Journey in Life: July 2013

Wednesday, July 31, 2013

Bạo lực thanh trừng cờ bạc báo hiệu khủng hoảng 1837

Chú Sam bị ốm vì cúm (la grippe). Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ), Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

By Joshua Rothman / Phương Thùy dịch, Sơn Phạm (hiệu đính)

Cuộc khủng hoảng tài chính 2008 đến nay vẫn được coi là kết cục của một nền kinh tế với những dấu hiệu vỡ vụn khi các động cơ và lợi nhuận giống như một sòng bạc không bao giờ dứt (freewheeling) hơn là một thị trường có lý trí.

Các ngân hàng, cơ quan chính phủ và người tiêu dùng khi vô tình, khi cố ý nhưng thường do thiển cận, đã cùng hợp sức tạo ra môi trường kinh tế mà ở đó hoạt động đầu cơ không bị kiểm soát (untrammeled), tín dụng không được bảo lãnh và núi nợ vay một cách xuẩn ngốc dẫn đến sự phồn vinh giả tạo trong khi che dấu nguy cơ thảm họa không thể tránh khỏi.

Trong quá khứ, nước Mỹ đã từng rơi vào tình trạng tương tự. Giai đoạn giữa thập niên 30 của thế kỷ thứ 19 là một thời kỳ như vậy khi đầu cơ đất đai và tín dụng dễ dãi đã xóa nhòa (blur) ranh giới giữa con đường làm giàu (pursuits of wealth) hợp pháp và bất hợp pháp.

Không nơi nào trên nước Mỹ lại lún sâu vào hoạt động đầu cơ này như ở Deep South, nơi những thổ dân da đỏ bị buộc phải di cư, để lại vùng đất đai rộng lớn (vast swaths), phì nhiêu và lý tưởng cho canh tác bông. Bông do nô lệ canh tác chính là nguyên liệu thô thúc đẩy cuộc Cách mạng công nghiệp thời kỳ đầu. Giá bông trên thị trường, dường như không bị ảnh hưởng bởi nguồn cung, tăng liên tục và trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước Mỹ và có lẽ là hàng hóa quan trọng nhất trên thế giới.

Dòng thác tín dụng
Nơi bông được trồng cũng là nơi người dân và dòng tiền đổ về. Khi ngân hàng và các nhà đầu tư đổ hàng triệu đô la vào khu vực tây nam Mỹ lúc bấy giờ, hầu như ai cũng có thể tiếp cận với tín dụng. Trong thời gian ngắn, các bang như Alabama và Mississippi trở thành những vùng kinh tế sôi động nhất nước Mỹ, nơi giấc mơ kiếm tiền dễ dàng trở thành hiện thực.

Tuy nhiên, ngay cả những người thấy thỏa mãn khi được yên vị trong môi trường năng động của chủ nghĩa tư bản Mỹ cũng cảm thấy hoài nghi về nền tảng cũng như giá trị đạo đức của những gì đang xảy ra. Tin đồn về các sai phạm (malfeasance) tài chính và tham nhũng đã lan truyền khắp các ngân hàng phía tây nam, còn những kẻ lừa đảo (swindler) và luật sư bịp bợm (fast-talking) lợi dụng những người thiếu cảnh giác. Chủ nghĩa cá nhân dần biến thành lòng tham không đáy (rapacious) và việc ‘mượn đầu heo nấu cháo’ nhằm lên đỉnh danh vọng, không phải tạo ra của cải cho xã hội mà như đánh bạc vậy.

Trong một lần phát biểu, nhà kinh tế chính trị Thomas Dew đã than phiền (bewail) ‘cơn nghiện đỏ đen hoang phí bạt mạng’ đang ‘lan rộng khắp cả nước’.

Mùa hè năm 1835, mâu thuẫn (ambivalence) về tính chính đáng của “khát vọng làm giàu” (avarice) này và nỗi lo về sự bền vững của nền kinh tế đã bùng phát thành bạo lực. Tại thành phố giàu có Vicksburg, bang Mississippi, xích mích (confrontation) trong một bữa tiệc đứng mừng ngày Độc lập - 4 tháng Bảy, kết thúc với việc đám đông cố gắng thanh trừng (purge) những con bạc chuyên nghiệp trong thành phố và cuối cùng đã hành hình kiểu Lynch năm con bạc giữa thanh thiên bạch nhật. Bốn người trong số họ bị trói bằng dây thừng và bị lôi đến địa điểm hành hình (scaffold) rồi bị treo cổ, mặc cho lời van xin của họ mong được xét xử tại tòa. Người thứ năm bị đám đông đánh trọng thương và bị xử tử trước khi kịp tỉnh lại. Thân thể ngập ngụa trong máu, đám đông vứt anh ta lên xe ngựa (wagon) và chở đến giá treo cổ (gallow), kéo lê lên cầu thang, buộc thòng lọng (noose) vào cổ và đẩy xuống.

Trong suốt nhiều tuần, nhiều tháng sau đó, những người bị coi là con bạc chuyên nghiệp bị đe dọa bằng bạo lực và bị đuổi đánh trên tất cả các thị trấn, thành phố lớn của bang Mississippi cũng như khu vực sông Mississippi và Ohio. Tại New Orleans và Mobile bang Alabama, Little Rock bang Arkansas, St. Louis bang Missouri, Memphis và Nashville bang Tennessee, Lexington và Louisville, Cincinnati và Wheeling phía Tây bang Virginia, người dân đe dọa các con bạc phải ra khỏi thành phố, tấn công, bắt và bỏ tù họ, phá hủy các thiết bị, đồng thời triệu tập những cuộc mít tinh công cộng để thành lập nên các tổ chức chống cờ bạc.

Những con bạc bị trục xuất
Đến mùa thu, sự khủng bố này còn lan sang cả bờ phía Đông (Eastern Seaboard) khi chính quyền New York, Norfolk, Virginia đột kích các sòng bạc, tấn công con bạc và sợ rằng những đám đông đang tụ tập sẽ giành quyền “thực thi công lý” theo cách của họ.

Giải thích những gì đang xảy ra tại Vickburg, chủ bút một tờ báo tại thị trấn này cho rằng các con bạc chuyên nghiệp là những kẻ tội phạm nghiện rượu đê tiện (wretch), lừa tiền các thanh niên trẻ tuổi, nhẹ dạ rồi bỏ đi sau khi đã lừa được tất cả những ai chúng có thể. Cách duy nhất để bảo tồn chuẩn mực và bảo vệ cuộc sống thanh bình của người dân là loại bỏ những phần tử này khỏi xã hội.

Ngay cả khi chủ bút của các tờ báo khác chỉ trích bạo lực xảy ra ở Vicksburg, nhiều người trong số họ cũng đồng tình với lời nhận xét trên, và nhắc đến những con bạc này như là “ma cà rồng” (vampire), “đỉa hút máu” (blood-sucker) và “kền kền ăn xác chết” (vulture).

