Journey in Life: 01/31/13

Thursday, January 31, 2013

Giải pháp chống khủng hoảng nợ tồi tệ nhất mà một nước có thể nghĩ ra


Buôn bán nô lệ là trọng tâm trong kế hoạch của nước Anh để giải quyết các vấn đề tài khóa. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ), Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

Khi nước Mỹ lảo đảo (lurch) đi từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác để giải quyết vấn đề nợ dài hạn của mình, Quốc hội đã thảo luận một số ý tưởng tồi như giảm chi tiêu bừa bãi (indiscriminate) hay đúc đồng bạc platinum 1.000 tỉ USD. Nhiều nước còn áp dụng những cách tồi tệ hơn như phá giá đồng tiền hay tuyên bố vỡ nợ.

Nhưng không có nước nào có thể sánh với nước Anh về sự khéo léo hay đáng khinh (despicableness), khi giải quyết tai họa (woe) tài khóa của nước mình vào đầu những năm 1700. Khi phải đối diện với nợ quốc gia ngày càng phình to (ballooning), các nhà hoạch định chính sách nước Anh đã nghĩ ra kế hoạch hoán đổi cổ phiếu lấy nợ rất phức tạp kết hợp với thúc đẩy buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương (trans-Atlantic).

Nước Anh đã đi tiên phong trong hệ thống tài chính hiện đại trong những năm 1690, bằng việc thiết lập Ngân hàng Trung ương Anh (the Bank of England), hình thành đồng tiền tín dụng được lưu hành chung, thiết lập thị trường cổ phiếu và trái phiếu tinh vi (sophisticated), và áp dụng nợ công dài hạn được đảm bảo bởi tiền thu được từ thuế trong tương lai.

Hệ thống này đã đảm bảo cho nước Anh chiếm ưu thế (prevail) trong cuộc xung đột 20 năm với nước Pháp giàu tài nguyên và đông dân hơn. Nhưng vào năm 1710, nợ quốc gia của Anh đã vượt ngoài tầm kiểm soát và hệ thống tài chính mới đã căng đến quá giới hạn.

Tương tự như ngày này, khả năng của đảng cầm quyền còn giữ được quyền trị vì đất nước phụ thuộc vào khả năng lên kế hoạch tái cơ cấu mà sẽ làm hài lòng thị trường trái phiếu. Mấu chốt vấn đề là khôi phục lòng tin của các nhà đầu tư vào khả năng món nợ sẽ được hoàn trả (adequately serviced and eventually paid off).

Buôn bán nô lệ
Nhận thấy các biện pháp xoa dịu (palliatives) là không đủ, Bộ trưởng Robert Harley của Đảng Bảo thủ (Tory) đã thành lập công ty South Sea vào mùa xuân năm 1711. Công ty mới này được trao quyền hình thành vốn cổ phần 10 triệu bảng, sẽ được bán cổ phiếu ra công chúng để đổi lấy các trái phiếu chính phủ được chiết khấu cao không đảm bảo (deeply discounted unsecured government bonds) đang lưu hành. Để làm cho việc hoán đổi nợ thành cổ phiếu, từ công sang tư này trở nên hấp dn đối với những người giữ trái phiếu, Harley cam kết tiền thu được từ thuế trong tương lai sẽ được dùng để trả món nợ mà công ty gánh chịu (absorb). Và quan trọng hơn, ông trao cho công ty quyền độc quyền của nước Anh về cung cấp nô lệ châu Phi cho các thuộc địa Mỹ của Tây Ban Nha - một hợp đồng đạt được như là chiến lợi phẩm (spoil of victory) trong cuộc chiến tranh với nước Pháp.

Harley hi vọng rằng ước mơ của các nhà đầu tư về lợi nhuận lớn thu được từ buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương sẽ thuyết phục (entice) họ chấp nhận đổi trái phiếu lấy cổ phiếu trong công ty South Sea.

Tín dụng, như thường bị lãng quên, thật ra chẳng là gì hơn ngoài lòng tin (belief, confidence) và sự tưởng tượng. Nếu có số lượng đủ lớn số người tin rằng một lượng giá trị nhất định sẽ được sinh ra trong tương lai hay ở một nơi xa xôi nào đó, giá trị đó có thể được dùng ngày hôm nay, cho tiêu thụ hay đầu tư hoặc tái cơ cấu nợ. Chính khả năng chuyển giá trị xuyên thời gian và không gian này đã mang lại cho tín dụng vẻ thần kì của nó. Tất nhiên, cũng chính khả năng này khiến tín dụng trở nên mong manh (precarious) và khó tránh khỏi bị thao túng (subject to manipulation), dù với ý định tốt hay không.

