Đông Ấn Độ và Ngân hàng Trung ương Anh. Walpole cũng tìm cách bảo vệ nhà vua, che chắn Melusine và Sophia Charlotte khỏi bị khởi tố.

Mặc dù Walpole không bao giờ chính thức nhận danh hiệu Thủ tướng trong cuộc đời mình, thẩm quyền của ông sau vụ bong bóng South Sea là chưa từng có tiền lệ và đã thiết lập phong cách (set the tone) nền quân chủ lập hiến tương lai. Các vị vua vẫn giữ một số kiểm soát đối với các vấn đề đối ngoại nhưng Thủ tướng sẽ đảm nhận vai trò người đứng đầu Chính phủ đối với các lĩnh vực trong nước như là 'bầy tôi trung thành của nhà Vua' (the King's Servant). Walpole chỉ đạo công việc quốc gia trong Thượng nghị viện và thống nhất Nội các như một cơ quan điều hành. Ảnh hưởng trực tiếp của nhà vua lên các Thủ tướng sau này thay đổi trong suốt thế kỉ 18 và thế kỉ 19, nhưng ví dụ của Walpole đã thiết lập phong cách cho văn phòng (Thủ tướng).

(Carolyn Harris là giảng viên lịch sử tại School of Continuing Studies, Đại học Toronto và là một blogger về lịch sử hoàng gia ở trang www.royalhistorian.com.)

Bloomberg

* cùng là con của Ernest Augustus, Elector of Hanover.
** 3 trai, 2 gái với chồng là Johann Adolf, Baron von Kielmansegg (1668–1717), Deputy Master of the Horse (Bật Mã Ôn) của George Louis.


"It's in her genes" nghĩa là gì?

DNA Origami. Photo courtesy dullhunk.

Bạn nói 'it's in someone's genes' (sẵn trong gene) khi người đó có những đặc tính cá nhân giống với bố mẹ họ, hoặc làm một công việc tương tự (giống 'ngấm vào máu').

Ví dụ
I love motor racing. The love of speed is in my genes. My father was an ambulance driver.
Ann is very ambitious. She can't help it, it's in her genes. Her parents arrived in this country penniless and now are big industrialists.

Xin lưu ý
Từ 'genealogy' (khoa phả hệ) có nghĩa là việc nghiên cứu lịch sử các thành viên trong một gia đình, dòng họ.

I became interested in genealogy after my mother told me that her grandfather was a pirate.

Thực tế thú vị:
Các nhà khoa học trường đại học Cambridge - James Watson và Francis Crick đã công bố một bài nghiên cứu mô tả cấu trúc xoắn kép (double helix) của DNA vào năm 1953. Khám phá này mở ra một số công nghệ mạnh mẽ nhưng cũng gây tranh cãi ngày nay, bao gồm kỹ thuật di truyền (genetic engineering), nghiên cứu tế bào gốc (stem cell research) và phân tích (fingerprinting) DNA.

BBC

Friday, April 26, 2013

"Method to my madness" nghĩa là gì?

Beautiful Plummage. Photo courtesy ozz13x via Getty Images.

Method có nghĩa là phương pháp và madness nghĩa là điên rồ. Thành ngữ này có nghĩa là có một mục tiêu thầm kín nào đó trong hành vi điên rồ của một người.

“My colleagues assumed (cho rằng) I’d gone crazy when I threatened to resign my position as assistant sales manager (phụ tá quản lý ban tiêu thụ sản phẩm). What none of them suspected was that I wanted the boss to give me a promotion. And it worked (Và tôi đã thành công). Within a few weeks I was running the department. See, there was a method to my madness! (Các bạn thấy không? Tôi có một mục tiêu kín đáo trong hành vi bị coi là điên rồ của mình.)”

“Talk about strange! I was watching this nature documentary which featured a rarely seen bird. At one point, it extended its wings to exhibit exotic plumage (bộ lông đẹp kỳ lạ) and began strutting (nhảy nhót khệnh khạng) around the jungle floor. It turned out there was a method to its madness (có một mục đích kín đáo trong hành vi kỳ lạ của nó). It was part of an elaborate courtship ritual (cách tán tỉnh cầu kỳ), trying to attract a mate.”

VOA

Nothing is a waste of time

Non Existence. Photo courtesy mindfulness.

"Nothing is a waste of time if you use the experience wisely."
~Rodin

Previous post: Life has no meaning

Thursday, April 25, 2013

"Millstone around his neck" nghĩa là gì?