Tuy nhiên, những con bạc chỉ có đất sống khi có “con mồi”, và sự thù địch đối với họ và “nghề” đánh bạc trong những năm 1830 đã không hề giúp phân định rõ ranh giới hợp pháp hay bất hợp pháp của những “nỗ lực kiếm tiền” loại này, mà trái lại chỉ cho thấy việc nhận thức được ranh giới này mong manh như thế nào.

Vào thời điểm khi những ‘lợi nhuận’ tiềm tàng của nền kinh tế đầu cơ đẩy nhiều người Mỹ vào cảnh cùng quẫn (distraction) thì những người “thành công” chỉ nhờ vào việc tính tỉ lệ ăn thua (figuring the odds) và đánh cược tương lai sẽ thuận buồm xuôi gió cho riêng mình đã dẫn đến tình trạng hoang tàng trên đất nước theo cách đặc biệt phá hoại.

Dầu vậy, cuối cùng thì việc loại bỏ tất cả các con bạc chuyên nghiệp trên đất Mỹ vẫn không thể ngăn được sụp đổ kinh tế. Giai đoạn từ mùa hè năm 1836 đến mùa xuân năm 1837, mối nghi ngại của các nhà đầu tư và chủ nợ nước ngoài về sức khỏe nền kinh tế Mỹ đã ngày càng tăng cùng với sự đi xuống của giá bông.

Tháng 5 năm 1837, việc ngừng thanh toán của hai ngân hàng hàng đầu tại Natchez, bang Mississippi đã gây ra (touch off) hàng loạt (cascade) vụ ngừng thanh toán của hầu hết các ngân hàng trên cả nước chỉ trong vài tuần. Cuộc khủng hoảng sau đó kéo dài 6 năm, khiến hàng nghìn người bị vỡ nợ và để lại bài học (mà vẫn bị lãng quên) đó là: trong canh bạc, nhà cái luôn nắm phần thắng.

(Joshua Rothman là giáo sư lịch sử, giám đốc Trung tâm nghiên cứu miền Nam Summersell tại Đại học Alabama, và là tác giả cuốn ‘Thời kỳ hoan ca và những giấc mơ bồn chồn - Câu chuyện về Chủ nghĩa tư bản và chiếm hữu nô lệ trong thời đại Jackson’ - ‘Flush Times and Fever Dreams: A Story of Capitalism and Slavery in the Age of Jackson.’)

Bloomberg


"Come out in the wash" nghĩa là gì?

Thức ăn và chỗ ở đã được giải quyết vào thời điểm chúng tôi lên đường. Photo courtesy Gabriel Amadeus.

'Come out in the wash' (shared via VOA) có một từ mới là wash, nghĩa là giặt rũ. Thành ngữ này dùng để chỉ một vấn đề được giải quyết xong sau một cuộc nghiên cứu hay điều tra (sớm muộn rồi cũng ra ánh sáng).

Ví dụ
My buddies (bạn thân) and I are organizing a biking trip across the country. We haven't mapped out (vẽ ra) the entire route or arranged for our food or lodging (chỗ ở). But I think there's plenty of time to work out the details (hoạch định các chi tiết). It'll all come out in the wash (giải quyết xong) by the time we leave.

The governor claims that he resigned because of a health crisis (lí do sức khỏe). So far (cho đến nay) he's refused (từ chối) to answer reporters' questions. Perhaps he's afraid of what might come out in the wash (bị tiết lộ sau cuộc điều tra). Maybe they'll find out that he's trying to cover up (che dấu) what could become a political scandal (tai tiếng chính trị)!

You know the old saying, “don’t worry about it, it will all come out in the wash,” well the head of LG’s Home Appliance and Air Solution Company, Jo Seong-jin, is hoping those words come true as his ‘dirty laundry’ is aired in the courtroom.

Norse's Stammberger doesn't dismiss (gạt bỏ) the possibility of multiple attacks on Sony by different groups, either: "It may come out in the wash that the big exfiltration attack is actually a series of two or three different attacks or two or three different groups who came together and shared a common cause."

Tuesday, July 30, 2013

Đạo tặc và cuộc đấu tranh cho tự do thương mại

Biểu ngữ và áp phích chính trị năm 1857. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ), Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

By Jean-Philippe Vergne / Phương Thùy dịch, Sơn Phạm (hiệu đính)

Kim Dotcom, nhà sáng lập dịch vụ lưu trữ đám mây Megaupload.com, mới đây đã có một phát biểu gây kinh ngạc trên tạp chí the Guardian: ‘Tôi tôn trọng bản quyền. Nhưng điều khiến tôi không tôn trọng đó là chủ nghĩa bản quyền cực đoan và mô hình kinh doanh khuyến khích đạo tặc’.

Trước khi nghi ngờ sự thành thật (disingenuous) trong các bình luận này của Kim, chúng ta nên nhớ đến việc đạo tặc từ lâu luôn là những người ủng hộ trung thành cho thị trường tự do, chống độc quyền và các rào cản thương mại khác.

Thật vậy, sự nổi dậy của cướp biển trùng với cuộc cách mạng trong thương mại quốc tế. Năm 1498, Vasco da Gama giong buồm từ Bồ Đào Nha vòng qua Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope) và mở ra tuyến đường đến phía đông Tiểu lục địa Ấn Độ (East Indies). Trong khoảng thời gian 15 năm sau đó, Bồ Đào Nha đã cử nhiều hạm đội (armanda) đến Đông Ấn nhằm loại bỏ cạnh tranh từ phía các thương nhân Hồi Giáo.

Sự kiện này đánh dấu việc ra đời một hình thức tổ chức kinh tế mới. Đó là độc quyền thương mại ở các nước Châu Âu. Đế chế Bồ Đào Nha lúc bấy giờ muốn tận dụng (capitalize) các cơ hội giao thương mới mà chuyến đi của Vasco da Gama mang lại, và để đạt mục tiêu này, Hoàng gia đã cho phép tổ chức thương mại Carreira da India độc quyền nhập khẩu các loại gia vị vào Châu Âu.

Độc quyền nhà nước
Đầu thế kỷ 17, nhiều cường quốc Châu Âu khác cũng gia nhập cuộc đua thành lập các công ty độc quyền với sự hậu thuẫn của các công ty từ Ấn Độ. Năm 1602, cộng hòa Hà Lan (United Provinces) cho phép công ty Dutch East India độc quyền thương mại phía Đông Mũi Hảo Vọng trong vòng 21 năm.

Hành động này đã dẫn đến sự phá sản của nhiều công ty thương mại lâu đời và làm dấy lên hai hình thức tự vệ: một vài công ty chống lại các công ty độc quyền bằng cách hình thành tuyến đường thương mại trái phép song song; trong khi đó, các công ty khác dùng vũ lực để chiếm lại những khu do công ty độc quyền kiểm soát.