Các đảng viên đảng bảo thủ của Harley và đảng Uých (Whig, tiền thân đảng Tự do) phe đối lập rõ ràng đã nhận thấy để kế hoạch công ty South Sea thành công, cần có một nhận thức thuận lợi về buôn bán nô lệ. Để định hướng dư luận theo ý mình, mỗi bên thuê một loạt các tác giả để viết sách, báo chí tuyên truyền. Trong khi những người được đảng Uých thuê tìm cách làm suy yếu niềm tin vào kế hoạch này, những dư luận viên được Harley thuê, bao gồm tiểu thuyết gia Daniel Defoe (tác giả Robin Crusoe trên đảo hoang) và Jonathan Swift (tác giả Gulliver du kí), ca tụng (extol) hiệu quả (virtue) và những hứa hẹn của kế hoạch.

Những bài báo tuyên truyền
Defoe đã viết một cách hân hoan (jubilantly) “Đề xuất của Bộ trưởng Harley, về việc thánh toán đủ các khoản nợ công quốc gia, và thành lập buôn bán với công ty South Sea, đã làm tràn đầy trái tim của các công dân tốt với niềm vui sướng.” Swift phụ họa thêm rằng sáng kiến của Bộ trưởng Harley, nếu được quản lý tốt, sẽ trở thành "sự khôi phục và thành lập tín dụng vĩ đại nhất của vương quốc". Không có gì đáng ngạc nhiên, khi c hai không nói gì đến tín dụng của nước Anh giờ đây sẽ dựa trên sự chết chóc và những thống khổ của các tù binh (captive) châu Phi. Và những bài báo tuyên truyền của họ đã thành công trong việc khiến lợi nhuận tương lai của buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương dường như trở nên vô hạn, đóng góp vào thành công của công ty South Sea trong việc khôi phục niềm tin vào hệ thống tài chính của quốc gia.

Vào năm 1715, các trái phiếu chính phủ một lần nữa lại được buôn bán ngang giá (at par) và Bộ Tài chính Anh (Exchequer) đã có thể vay nợ với lãi suất ưu đãi. Chế độ nô lệ, giờ có vẻ như không tương thích với tài chính, trên thực tế đã từng là trung tâm của sự sống còn của nó vào thời kì hình thành chủ nghĩa tư bản hiện đại.

(Carl Wennerlind là phó giáo sư lịch sử tại trường Barnard, Đại học Columbia. Gần đây, ông xuất bản cuốn "Những tổn thất của tín dụng: Cách mạng tài chính nước Anh, 1620-1720. "Casualties of Credit: The English Financial Revolution, 1620- 1720.")

Sơn Phạm
Bloomberg

Bài trước: Điều Facebook nên biết trước khi xây thị trấn công ty

Cha đẻ của tín dụng vi mô
Siêu cơ quan tài chính vi mô ở Thái Lan
Giải pháp chống khủng hoảng nợ tồi tệ nhất mà một nước có thể nghĩ ra
Chơi 'hụi' ở Ấn Độ

Thuế thu nhập âm

Mỗi khi chính phủ lựa chọn một hệ thống thu thuế nào đó, thì nó cũng ảnh hưởng đến phân phối thu nhập. Điều này thể hiện rất rõ trong trường hợp thuế thu nhập lũy tiến, trong đó những gia đình có thu nhập cao phải đóng góp tỷ lệ phần trăm thu nhập lớn hơn dưới dạng thuế so với những gia đình có thu nhập thấp. Sự bình đẳng giữa các nhóm thu nhập là một chỉ tiêu quan trọng trong việc thiết kế hệ thống thuế.

Nhiều nhà kinh tế đã ủng hộ trợ cấp thu nhập cho những người nghèo thông qua việc sử dụng một khoản thuế thu nhập âm. Theo chính sách này, các gia đình sẽ báo cáo thu nhập của mình với chính phủ. Những gia đình có thu nhập cao sẽ nộp một khoản thuế dựa trên thu nhập của họ. Những gia đình có thu nhập thấp sẽ nhận được một khoản trợ cấp. Nói cách khác, họ sẽ "nộp" một khoản "thuế âm".