Couch Potatoes. Photo courtesy phunkstarr via Getty Images

Millstone có nghĩa là đá cối xay. 'Millstone around one’s neck' có nghĩa là gông cùm đeo vào cổ, hay gánh vác trách nhiệm nặng nề.

Ví dụ
“After years of study, my brother finally earned his law degree and landed (kiếm được) a position at a good firm. The problem is he’s always working late and on weekends, and doesn’t have enough time to spend with his family. And because of the debt he incurred to pay for school, he can’t afford to leave his job. It’s a millstone around his neck (Đây quả là một cái cùm anh đeo vào cổ).”

“My husband and I were happy to host his nephew while he was looking for a job. But now it’s been weeks since he arrived. We’d probably be more understanding (Có lẽ chúng tôi sẽ thông cảm hơn) if he offered to help out around the house instead of watching T.V. all the time. Frankly, he’s become a millstone (gánh nặng) around our necks. We can’t endure him much longer.”

VOA

Wednesday, April 24, 2013

"Bear in mind" nghĩa là gì?

Một phóng viên phỏng vấn Polar Bear trong chiến dịch "Canadians for Kyoto" ngày 11/3/2007. Photo courtesy ItzaFineDay.

Cụm từ 'to bear in mind something' có nghĩa là suy nghĩ, xem xét, trăn trở về điều gì.

Ví dụ
Before splashing cash on a new dress for the Summer, bear in mind that you've got a temporary job. Be careful with your money.

Xin lưu ý
Bạn có thể nói 'bear with me' nếu bạn muốn ai đó kiên nhẫn và chờ đợi trong khi bạn đang làm việc gì khác.

Bear with me. I'm on the phone right now and I will be with you shortly.
If you could just bear with me for a moment I will find the address of my dentist to give you. I am sure I wrote it somewhere in my diary.

Thực tế thú vị:
Sử dụng khứu giác phi thường để theo dõi con mồi, gấu Bắc Cực trưởng thành dành phần lớn thời gian sống một mình, lang thàng hàng dặm trên băng lạnh để tìm kiếm các con mồi nhiều mỡ (blubber) như hải cẩu (seal), hải mã (walrus) và thậm chí cả cá voi. Chúng cũng bơi rất giỏi.

BBC

Bức tượng Đại Phật ở Gifu, Nhật Bản

Kể từ tuần đầu tháng 4, Nhật Bản đã bắt đầu kỉ niệm Lễ Phật đản. Hôm nay, langdu muốn chia sẻ với các bạn về bức tượng Phật độc đáo ở Gifu.

Tượng có chiều cao 13,7 mét, ở Shoho-ji, thành phố Gifu, tỉnh Gifu, Nhật Bản. Bức tượng được ấp ủ bởi vị sư trưởng thứ 11 của chùa Kinpouzan Shoho, tên là Ichyuu, vào khoảng năm 1790, với hy vọng ngăn ngừa động đất lớn và nạn đói. Sư Ichyuu qua đời vào năm 1815 trước khi tượng được hoàn thành, nhưng người kế nhiệm ông, sư Kohshuu đã hoàn thành bức tượng vào tháng 4 năm 1832, sau 38 năm xây dựng. Đây là một trong ba bức tượng chân dung Đức Phật vĩ đại ở Nhật Bản.

Tượng Đại Phật Gifu độc đáo do phương pháp làm nên tượng. Đầu tiên, một cột trụ trung tâm đường kính 1,8 mét được hình thành từ gỗ cây ginkgo bibola (maidenhair tree - đuôi chồn). Hình dáng của tượng sau đó được hình thành bằng lưới tre. Tre được phủ bằng đất sét và nhiều kinh sách Phật giáo sau đó được đặt lên đất sét để tạo hình. Cuối cùng, những kinh sách này được bao phủ bằng lá sơn mài và vàng lá, tạo nên hình dáng và vẻ ngoài của bức tượng như ngày nay.
Shouhou-ji Daibutsu, Gifu. Photo courtesy Douggers.

Nếu bạn muốn đến chùa, từ ga JR Gifu (bến xe buýt số 11) hoặc ga Meitetsu Gifu (bến xe buýt số 4), lên bất kì xe nào để đến Nagara. Xuống xe tại 'Gifu Koen, Rekishi Hakubutsukan-mae,' cách ga khoảng 15 phút.


"At All Costs" nghĩa là gì?