Các quốc gia coi cả hai hình thức này đều là đạo tặc. Chẳng hạn, các tổ chức đạo tặc hoạt động vào cuối thế kỷ 17, đầu 18 đã bán nô lệ cho đảo Manhattan, phá hoại hoạt động kinh doanh của công ty Royal African - nhà độc quyền trong lĩnh vực này. Nhà sử học Marcus Rediker ước tính, vào đầu thế kỷ 18, các cuộc tấn công liên miên (incessant) của đạo tặc đã khiến Đế chế Anh rơi vào khủng hoảng và đe dọa tới sự ổn định của thương mại quốc tế.

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, những tên cướp biển này không hề có động cơ cao cả về ủng hộ thị trường tự do. Mà, thật ra, họ là những nhà buôn độc lập, bị buộc trở thành những kẻ sống ngoài vòng pháp luật do các hoạt động độc quyền ở các nước Châu Âu gây ra. Và nhiều người không còn cách nào khác phải dùng đến bạo lực để đòi lại quyền giao thương.

Trong luận thuyết (treatise) “Biển tự do” của mình, học giả Hugo Grotius ở thế kỷ 17 đã viết biển và hàng hải là “tự do” vì biển là của chung, không thuộc sở hữu của riêng ai. Tuy nhiên, các vương quốc bán đảo Iberia và Đế chế Anh tuyên bố phần vùng biển gắn liền với lãnh thổ của họ phải được coi là thuộc về (appropriate) họ một cách hợp pháp.

Quan điểm của Grotius cuối cùng đã chiến thắng. Tự do trên đại dương – giờ đây chiếm hơn 50% diệc tích biển trên bề mặt Trái Đất – đã đạt được thông qua một loạt hiệp ước, bắt đầu từ Tuyên ngôn Paris năm 1856, tuyên ngôn bãi bỏ cướp biển (privateering*). Nhà sử học Anne Perotin-Dumon diễn giải, để xóa bỏ cướp biển thì ‘độc quyền thương mại cũng phải được chấm dứt cùng lúc’.

Trên nhiều khía cạnh, âm hưởng cuộc chiến giành tự do trên đại dương giữa thế kỷ 19 lại được vang vọng trong cuộc tranh luận về tự do sóng radio (airwaves) đầu thế kỷ 20.

Đặc quyền BBC
Vào thập niên 1920, Chính phủ Anh đã trao độc quyền cho Tập đoàn phát thanh truyền hình vương quốc Anh (BBC - British Broadcasting Corporation) giống như đã từng trao cho Công ty Đông Ấn hơn 300 năm trước. Điều này cho phép chính phủ khai thác sóng radio và ngăn cản phát thanh tự do.

Tuy nhiên, ngay sau đó, Leonard Plugge đã thành lập công ty International Broadcasting Co. và mua lại thời gian phát sóng từ các trạm radio bất hợp pháp ngoài vùng lãnh hải (Anh). Plugge không chấp nhận sự độc quyền của BBC và nguyên lý cơ bản về việc chủ quyền nước Anh vươn tới cả sóng radio. Ông, hiển nhiên, cũng bị coi là đạo tặc.

Bị áp lực dồn dập bởi hiện tượng này, chính phủ Anh đã chấm dứt độc quyền của BBC vào năm 1967, cho phép phát thanh và sóng radio tự do. Nhà sử học Adrian Johns viết ‘Vào năm 1967, BBC chỉ là một trong nhiều công ty truyền thanh khác nhau. Điều trớ trêu là, chính vào lúc này, công ty mới có được tiếng nói phê phán và hoài nghi mà trước nay chưa từng có’.

Tương tự như vậy, khi công nghệ truyền thông được cải thiện, các công ty có vị trí thống lĩnh như AT&T Inc. ngày càng quan tâm tới việc mở rộng kiểm soát không gian mạng. Nhiều người coi AT&T là công ty độc quyền kiểm soát đầu tiên trong lịch sử không gian mạng, và vào khoảng năm 1970, nó đã trở thành mục tiêu ưa thích của ‘đạo tặc’ (phone phreak), những người chuyên hack các cuộc điện thoại một cách bất hợp pháp (để không phải trả cước phí viễn thông).

Lịch sử gắn kết lẫn nhau này giữa chủ nghĩa tư bản và đạo tặc cho ta một góc nhìn khác về những căng thẳng kinh tế ngày nay đang xoay quanh các quy định về Internet. Rất nhiều đạo tặc thời nay phản đối độc quyền dưới mọi hình thức, từ địa vị thống trị (dominant) trong các ngành kinh tế mới nổi như tối ưu hóa tìm kiếm trực tuyến (online search optimization) đến chủ nghĩa bản quyền cực đoan trong lĩnh vực văn hóa và truyền thông.

Các nhà hoạt động đồng tình với các tổ chức như Wikileaks và Anonymous đang kêu gọi một không gian mạng Internet mở và tự do (cho tất cả mọi người), xuất phát từ tiền đề (premise) ‘thông tin muốn được tự do’ (information wants to be free).

Bằng việc thách thức (defy) các quy tắc, luật lệ trong nhiều lĩnh vực, đạo tặc đã chứng tỏ vai trò chủ chốt của họ trong sự phát triển của xã hội tư bản.

Tuy nhiên, thành công đôi khi lại biến một công ty từng là đạo tặc trở thành ‘kẻ thống trị’. Một đạo tặc điện thoại, khi còn là thiếu niên, từng coi khinh hành động độc quyền của AT&T, thì 30 năm sau, đã có một tuyên bố nổi tiếng về việc bảo vệ phần mềm độc quyền của mình và sẽ thực hiện cuộc ‘chiến tranh hạt nhân’ (thermonuclear war) để hủy diệt mã nguồn mở Android. Đạo tặc này, không ai khác, chính là Steve Jobs.

(Jean-Philippe Vergne là giáo sư dự khuyết về chiến lược tại Trường kinh doanh Ivey thuộc Đại học Western, Canada. Bài viết này là trích đoạn trong cuốn sách của ông, đồng tác giả với R. Durand, ‘Tổ chức đạo tặc: Bài học từ những kẻ bên lề của chủ nghĩa tư bản’ - ‘The Pirate Organization: Lessons from the Fringes of Capitalism’)

Bloomberg



* sự truy bắt bằng tàu lùng (tàu của tư nhân được Chính phủ giao nhiệm vụ chuyên đi bắt tàu buôn địch).

"Blow hot and cold" nghĩa là gì?

Chúng mình cứ mãi hẹn hò nhé! Photo courtesy Nishanth Jois.

