Journey in Life: 01/26/13

Saturday, January 26, 2013

Điều Facebook nên biết trước khi xây thị trấn công ty


Nhà chung vách (row houses) trong thị trấn công ty của Roebling Steel ở hạt Burlington, New Jersey. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ), Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

Vào tháng 2/2011, Facebook đã tuyên bố sẽ chuyển trụ sở tới khuôn viên cũ của công ty Sun Microsystems ở Menlo Park, California.

Địa điểm này ban đầu được dự tính để cung cấp chỗ làm việc cho khoảng 3.000 nhân viên. Sau đó, vào tháng 8, Facebook nói họ sẽ mở rộng không gian văn phòng do Frank Gehry thiết kế cho thêm hơn 2.800 nhân viên nữa. Việc xây dựng lại được tiến hành tốt, với 2.000 nhân viên trên công trường; các cửa hàng buôn bán, từ tiệm ăn đến cửa hàng cắt tóc, đã được dựng nên chỉ để phục vụ nhân viên Facebook. 'Đây là thị trấn công ty của thế kỉ 21,' nhà tương lai học của Thung lũng Silicon - Paul Saffo nói với tờ Los Angeles Times.

Facebook hiện đang xem xét các (influx of) nhân viên sẽ sống ở đâu. Một số sẽ ở nhà trong khuôn viên. Facebook đã cộng tác với một công ty xây dựng để xây khoảng 250 ngôi nhà. Tuy nhiên, theo San Mateo Daily Journal, công ty có thể gặp áp lực phải góp phần phát triển thêm hàng ngàn ngôi nhà tại nơi mà từ lâu đã lãng quên nhà giá phải chăng (has long neglected affordable housing).

Lịch sử các thị trấn công ty ở Mỹ cho thấy Facebook đang đối mặt với vấn đề cũ. Ta cùng xem trường hợp của Roebling, New Jersey, đã được xây dựng vào đầu thế kỉ 20 bởi công ty sản xuất thép John A. Roebling & Sons.

Cầu Brooklyn
Công ty sản xuất dây cáp được sử dụng trong việc xây dựng các cầu do Roebling thiết kế trên sông Monongahela, sông Niagara, sông Ohio và sông Đông New York City (cầu Brooklyn)

Vào đầu thế kỉ 20, giá thép nhập khẩu cao đã khiến công ty tìm kiếm năng lực sản xuất thép mới, và họ nhận ra rằng không có đủ đất ở gần nơi làm việc hiện tại của họ ở Trenton, New Jersey để đáp ứng nhu cầu.

Thay vào đó, họ chọn địa điểm ở sông Delaware gần Camden & Amboy Railroad, được gọi là Kinkora, và sau đó đổi tên thành Roebling.

Khu vực này thiếu nhà ở, do đó công ty quyết định dựng lên (erect) một thị trấn cho công nhân của mình. Chủ công ty - Washington A. Roebling muốn công ty biết rằng quyết định chỉ đơn thuần do nhu cầu kinh doanh và nói 'không đặt ra như là người lý tưởng hóa (idealist) hay nhà cải cách'

Vào năm 1904, Roebling Steel mua 250 hecta đất và bắt đầu tiến hành xây dựng. Dự án cho thấy phức tạp hơn tưởng tượng ban đầu. Nó đòi hỏi dựng nên các tòa nhà cho các cửa hàng, xây dựng hệ thống nước, lát vỉa hè và đặt đường điện và gas. Cũng cần có lực lượng cảnh sát và một nhà tù, cùng với các trường học công. Phần chi phí tham gia của công ty có thể lên tới 80.000 USD. 'Người sở hữu một thị trấn thường ước mong mình chưa từng được sinh ra,' Washington Roebling buồn bã (ruefully) nói.

Roebling bao gồm 750 nhà gạch, được trang bị điện và gas với giá tối thiểu. Cũng có hai khách sạn cho công nhân.

Trong nhiều thị trấn công ty, rượu và quán rượu còn bị cấm, chứ đừng nói đến nhà thổ (bawdy houses). Các thị trấn than đá trả tiền cho cảnh sát trưởng (sheriff) địa phương để trông chừng (keep an eye on) bất kì kẻ lạ mặt nào - và đánh (rough up), đuổi (evict) những ai được cho là 'tổ chức công đoàn.'

Những người chủ Roebling của công ty đã bỏ qua những canh chừng đó, và thậm chí còn làm quán bar trong thị trấn. ('Bạn không thể biến một công nhân nhà máy thành người đàn ông ẻo lả (mollycoddle) được', Charles Roebling nói). Châm ngôn (dictum) của công ty là những người ở trong thị trấn 'không phải chịu trách nhiệm gì với chúng tôi hay ngược lại trong cuộc sống  thị trấn.'

Tương tự với các thị trấn công ty khác như Sparrows Point của công ty Bethlehem Steel ở Maryland, Roebling có các loại nhà khác nhau với giá thuê tương ứng.