Ví dụ, giả sử chính phủ sử dụng công thức sau để xác định nghĩa vụ nộp thuế của một hộ gia đình: 

Nghĩa vụ nộp thuế = (1/3 thu nhập) - 10.000 đôla

Trong trường hợp đó, một gia đình kiếm được 60.000 đôla phải nộp 10.000 đôla tiền thuế, còn gia đình kiếm được 90.000 đôla sẽ phải nộp 20.000 đôla tiền thuế. Một gia đình kiếm được 30.000 đôla sẽ không phải nộp một khoản thuế nào. Và một gia đình kiếm được 15.000 đôla sẽ "nợ" -5.000 đôla tiền thuế. Hay nói cách khác, chính phủ sẽ gửi cho gia đình này tấm séc trị giá 5.000 đôla.

Với thuế âm, những gia đình nghèo sẽ nhận được sự giúp đỡ tài chính mà không phải chứng minh sự nghèo khổ. Tiêu chuẩn duy nhất để nhận được sự trợ giúp này là thu nhập thấp. Tùy theo quan điểm của từng người, thuộc tính này có thể là ưu điểm hay nhược điểm. Một mặt, thuế thu nhập âm không khuyến khích việc sinh con bất hợp pháp và chia lìa gia đình như những người phê phán hệ thống phúc lợi chỉ trích. Mặt khác, thuế thu nhập âm lại trợ cấp cho những người lười biếng và, trong con mắt của một số người, họ không xứng đáng nhận được trợ cấp của chính phủ.

Một điều khoản thuế trong thực tế vận hành giống như thuế thu nhập âm là miễn thuế thu nhập kiếm được. Khoản miễn thuế này cho phép người nghèo nhận được một khoản hoàn trả thuế thu nhập lớn hơn so với khoản thuế mà họ đã nộp trong năm đó. Do điều khoản miễn thuế thu nhập kiếm được chỉ áp dụng cho những lao động nghèo, nên nó không làm giảm động cơ lao động của người nghèo như các chương trình chống nghèo khổ khác đã bị phê phán. Tuy nhiên, cũng vì lý do đó nó đã không giúp loại bỏ được tình trạng nghèo khổ do thất nghiệp, ốm đau hoặc không có khả năng lao động.

Mặc cảm

Trong xã hội văn minh ngày nay, tất cả máy móc, cơ khí, điện tử đều được điều khiển bởi chương trình tự động. Nhất là hệ thống vi tính (computer), nếu bạn muốn máy vi tính của bạn chạy được thì phải gắn những chương trình (programmes, logiciels, software) vào. Tâm ý của chúng ta cũng giống như vậy, sau khi được bỏ vào hay gắn vào những vọng tưởng, quan niệm, thành kiến, tập quán, v.v... nó cũng hoạt động theo chương trình mà ta đã thiết lập (một cách vô ý thức). Tâm ý hoạt động theo chương trình là sao? Đó là mỗi khi gặp một ngoại cảnh hay sự việc gì (input) nó liền cho ra một phản ứng (output) tự động khiến ta không kịp suy nghĩ hoặc suy nghĩ không ra.

Hồi nhỏ đi học ở Việt Nam tôi rất sợ bị kêu lên trả bài, vì mỗi khi trả bài không thuộc tôi bị thầy giáo tát hoặc cô giáo nhéo lỗ tai và chửi: "Sao ngu quá vậy"! Trong gia đình thì tôi không bao giờ được quyền nói lên ý kiến của mình, vì ông bà, cha mẹ, cô chú thường nói: "Con nít tụi bay im đi, biết cái gì mà nói". Qua những dữ kiện trên, tâm trí tôi lặng lẽ thiết lập một chương trình: "Tôi là người ngu, im đi, biết cái gì mà nói, nói bậy sẽ bị ăn đòn". Lớn lên tuy đã tốt nghiệp kỹ sư và đi làm lâu năm nên tôi biết rõ công việc của mình, nhưng mỗi khi phải đi họp (réunion, meeting) trong sở thì tôi rất sợ, tim đập mạnh, đầu óc tê cứng, tay chân lạnh ngắt, lúc đó tôi giống như một tù nhân sắp bị đưa ra pháp trường. Trong sở làm, từ chủ hãng cho đến nhân viên, ai nấy đều quý mến tôi vì tôi làm việc tốt và chăm chỉ, lúc nào cũng đối xử đàng hoàng lịch sự với mọi người, nhưng không hiểu tại sao đến các buổi họp là tôi sợ hãi, mặc dù biết sợ như vậy là vô lý làm tôi ăn nói vụng về. Nguyên nhân gây ra sợ hãi chính là cái chương trình cũ (old program) mà tôi đã đưa vào tâm mình năm xưa ở tiểu học, mỗi khi bị đứng ra trước một nhóm người để nói thì chương trình này nhảy ra hoạt động, nó nói: "Tôi là người ngu, im đi, biết cái gì mà nói, nói bậy sẽ bị người ta chửi".