'Blow hot and cold' có nghĩa là khi nóng khi lạnh, tức là thay đổi ý kiến về một đề tài, dự án, hay một người.

Ví dụ
While a lot of my friends are getting married, I don't know if I will be. You see, one minute my boyfriend talks about wedding plans, then the next he says it's better if we keep dating (tiếp tục hẹn hò). The way he blows hot and cold (thay đổi ý kiến) really has me confused (hoang mang).

First, we got an e-mail about possible layoffs (sa thải) in our department. Then came the announcement (loan báo) that the company was doing fine and jobs were safe. Now there's word that the boss is reconsidering (suy tính lại) letting some of us go (cho vài người nghỉ việc). He's blown hot and cold for too long. A final decision has got to be made!

Minh Phượng
VOA


Monday, July 29, 2013

Xôn xao tưởng lầm chim là...gián điệp

Các cư dân của ngôi làng Altınavya, tỉnh Elazığ nghi ngờ chú chim cắt (kestrel) nhỏ không chỉ bị mất phương hướng đơn thuần mà có thể là phương tiện do thám hiện đại của Do Thái khi họ thấy chú chim này đeo một vòng kim loại với dòng chữ "24311 Tel Avivunia Israel,", và đã giao nó cho chính quyền huyện.

Cơ quan này đã gửi chú chim đi kiểm tra sức khỏe cẩn thận để xem nó có mang vi mạch điện tử không. Kiểm tra X-quang đã được thực hiện tại Đại học Fırat ở Elazığ và kết quả 'chú chim chỉ là động vật hoang dã ở Israel'.  

Gắn thẻ cho chim là thông lệ phổ biến trong điểu cầm học (ornithology) vì nó giúp các nhà khoa học theo dõi lộ trình chim di cư.  

'Sau khi kiểm tra, các nhà chức trách quyết định không khởi tố chính thức và chú chim bị buộc tội đã được cho tự do bay đi,' :D

Sơn Phạm
ynetnews


"Case in point" nghĩa là gì?

Chú tôi là triệu phú nhưng là một điển hình sống rất giản dị. Photo courtesy: Aaron Friedman.

Case nghĩa là trường hợp, hoàn cảnh. Người Mỹ dùng 'case in point' (shared via VOA) để chỉ một thí dụ hay trường hợp rõ rệt để chứng minh một điều gì.

Ví dụ
“People assume that the super wealthy live extravagant (xa hoa phung phí) lifestyles (nếp sống). But you can find exceptions (ngoại lệ). My uncle is a case in point (một thí dụ cụ thể). He’s worth several million dollars. Still, he drives the same used car he’s had for years, rents a modest (giản dị) apartment, and donates most of his money to charity. He’s also an example (tiêu biểu) of someone who enjoys life.”

“It’s true. I’m no fan of technology. Not only do I avoid computers and personal communication devices (dụng cụ), but so do the characters (nhân vật) in the short stories I write. My latest best-seller (bán chạy nhất) represents a case in point. There are no references (không đề cập đến) to e-mails, the Internet or cellphones. How’s that for an example of what I believe?”

Sunday, July 28, 2013

Ủng hộ tăng thuế ở Mỹ: Lịch sử đổi thay

Các nhóm ủng hộ kinh doanh từng ủng hộ những chính sách vì lợi ích chung – ví dụ như... tăng thuế. Nguồn: Thư viện Quốc Hội (Mỹ), Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

By Mark S. Mizruchi / Phương Thùy dịch, Sơn Phạm (hiệu đính)

Trong các cuộc tranh luận gần đây tại Washington về đề xuất tăng thuế, lãnh đạo các công ty Mỹ luôn đứng về phe phản đối.

Tuy nhiên, không phải lúc nào các tập đoàn lớn của Mỹ cũng phản đối chính sách tăng thuế. Trên thực tế, từ nhiều thập kỷ trước, và gần đây nhất là năm 1989, các tập đoàn lớn đã thường xuyên kêu gọi tăng thuế, kể cả khi gánh nặng thuế đó đánh vào chính các công ty họ, để cân bằng ngân sách.

Các tổ chức như Ủy ban Phát triền Kinh tế (Committee for Economic Development), Hiệp hội Bàn tròn Doanh nghiệp (Business Roundtable) hay ngay cả các tổ chức bảo thủ như Hiệp hội quốc gia các nhà sản xuất (National Association of Manufacturers) và Phòng Thương mại Mỹ (U.S. Chamber of Commerce) đã nhiều lần kêu gọi tăng thuế cả khi Đảng Cộng Hòa hay Đảng Dân chủ cầm quyền.

Năm 1950, ngay sau khi Mỹ tham chiến tại bán đảo Triều Tiên, Ủy ban Phát triền Kinh tế, Phòng Thương mại Mỹ và Hiệp hội quốc gia các nhà sản xuất cùng đồng loạt ủng hộ chính sách tăng thuế để (Chính phủ) có tiền chi trả cho cuộc chiến. Tháng Ba năm 1951, Ủy ban Phát triền Kinh tế đề xuất tăng thuế 10 tỷ USD để ngăn chặn lạm phát. Ủy ban này cho biết: “Mức thuế hiện nay dù đã khá cao nhưng chúng ta cần một mức thuế cao hơn nữa – hơn bất kỳ giai đoạn nào trước đây, kể cả mức đỉnh điểm thời chiến”.

Ba năm sau, khi Tổng thống Dwight D. Eisenhower tìm cách gia hạn thuế siêu lợi nhuận (excess-profits tax) thời chiến đối với các tập đoàn, Ủy ban Phát triển Kinh tế đã ủng hộ đề xuất này và nhận được lời ngợi khen từ Thời báo New York Times.

Chống thâm hụt ngân sách
Vào cuối thập niên 1950, Ủy ban này cũng ủng hộ tăng thuế xăng dầu để tài trợ cho hệ thống cao tốc liên bang. Năm 1966, Ủy ban kêu gọi tạm thời tăng thuế thu nhập cá nhân để bù đắp thâm hụt ngân sách do tham chiến ở Việt Nam, và đề xuất rằng ‘mức tăng này phải mang lại nguồn thu cần thiết, có thể nhanh chóng được áp dụng, được người dân chấp thuận và đồng thời dễ dàng dỡ bỏ khi khó khăn được đẩy lùi’.

Hiệp hội Bàn tròn doanh nghiệp, tổ chức gồm các giám đốc điều hành của Fortune 500 (500 tập đoàn lớn nhất nước Mỹ), sau khi thành lập năm 1973, đã từng bước thay thế Ủy ban Phát triển Kinh tế trong vai trò đại diện hàng đầu cho các tập đoàn lớn, ủng hộ tăng thuế thu nhập cá nhân đồng thời tìm cách giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Để đối phó với thâm hụt ngân sách do chương trình cắt giảm thuế của Tổng thống Ronald Reagan, Hiệp hội đã đề xuất tăng thuế thu nhập cho dù các thành viên thu nhập cao của Hiệp hội sẽ phải nộp một khoản không hề nhỏ.