Điều quan trọng là thi đấu như thế nào. Photo courtesy Elvert Barnes via Getty Images.

Cost có nghĩa là giá cả, phí tổn. Thành ngữ 'at all cost', còn có thể viết số nhiều là at all costs, nghĩa là bằng bất cứ giá nào.

Ví dụ
“High school coaches (huấn luyện viên) used to say that it wasn’t whether you won or lost but how you played the game (điều quan trọng là thi đấu như thế nào). Today, many of them push their athletes to win at all cost (bằng mọi giá). But doing everything necessary to succeed teaches children the wrong lesson (bài học sai lầm). What they learn on the field has consequences (hậu quả) later in life.”

“Look in my collection and I have a Christmas card from almost every president in U.S. history. One exception is the 1963 greeting from the Kennedys. After the tragedy (thảm kịch) of JFK’s assassination, however, no cards were sent. I’m willing to pay whatever amount to obtain one of only 30 that had been signed. I really want that at all cost ( bằng bất cứ giá nào).”

VOA

Life has no meaning

Photo credit Time 4 Learning. Hat tip: Quan Nguyen.

“Life has no meaning. Each of us has meaning and we bring it to life. It is a waste to be asking the question when you are the answer.”
~ Joseph Campbell


Previous post: Mỗi ngày là một chuyến đi

Create Meaning By Helping Others
Transform_Jul 22
Transform_Sep 25
Tranform_Oct 4

Tuesday, April 23, 2013

Thăm lâu đài Tsuruga ở Nhật Bản

Lâu đài Aizu-Wakamatsu (会 津 若 松 城, Aizu-Wakamatsu-jo), còn được gọi là lâu đài Tsuruga (鶴 ヶ 城 Tsuru-ga-jo) là bản sao bê tông của một lâu đài truyền thống ở phía bắc Nhật Bản, tại trung tâm của thành phố Aizu-wakamatsu, ở tỉnh Fukushima.

Lâu đài được xây dựng bởi Ashina Naomori vào năm 1384, ban đầu được đặt tên là lâu đài Kurokawa (黒 川 城, Kurokawa-jo). Đây là trung tâm quân sự và hành chính của khu vực Aizu cho tới năm 1868. Date Masamune, lãnh chúa vĩ đại nhất của khu vực Tohoku, đã chiến đấu chống lại gia tộc Ashina trong nhiều năm, và cuối cùng đã chiếm được lâu đài vào năm 1589 trong trận bao vây thành Kurokawa. Nhưng, ngay sau đó, ông đã dâng cho Toyotomi Hideyoshi và từ bỏ lâu đài vào năm 1590.

Năm 1592, lãnh chúa mới tên là Gamo Ujisato đã thiết kế lại lâu đài và đặt tên là Tsuruga Castle, mặc dù dân chúng vẫn gọi nó là lâu đài Aizu hay lâu đài Wakamatsu.

Trong thời kỳ Edo, lâu đài là nơi ở của các lãnh chúa của Aizu Han. Người sáng lập là Hoshina Masayuki, con trai của tướng quân Tokugawa Hidetada và cháu nội của Ieyasu. Ông và những người kế nhiệm ông mang tên Matsudaira. Lâu đài này là một thành trì Tokugawa quan trọng trong khu vực Tohoku của Honshu.

Lâu đài bị bao vây trong trận Aizu bởi các lực lượng của quân đội Đế quốc mới được thành lập vào năm 1868 trong Chiến tranh Boshin. Sau một tháng bị cô lập, Matsudaira Katamori đầu hàng. Các tòa trong lâu đài, lỗ chỗ (pockmarked) bởi đạn pháo trong cuộc bao vây và cấu trúc không còn ổn định, đã bị phá hủy bởi chính phủ mới trong năm 1874.

Tenshu, tháp lớn nhất của lâu đài, được xây dựng lại vào năm 1965 bằng bê tông. Hiện nay có một bảo tàng bên trong, và một tòa quan sát trên đỉnh để du khách có thể nhìn toàn cảnh thành phố.
Photo courtesy George Olcott via Getty Images.

Nếu bạn để ý ở góc trái bên dưới bức ảnh, ngay lối vào thành, là linh vật tên là Oshirobo-kun, được tạo ra bởi Hiroshi Sasagawa, một họa sĩ truyện tranh (mangaka) sinh trưởng ở đây và nổi tiếng với tập truyện tranh 'Time Bokan'.

Sơn Phạm (Wikipedia English)


Popular Now