Nhà chung vách
Tại Roebling, các công nhân làm việc theo giờ sống ở các nhà chung vách gần nhà máy, công nhân có tay nghề ở trong những ngôi nhà cách tường (semidetached) gần trung tâm thị trấn và các nhà quản lý nhận được những ngôi nhà lớn hơn nhìn ra sông. Tất cả các tòa nhà, bãi cỏ và công viên được duy trì bởi công ty.

Trong tất cả các thị trấn do công ty sở hữu, bao gồm cả Sparrows Point và Roebling, nhân viên bị mất việc cũng bị đuổi ra khỏi nhà của công ty. (Roebling cho phép công nhân bị mất việc có một tuần để chuyển khỏi nhà). Và tại Roebling, cũng như trong các công ty khác của ngành thép, giờ làm việc là 12 giờ một ngày, 7 ngày một tuần, sau đó chuyển thành ngày 3 ca vào những năm 1920.

Tuy nhiên cuộc sống ở Roebling không chỉ toàn là công việc. Thị trấn nhỏ có một bưu điện, một bệnh viện, một ngân hàng, một thư viện, một giảng đường, một 'túp lều' (hut) Boy Scout và một sân bóng chày. Roebling Steel tài trợ các đội bóng, bao gồm một đội (squad) bóng đá tên là Blue Centers (tôn vinh một tính năng của dây cáp của công ty), và các đội bóng rổ, bowling, tennis và ném vòng (quoit).

Roebling Steel trở thành nhà sản xuất dây cáp hàng đầu thế giới. Nhưng vào năm 1953, gia đình (Roebling) đã bán cổ phần (stake) cho công ty Colorado Fuel and Iron thuộc sở hữu của Rockefeller, công ty này tiếp tục hoạt động trong thị trấn cho đến năm 1974. Nhưng các ngôi nhà và những tòa nhà thương mại đã bị bán bởi Roeblings vào năm 1947, với người thuê và các nhân viên khác có quyền từ chối đầu tiên (right of first refusal).

Vậy thì, Facebook sẽ định 'sáng tạo lại' thị trấn công ty cho thế kỉ 21? Chủ tịch và sáng lập của công ty, Mark Zuckerberg, có lẽ sẽ muốn xem qua lịch sử các thí nghiệm xây dựng thị trấn trước đó.

(Hardy Green là tác giả của 'Thị trấn công ty: Vườn địa đàng công nghiệp và nhà máy quỷ Sa Tăng đã hình thành nền kinh tế nước Mỹ - "The Company Town: The Industrial Edens and Satanic Mills That Shaped the American Economy.")

Sơn Phạm
Mắc treo quần áo hiển thị số người 'likes' trên Facebook

Quảng cáo và giá mắt kính

Quảng cáo có tác động như thế nào đối với giá hàng hóa? Một mặt, quảng cáo làm cho người tiêu dùng nghĩ rằng hàng hóa khác biệt nhau nhiều hơn thực tế. Nếu đúng như vậy, nó sẽ làm cho các thị trường ít cạnh tranh hơn và đường cầu của các doanh nghiệp trở nên ít co giãn hơn, dẫn tới việc các doanh nghiệp định giá cao hơn. Mặt khác, quảng cáo có thể giúp khách hàng tìm ra doanh nghiệp có giá bán hấp dẫn nhất. Trong trường hợp này, quảng cáo làm cho thị trường cạnh tranh hơn và đường cầu của doanh nghiệp co giãn hơn, dẫn đến giá cả giảm.

Trong một bài báo đăng trên Tạp chí pháp luật và kinh tế năm 1972, nhà kinh tế Lee Benham đã kiểm nghiệm cả hai giả thuyết này về quảng cáo. Trong những năm 1960, chính quyền bang ở Mỹ thực thi các đạo luật rất khác nhau về hoạt động quảng cáo của các bác sỹ nhãn khoa. Một số tiểu bang cho phép quảng cáo mắt kính và khám mắt. Nhưng rất nhiều tiểu bang lại nghiêm cấm điều đó. Ví dụ luật của bang Florida quy định rằng:

Sẽ là phi pháp nếu một người, doanh nghiệp, hay công ty... quảng cáo trực tiếp hay gián tiếp dưới bất kỳ hình thức nào về giá cả hay trả góp của kính thường hay kính thuốc, hoặc về bất cứ một dịch vụ nhãn khoa nào... Luật này được ban hành là để bảo vệ sức khỏe, sự an toàn và phúc lợi của công chúng...

Các bác sỹ nhãn khoa chuyên nghiệp ủng hộ nhiệt thành những hạn chế này về quảng cáo.

Benham đã sử dụng sự khác nhau giữa luật của các bang như một thực nghiệm tự nhiên để kiểm định hai cách đánh giá trên về quảng cáo. Kết quả thật đáng kinh ngạc. Trong những bang cấm quảng cáo, giá bình quân của một đôi mắt kính là 33 đôla. (Con số này không nhỏ như chúng ta tưởng: vì nó là giá của năm 1963, khi mà các loại giá cả đều thấp hơn bây giờ rất nhiều. Để chuyển đổi giá của năm 1963 ra giá hiện nay, chúng ta phải nhân với 5.) Ở những bang không cấm quảng cáo, giá bình quân là 26 đôla. Như vậy, quảng cáo làm giảm giá bình quân 20%. Trên thị trường mắt kính, và có lẽ là rất nhiều thị trường khác, quảng cáo thúc đẩy cạnh tranh và làm giảm giá cho khách hàng.