Gần đây nhất, năm 1989, ngay sau khi George H.W. Bush được bầu làm Tổng thống với lời hứa ‘không tăng thuế’ (“Read my lips, no new taxes”), tạp chí Fortune đã xuất bản một câu chuyện với tựa đề ‘Các CEO gửi tới Tổng thống: Hãy tăng thuế ngay’. Trên thực tế, Tổng thống George H.W. Bush đã chấp thuận tăng thuế - một quyết định mà theo nhiều người đã khiến ông thất bại trong cuộc đua tranh cử Tổng thống lần 2 năm 1992.

Chỉ đến khi chính sách cắt giảm thuế của Tổng thống George W. Bush gây ra mức thâm hụt lớn hơn cả so với thời của Tổng thống Reagan, các công ty lớn mới bỗng nhiên ngừng kêu gọi tăng thuế. Dù hai cuộc chiến tranh tốn kém tại Iraq và Afghanistan khiến thâm hụt ngày càng thêm trầm trọng, Hiệp hội vẫn im lặng.

Có lẽ Hiệp hội đã đồng tình với phát biểu của Phó Tổng thống Dick Cheney: ‘Reagan đã chứng minh thâm hụt (ngân sách) không thành vấn đề’, bởi lẽ thay vì chỉ trích chính sách cắt giảm thuế của Tổng thống Bush, Hiệp hội còn ủng hộ duy trì dài hạn chính sách này.

Vậy tại sao, các công ty lớn từng sẵn sàng đề xuất tăng thuế trong gần nửa thế kỷ bỗng dưng phủ nhận cả mối liên hệ giữa chính sách cắt giảm thuế và thâm hụt ngân sách?

Liên minh tan rã
Câu trả lời nằm ở sự tan rã liên minh các lãnh đạo tập đoàn. Trong những năm 1950, lãnh đạo các tập đoàn phải bắt tay với nhau để đàm phán với cả phong trào công nhân đang diễn ra mạnh mẽ cũng như chính quyền liên bang lớn mạnh. Nhu cầu thương thuyết với hai nhóm đối tượng này đã hình thành nên một cộng đồng doanh nhân thực dụng, cố gắng vạch ra những chính sách được tất cả các bên chấp thuận. Tuy nhiên, khi phong trào công nhân tan rã và chính quyền mất đi phần nào tính chính thống, các lãnh đạo tập đoàn hầu như không còn động cơ phải thiết lập liên minh để đảm bảo các chính sách có lợi cho mình, và đơn phương theo đuổi lợi ích riêng.

Vì vậy, các công ty càng lúc càng không thể và không muốn cùng nhau giải quyết các vấn đề mà bản thân họ và cả đất nước phải đối mặt. Điều này được thể hiện rõ ràng trong cuộc tranh luận về Kế hoạch y tế do Tổng thống Bill Clinton đề ra đầu thập niên 1990 khi các tập đoàn lớn ủng hộ kế hoạch này phải chịu nhiều áp lực từ các thành viên Đảng Cộng hòa trong Quốc hội – những người có thiện cảm hơn với các công ty nhỏ, và phản đối kế hoạch nêu trên. Thậm chí các tập đoàn lớn hầu như không tham dự cuộc tranh luận về Chương trình cải tổ y tế do Tổng thống Barack Obama đề xướng hoặc cùng bàn bạc để tìm ra biện pháp kiểm soát thâm hụt tốt nhất.

Các lãnh đạo tập đoàn ngày nay đã từ bỏ quan điểm thực dụng vì lợi ích tập thể và thay vào đó theo đuổi lợi ích riêng cho công ty mình. Dầu cho một số doanh nhân như Warren Buffet, Robert Rubin lên tiếng ủng hộ chính sách tăng thuế nhưng lãnh đạo các tập đoàn, vẫn tiếp tục phản đối chính sách này, kể cả các công ty có doanh thu hàng chục triệu USD một năm. Fix the Debt, nhóm công chức và doanh nhân nỗ lực giảm thâm hụt, lại hầu như chỉ tập trung vào cắt giảm chi tiêu và mơ hồ đề cập tới “tăng ngân sách” trong khi đồng thời ủng hộ giảm thuế suất.

Các lãnh đạo tập đoàn Mỹ thời hậu chiến luôn mang trong mình tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng ủng hộ các chính sách (của Chính phủ) dù chúng có thể là gánh nặng đối với chính họ. Ngược lại, các lãnh đạo tập đoàn (Mỹ) ngày nay dù giành được sự ủng hộ chính trị rất lớn cho bản thân nhưng không hề tự nguyện giải quyết những khó khăn của giới doanh nghiệp và xã hội.

(Mark S. Mizruchi là giáo sư Barger Family nghiên cứu về tổ chức, giáo sư xã hội học và giáo sư quản trị kinh doanh tại Đại học Michigan. Cuốn sách của ông ‘Sự chia rẽ giữa lãnh đạo các tập đoàn Mỹ’ - ‘The Fracturing of the American Corporate Elite’ sẽ được xuất bản bởi Harvard University Press vào tháng tới.)

Bloomberg


"Carbon Copy" nghĩa là gì?

Hóa ra tôi hẹn hò chị em sinh đôi. Photo courtesy Martina Rathgens.

Carbon có nghĩa là giấy than, giấy cacbon và copy là bản sao. Carbon copy là bản sao bằng giấy than hay giấy cacbon, dùng để chỉ một người hay một vật giống hệt như một người khác hay một vật khác. 'Thành ngữ này' được dùng từ cuối thế kỷ thứ 19 khi người ta dùng giấy cacbon để in một bản sao giấy tờ hay tài liệu.

Ví dụ
“My new girlfriend said she wanted me to meet someone. I was shocked when I answered the door. Standing there was a woman (thiếu nữ) who looked exactly like my girlfriend. She talked just like her, too. In fact, she was a carbon copy (giống bạn gái tôi như in). That’s when I realized I was dating a twin (có bạn gái là chị em sinh đôi).”

“The architect claimed (cho rằng) his designs (đồ án) for the city park were original (sáng tác nguyên bản). But on closer inspection (nhìn kỹ), it became clear that wasn’t true. All the features (đặc điểm), including the gardens, pond, bridges and playing fields, were no different from those in a park in Boston. The mayor was furious (hết sức tức giận). He trusted the architect to offer something unique (độc đáo), not a carbon copy (chứ không phải bản sao).”

Huyền Trang
VOA

Keep aiming

Photo courtesy: Vicki Burton.

An arrow can only be shot by pulling it backward. When life is dragging you back with difficulties, it means it's going to launch you into something great. So just focus, and keep aiming.

Previous post: Lessons from Death

Saturday, July 27, 2013

"A load of rubbish" nghĩa là gì?

Photo credit: Noel Celis/AFP/Getty Images.

Chúng ta có thể gọi điều gì có chất lượng rất thấp hoặc không đúng là 'a load of rubbish' (một đống rác).

Ví dụ
Did you see that England football match? It was a load of rubbish. They will never win the World Cup.
I was really excited about seeing Justin Bieber in concert but he was two hours late. What a load of rubbish!

Xin lưu ý
Rubbish là từ chủ yếu được sử dụng trong tiếng Anh của người Anh. Ở Bắc Mỹ, mọi người gọi là 'garbage' hoặc 'trash' (đều có nghĩa là rác).

Make sure the garbage is out. The truck picks it up today.
The trash really smells. Can you take it outside?

Thực tế thú vị:
Manila, thủ đô của Philippines, đã ra lệnh cấm túi đi chợ bằng nhựa dùng một lần vì rác thải đã làm trầm trọng thêm vấn đề lụt lội của thành phố này.

BBC


"Down the pan" nghĩa là gì?
"A fish out of water" nghĩa là gì?
"Put on a brave face" nghĩa là gì?

Friday, July 26, 2013

Phụ nữ ở phố Wall: Một thế kỉ thăng trầm

Hai phụ nữ đang làm việc tại văn phòng, năm 1921. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ), Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

By Melissa S. Fisher / Phương Thùy dịch, Sơn Phạm (hiệu đính)

Khi bà Ina Drew từ chức Giám đốc đầu tư tại JPMorgan Chase & Co. (JPM) vào năm ngoái sau hàng loạt báo cáo về việc ngân hàng này chịu khoản lỗ hơn 6 tỷ USD, thời báo New York Times đã viết bà là ‘người phụ nữ phải chịu trách nhiệm’.

Sự kiện này làm dấy lên tranh luận phải chăng các công ty đang hi sinh những nữ doanh nhân như bà Drew làm ‘vật tế thần’ cho kết quả làm ăn bết bát từ cuộc khủng hoảng tài chính. Cuộc tranh luận này chưa có lời giải đáp, nhưng điều chắc chắn là chỉ nửa thế kỷ trước thôi việc một phụ nữ có thể vươn cao lên vị trí lãnh đạo tại Wall Street để có thể chịu trách nhiệm về bất kỳ sai lầm nào đều ngoài sức tưởng tượng.

Tuy nhiên, điều này cũng không có nghĩa là phụ nữ hoàn toàn “vô hình”. Một bài báo của New York Times vào năm 1958 đã chỉ ra trên thực tế, phụ nữ ‘cũng đóng góp phần nào, khi vào mỗi ngày làm việc, các bức tường đá và bê tông ở đây đều vang vọng tiếng lạch cạch giầy cao gót của gần 60.000 nữ nhân viên đảm nhiệm các công việc như thư ký, tốc ký (stenographer), kế toán, lễ tân, trực máy điện báo (ticker operator), văn thư, đưa tin và nhân viên phục vụ (page), lũ lượt từ các ga tàu điện ngầm đến văn phòng.’

Nhưng các văn phòng này đã khiến hầu hết phụ nữ không hiện diện; họ không những phải làm việc ở các vị trí thấp mà còn ‘phía sau hậu trường’. Họ phải trực chờ mệnh lệnh từ các lãnh đạo nam giới. Trong nhà vệ sinh của ít nhất một công ty, có những bóng đèn được gắn tên lãnh đạo. Khi một sếp nam gọi thư ký từ bàn làm việc của mình thì bóng đèn tương ứng sẽ sáng và nữ thư ký phải ngay lập tức có mặt.

Kết hôn với sếp
Nam giới không hề coi phụ nữ là đối thủ của mình trong lĩnh vực tài chính. Một bài báo của Times từng viết, ‘Phụ nữ sẽ hầu như không thể đạt được một vị trí danh vọng nào trong ngành tài chính, trừ phi cô ta cưới sếp, sống lâu hơn chồng và thừa kế cổ phiếu do chồng để lại’.

Tuy nhiên, về điều này, New York Times không hẳn đã đúng (on the mark). Một bộ phận tuy nhỏ nhưng ngày càng tăng các phụ nữ (đa phần là da trắng) thuộc tầng lớp trung lưu đã tận dụng cơ hội làm việc trong thời gian đầu sau Chiến tranh thế giới thứ II.

Quá trình thay đổi diễn ra một cách chậm chạp. Mãi đến năm 1969, Martin Mayer, phóng viên tác nghiệp tại Wall Street, mới ghi nhận sự xuất hiện của một người Mỹ gốc Á - một phụ nữ da đen trong lĩnh vực tài chính. Hai năm sau đó, Muriel Siebert trở thành người phụ nữ đầu tiên có được vị trí ở Sở Giao dịch chứng khoán New York. Nhưng khi Muriel mở công ty riêng, khoảng 60 phụ nữ khác đã noi theo bà và trở thành thế hệ nữ đầu tiên trong ngành tài chính.

Nhiều người thuộc thế hệ này đã thành công trong những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ 20 – một trong những thời kỳ khủng hoảng tồi tệ nhất. Họ sống trong những căn hộ chật hẹp, đi bộ hoặc bắt xe buýt đi làm. Hầu hết đều bắt đầu từ những vị trí trợ lý văn phòng, đa phần là nghiên cứu chứng khoán. Một số tìm việc từ các mẩu quảng cáo trên báo, số khác nhờ các mối quan hệ gia đình và bạn bè. Mức lương mà họ nhận được thấp hơn rất nhiều so với đồng nghiệp nam. Họ cũng không được tham gia các chương trình đào tạo chính thức, và vì vậy, phải tự học việc từ sếp nam của mình - người tận tình, người không.

Đối với một số người, cơ hội được tiếp nhận, giúp đỡ và đào tạo phần nào bù đắp mức lương bèo bọt của họ. Một phụ nữ cho biết cô rất vui khi nhận được việc làm chuyên nghiệp đầu tiên vào đầu những năm 1970, mặc dù công ty trả lương cho nữ nhân viên nghiên cứu chứng khoán còn thấp hơn thư ký. Trưởng phòng nghiên cứu khoe rằng anh ta là người duy nhất tuyển dụng phụ nữ, vì như vậy có thể thuê được người tài với chi phí thấp và tự cho mình là người rộng lượng vì hàng năm anh ta đều tuyển nữ sinh viên tốt nghiệp đại học.