"Like watching paint dry" nghĩa là gì?

Nghệ sĩ graffiti Eduardo Kobra vẽ những nét cuối cùng để tưởng nhớ kiến trúc sư Oscar Niemeyer ở São Paolo. Ảnh: Nacho Doce.

Nếu bạn xem cái gì đó rất dài và chán, bạn có thể nói là bạn đang 'watching paint dry' (đợi sơn khô).

Ví dụ
My girlfriend loved the Les Miserables movie, but I hated it. For me, it was like watching paint dry.
The chancellor's budget speech is on TV later. It'll be like watching paint dry!
I hate it when football is on the television, it's like watching paint dry.

Xin lưu ý
Nếu bạn 'paint the town red', có nghĩa là bạn ăn mừng không kiểm soát.

It's my 21st birthday on Saturday and I'm going to paint the town red.

Thực tế thú vị:
Nghệ sĩ graffiti người Brazil - Eduardo Kobra tạo ra tác phẩm nghệ thuật cao 56 mét (hình trên), ở một quận tài chính ở São Paulo. Tác phẩm nghệ thuật để tưởng nhớ kiến trúc sư người Brazil - Oscar Niemeyer mới mất tháng 12/2012.

The simple method to have an enemy

Photo: lolchamp

If you wish to have an enemy, simply say, 'You are wrong.' This method works every time.

Transform_Jan 26


Whether you think that you can, or that you can not, you are usually right.
- Henry Ford

Assignment: Today, let yourself become aware of one thing your conditioning says you can't do that you are now open to doing

Henry Ford (30 tháng 71863 – 7 tháng 41947) là người sáng lập Công ty Ford Motor. Ông là một trong những người đầu tiên áp dụng sản xuất kiểu dây chuyền lắp ráp trong sản xuất ô tô. Ông không chỉ cách mạng ngành công nghiệp sản xuất ở Hoa Kỳ và châu Âu mà còn có nhiều ảnh hưởng tới kinh tế và xã hội thế kỷ 20 tới mức sự phối hợp giữa sản xuất hàng loạt, tiền lương cao và giá thành sản phẩm thấp cho người tiêu dùng đã được gọi là "Chủ nghĩa Ford." Ông đã trở thành một trong hai hay ba người giàu nhất thế giới; ông để lại hầu như toàn bộ tài sản của mình cho Quỹ Ford, nhưng vẫn thu xếp để gia đình ông mãi giữ được quyền quản lý công ty.

Ford sinh ra ở một trang trại thịnh vượng ở hạt Springwells (hiện ở thành phố Dearborn, Michigan) do cha mẹ ông sở hữu, William Ford (1826-1905) và Mary Litogot (c1839–1876), là những người nhập cư từ Quận Cork, Ireland. Gia đình Ford có nguồn gốc từ tây nước Anh – họ đã buộc phải rời khỏi đất đai ở Somerset và 'di cư' đến Ireland. Những anh chị em ruột của ông gồm: Margaret Ford (1867–1868); Jane Ford (c1868–1945); William Ford (1871–1917) và Robert Ford (1873–1934).
Vào mùa hè năm 1873, Henry lần đầu nhìn thấy một cái máy tự chạy trên đường, một cái động cơ hơi nước đứng yên được dùng để đập lúa hay để cung cấp sức lực cho một máy xay. Người điều khiển nó, Fred Reden, chất nó lên trên mấy cái bánh được nối với một sợi xích lái. Henry bị cái máy quyến rũ và trong năm sau Reden dạy Henry cách khởi động và điều khiển cái máy đó.
Henry đem theo sự đam mê máy móc về nhà. Cha ông đã cho ông một cái đồng hồ đeo tay khi ông bắt đầu sang tuổi thanh niên. Tới mười lăm tuổi, ông đã nổi tiếng là một người sửa chữa đồng hồ giỏi, đã từng tháo ra và lắp lại các loại đồng hồ của bạn bè và hàng xóm hàng chục lần.
Năm 1891, Ford trở thành một kỹ sư ở Edison Illuminating Company, và sau khi ông được thăng chức lên làm kỹ sư trưởng năm 1893, ông đã có đủ thời gian và tiền bạc để dành cho sự chú tâm của mình tới việc thực nghiệm máy chạy xăng. Những cuộc thực nghiệm đó lên tới đỉnh điểm năm 1896 khi ông hoàn thành một phương tiện tự hành đầu tiên của mình được đặt tên là Quadricycle, ông đã lái thử nó vào ngày 4 tháng 6 cùng năm. Sau nhiều lần lái thử nghiệm, Henry Ford bất chợt nghĩ ra nhiều cách để cải thiện chiếc Quadricycle...

Source for pic: thanks