Tuy nhiên, nhiều phụ nữ khác không chấp nhận bị phân biệt đối xử như vậy. Năm 1973, Helen O’Bannon, ứng viên thất bại trong cuộc tuyển chọn kế toán trưởng của công ty Merrill Lynch & Co. đã kiện công ty này phân biệt giới tính. Cụ thể, Helen kiện công ty trên khi trong vòng tuyển chọn ứng viên cho chương trình đào tạo môi giới chứng khoán đã đưa ra những câu hỏi đại loại như ‘Khi gặp một người phụ nữ, điều gì ở cô ta khiến bạn cảm thấy hứng thú nhất?’.

Trí thông minh của phụ nữ
Không những câu hỏi dạng này mặc định rằng ứng viên là nam giới (heterosexual man) mà câu trả lời đúng còn phải là “vẻ đẹp”; những ai trả lời họ ngưỡng mộ trí thông minh của cô ta thậm chí còn bị điểm thấp nhất. Helen O’Bannon đã thắng vụ kiện và giờ đây, các công ty tại Wall Street phải chú ý.

Trong vòng 3 thập kỷ sau đó, những phụ nữ thuộc thế hệ đầu tiên tại Wall Street đã tiến xa trên con đường sự nghiệp một phần nhờ những nỗ lực của chính họ và một phần nhờ những đàn anh giàu kinh nghiệm. Nhưng có lẽ họ sẽ chẳng thể nào tham gia vào lực lượng lao động chuyên nghiệp nếu như không có phong trào nữ quyền kiên quyết đấu tranh quyền được tham gia của phụ nữ vào những lĩnh vực xưa nay vốn chỉ dành riêng cho nam giới như tài chính.

Và họ đã giúp đỡ lẫn nhau. Khi bắt đầu sự nghiệp, đa phần phụ nữ đều cảm thấy bị cô lập nhưng dần dần họ đã hình thành mối liên kết với những người khác tại Hiệp Hội Phụ nữ ngành tài chính của thành phố New York. Họ duy trì mạng lưới riêng của mình ngoài các mối quan hệ trong công ty và nó trở thành một kênh đào tạo chuyên môn khác cho phụ nữ.

Ngoài ra, lĩnh vực nghiên cứu chứng khoán (đa phần do phụ nữ đảm nhiệm), khởi nguồn từ giữa những năm 1970 ngày càng trở nên quan trọng, và các nữ phân tích chứng khoán trở thành những nhân viên có giá trị, những người cuối cùng đã được ngồi cùng với nhân viên đầu tư và những người khác tại “phòng tiền sảnh” (“front-office”). Từ cuối thập niên 80 của thế kỷ 20 đến những năm đầu thiên niên kỷ mới, số lượng phụ nữ phá bỏ “rào cản vô hình” (glass ceiling) để vươn lên ở Wall Street dù còn ít, nhưng đã không còn là chuyện bất thường nữa.

Zoe Cruz - cựu đồng chủ tịch của Morgan Stanley, Erin Callan - cựu Giám đốc tài chính của Lehman Brothers Holdings Inc. và Sallie Krawcheck - cựu Giám đốc điều hành cấp cao của Bank of America Corp. và Citigroup Inc. đều tiếp bước thế hệ phụ nữ đầu tiên trong ngành tài chính. Rất nhiều người tin rằng một ai đó trong thế hệ phụ nữ đầu tiên này sẽ phá được “bức tường” cuối cùng và trở thành một CEO.

Nhưng cuộc khủng hoảng tài chính 2008 đã dập tắt hi vọng này. Thay vì phá bỏ thành công rào cản giới tính cuối cùng, những phụ nữ thành đạt như Cruz đã từ chức. Số lượng phụ nữ thế hệ tiếp nối trong ngành tài chính cũng giảm tương tự. Trong thập kỷ đầu của thiên niên kỷ mới, số phụ nữ trong độ tuổi 20 - 35 làm việc tại các ngân hàng đầu tư, công ty môi giới và các công ty dịch vụ tài chính khác giảm 315.000 người, tương đương 16.5%. Trong khi đó, số nam giới trong độ tuổi này tăng 93.000 người, tương đương 7.3%.

Nhìn chung, những người thuộc thế hệ phụ nữ đầu tiên tại Wall Street đã rời bỏ ngành tài chính. Một số tự bỏ cuộc còn số khác bị yêu cầu rời khỏi chức vụ.

Di sản của họ chưa trọn vẹn. Các sếp nam không thể gọi nữ thư ký từ nhà vệ sinh được nữa. Một số phụ nữ tiên phong thấy rằng, các sếp nam đã cảm thấy thoải mái với sự hiện diện của phái nữ, ít nhất khi họ là bộ phận nhỏ trong công ty. Tuy nhiên, theo nhóm tư vấn Catalyst, chỉ có 3% số giám đốc điều hành các công ty tài chính là nữ. Và phụ nữ vẫn chưa là CEO của một công ty tài chính lớn nào ở Wall Street.

(Melissa S. Fisher là giáo sư thỉnh giảng tại Khoa Phân tích Xã hội và Văn hóa tại Đại học New York, là tác giả của cuốn sách ‘Phụ nữ phố Wall’ - ‘Wall Street Women’.)

Bloomberg


"Fix someone's wagon" nghĩa là gì?

Đồng chí nào fix wagon này đảm bảo sẽ bị... tẩn hội đồng. Photo courtesy Benny Mazur.

'Fix someone's wagon' có một từ mới là wagon, tức là loại xe ngựa mà người Mỹ dùng làm phương tiện chuyên chở trong chuyến đi khai phá miền Tây nước Mỹ vào đầu thế kỷ 18. Vì có sự cạnh tranh mãnh liệt giữa các di dân nên họ tìm cách phá hoại nhau. 'Fix someone's wagon' không phải là sửa xe ngựa mà là đổ cát vào trục bánh xe để hại nhau. Ngày nay, thành ngữ này có nghĩa là trả thù một người nào, hay ăn miếng trả miếng.

Ví dụ
After my washing machine broke, I went to a store to order (đặt hàng) a new one. They said it could be delivered (giao) to my home yesterday. So I took one day off from work (nghỉ việc một hôm) to wait for them and nobody came. Finally, they called and said they had to reschedule the delivery for tomorrow. I just want to fix their wagon (trả thù tiệm đó)!

Last week, my husband got cut off (cắt ngang) in traffic by an aggressive driver (bà lái xe hung hăng). Suddenly he became obsessed with fixing her wagon (muốn ăn thua đủ với bà ta). But really, what would be the point of (ích gì) chasing after her car? Would it be worth (có đáng) risking an accident? I'm glad he was able to calm down (dịu xuống) and forget about seeking revenge.

Minh Phượng
VOA


Thursday, July 25, 2013

August Belmont: đặc vụ tầm cỡ của gia tộc Rothschild

Mở màn trận đua ngựa tại Công viên Belmont, quận Queens, New York, ngày 2 tháng Sáu năm 1913. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ), Phòng In ấn và Nhiếp Ảnh.

By David K. Thomson / Phương Thùy dịch, Sơn Phạm (hiệu đính)

Vào thứ 7 này (8/6/2013), hàng triệu người Mỹ sẽ theo dõi cuộc đua ngựa Belmont Stakes lần thứ 145, chặng đua cuối cùng và cũng là chặng cam go nhất của The Triple Crown*. Thế nhưng, có lẽ rất ít người trong số chúng ta biết được: người trùng tên với cuộc đua này - August Belmont, là một nhân vật tầm cỡ trong ngành tài chính vào thế kỷ 19.

Belmont bắt đầu sự nghiệp của mình trong vai trò là nhân viên ngân hàng của gia tộc Rothschild. Đầu tiên, ông được giao theo dõi danh mục đầu tư ở Cuba. Năm 1837, Belmont rời Châu Âu để đảm nhận chức vụ mới của mình ở Mỹ, nơi đang quay cuồng trong cơn bão tài chính lớn và hoạt động của gia tộc Rothschild bị xáo trộn. Belmont nhanh chóng tuyên bố Mỹ sẽ là ‘căn cứ’ làm việc mới của ông.

Belmont (và ngân hàng gia tộc Rothschild) đã hốt bạc khi kinh tế phục hồi sau khủng hoảng, đặc biệt trong thời kỳ bùng nổ bông và thuốc lá. Ông thường xuyên liên kết với các thành viên đảng Dân chủ, đảng ủng hộ lợi ích của người sản xuất bông ở miền Nam. Năm 1860, Belmont đã thất bại trong việc đưa ứng cử viên đảng Dân chủ - Stephen Douglas – người có khả năng ngăn chặn Nội chiến và vì thế đảm bảo lợi nhuận – ngồi vào chiếc ghế Tổng thống.

Tuy nhiên, ngay khi nội chiến nổ ra, Belmont nhận thấy việc ủng hộ Liên minh miền nam (Confederacy) hay ‘các bang bông’ theo như ông vẫn gọi sẽ là canh bạc sai lầm. Bông rất có giá trị và Liên minh Miền Nam có thể sẽ thắng, nhưng cơ sở hạ tầng tài chính của họ chưa phát triển và chưa đủ độ tin cậy, nên dù Liên minh miền Nam có thắng thì kinh doanh cũng sẽ gặp bất lợi. Do đó, Belmont đã bác bỏ thẳng thừng đề nghị vay 50 triệu USD của Tổng thống Liên minh miền Nam Jefferson Davis. Trước đó, bốn bang miền Nam đã không trả (repudiate) khoản nợ trước nội chiến (antebellum) của họ tại ngân hàng nhà Rothschild.

Những chính khách liều mạng
Năm 1863, Belmont phát biểu ngay trước khi trận Gettysburg diễn ra: “Dưới sự lãnh đạo của những chính khách liều mạng và thiếu kỷ luật nhất, Liên minh miền Nam mới không hề có nền tảng để tồn tại lâu dài (principle of vitality) và chẳng sớm thì muộn sẽ tan rã”.

Belmont đặt niềm tin vào (more bullish on) chính phủ Liên Bang miền Bắc hơn. Ông nói: ‘Khi mọi người biết rằng Liên Bang miền Bắc sẽ theo đuổi cuộc chiến với tất cả năng lượng và nhiệt huyết, lòng tin được củng cố và thị trường chứng khoán đã được cái thiện.’ Mùa hè năm 1861, Belmont đến Châu Âu với tư cách là đại diện không chính thức của chính phủ Mỹ theo chỉ thị (behest) của Tổng thống Abraham Lincoln và Bộ trưởng Ngoại giao William Seward. Belmont đã không thể thuyết phục Rothschilds mua trái phiếu của Liên Bang miền Bắc nhưng đã thuyết phục được gia tộc này rằng ‘dồn tiền’ cho Liên minh miền Nam sẽ là một đầu tư tồi.

Dù ủng hộ Liên Bang miền Bắc, Belmont vẫn thận trọng đối với chính sách tài khóa từ (emanate from) Washington, đặc biệt là chính sách tăng thuế, việc thông qua Luật Tiền tệ chính thức (Legal Tender Act) và Luật Ngân hàng quốc gia (National Banking Act). Belmont phê phán quyết định của chính quyền Lincoln về việc phát hành tiền pháp định (fiat currency) được biết tới phổ biến là đồng bạc xanh (greenbacks) để chi trả cho cuộc chiến nhưng ông cũng nhận ra rằng không còn lựa chọn nào khác tốt hơn. In tiền có thể dẫn đến lạm phát nhưng vay tiền từ các ngân hàng ở New York rất tốn thời gian và công sức. Điều thậm chí còn khiến Belmont lo ngại hơn đó là tình trạng đầu cơ tràn lan trong thời chiến, nhất là trong các ngành đường sắt, than và vàng.

Belmont nói ‘Những kẻ đầu cơ sẽ kiếm được hàng triệu đô la trong khi những nạn nhân khốn khổ, cuối cùng, sẽ chẳng còn tài sản gì đáng giá trong tay’.

Ông đã đưa ra cảnh báo đen tối (dire warning) về cuộc khủng hoảng năm 1873 – ảnh hưởng đặc biệt tới những nhà đầu tư đường sắt. ‘Khi kinh tế sụp đổ, chúng tôi e rằng đó sẽ là một cuộc khủng hoảng tồi tệ’, ông nói.

Kể từ khi đến Mỹ, Belmont đã thể hiện tài năng tiên đoán ‘thời cuộc’ (the direction of the wind) của mình. Dù đã thu được rất nhiều lợi nhuận từ bông, ông thậm chí còn kiếm được nhiều hơn thế từ việc ủng hộ cuộc chiến chống lại ‘các bang bông’. Không như gia tộc Rothschilds luôn né tránh việc mua trái phiếu chính phủ trong thời kỳ nội chiến, Belmont đã đầu tư một khoản lớn cho trái phiếu của Liên Bang miền Bắc và nhờ đó trở nên giàu có.

Năm 1866, Belmont dành một phần tài sản của mình để tài trợ cho trường đua Jerome Park tại Bronx, nơi diễn ra cuộc đua Belmont Stakes lần đầu tiên vào năm 1867.

Bloomberg

(David K. Thomson là nghiên cứu sinh lịch sử tại Đại học Georgia).



* 3 giải lớn nhất Bắc Mỹ: Kentucky Derby, Preakness, và Belmont. Ngựa đua ở Bắc Mỹ bắt đầu cho chạy từ năm khi ngựa chỉ mới được 2 tuổi. Ba giải này chỉ dành riêng cho ngựa 3 tuổi, gọi chung là "The Triple Crown". Cho đến nay chỉ có được 11 con ngựa thắng được cả 3 giải này trong một năm.