Hồi cô Tám được ba tuổi, cha cô phải đi quân dịch và tử trận bỏ lại hai mẹ con cô bơ vơ. Vài năm sau mẹ cô mắc bệnh qua đời bỏ cô ở lại cho bà ngoại nuôi nấng. Lúc đó tuy hãy còn nhỏ không biết suy nghĩ nhiều nhưng trong tiềm thức bé Tám đã âm thầm đưa vào (set up) một chương trình: "Tôi là người bị bỏ rơi, những người tôi thương trước sau gì cũng bỏ rơi tôi"! Lớn lên lập gia đình, cô không dám lấy người cô thương mà lại lấy một người khác vì sợ nếu lấy người đó thì họ sẽ bỏ cô. Vì lấy chồng mà không thương nên cô không có hạnh phúc, thường buồn bực và bất mãn. Bởi gia đình không hạnh phúc nên cô hay lo sợ là chồng sẽ bỏ cô. Đúng như cô dự đoán mong chờ, sau hai chục năm chung sống chồng cô đã bỏ đi cưới người khác. Tuy không thương yêu gì chồng nhưng cô cảm thấy rất đau khổ, cái chương trình "bị bỏ rơi" lại hiện hành làm cô khóc suốt ngày, người ngoài tưởng cô nhớ chồng nhưng thật ra cô khóc cho thân phận "bị bỏ rơi". Cô Tám có năm đứa con, ba đứa đã lập gia đình, cứ mỗi lần làm đám cưới cho con, bên ngoài cô tỏ vẻ vui mừng nhưng trong lòng đau như cắt vì cảm thấy lại "bị bỏ rơi nữa". Hai đứa còn lại đang ở với cô vì còn đi học và sắp ra trường. Cô rất mong con cái học thành tài nhưng trong thâm tâm cô nơm nớp lo sợ học xong chúng nó sẽ ra ở riêng và cô sẽ sống cô đơn. Mấy đứa lớn tuy đã lập gia đình nhưng ở gần và hàng tuần đều ghé thăm mẹ nhưng cô không thấy được sự hiếu thảo đó mà tiếp tục sống trong hồi hộp lo âu sợ "bị bỏ rơi".

Chúng ta thường sống với những chương trình cũ rích không hợp thời hợp thế, chúng làm ta mắc kẹt không sống an vui hạnh phúc được trong hiện tại.

Tất cả những mặc cảm như tự ti, tự tôn, tội lỗi, v.v... đều là những chương trình nằm sâu trong tiềm thức. Mặc có nghĩa là thầm lặng, cảm là cảm nhận, mặc cảm là sự cảm nhận âm thầm lặng lẽ trong tâm thức. Mặc cảm tự ti (complexe d'infériorité) là âm thầm cảm nhận, cho rằng mình là người ngu, dở, thua kém kẻ khác. Vì bị chương trình tự ti điều khiển nên ta trở thành nhút nhát, sợ hãi, mắc cỡ. Càng nhút nhát, sợ hãi, mắc c thì ta lại càng tự ti, càng thấy mình dở và thua kém. Mặc cảm tự tôn (complexe de supériorité) là âm thầm cho mình là người tài giỏi hơn kẻ khác. Vì bị chương trình tự tôn điều khiển nên ta dễ kiêu mạn, ăn nói phách lối, khinh người. Mặc cảm tội lỗi (culpabilité) là âm thầm cho mình có tội, mỗi khi gặp chuyện không may, dù lớn dù nhỏ xảy ra đều ăn năn hối hận tự trách lỗi tại mình nên mới ra nông nỗi như vậy. Người này thường bị ăn năn hối hận dày vò, sống trong hồi hộp, sợ hãi, sợ bị trừng phạt.

Những mặc cảm này, xem ra có vẻ không nguy hiểm vì không làm hại người khác một cách trực tiếp, nhưng chúng cũng là một loại phiền não vì làm ta khổ sở. Nếu khổ sở, không hạnh phúc thì từ từ ta sẽ ảnh hưởng đến những người xung quanh như vợ chồng, con cháu, cha mẹ, anh em và làm họ khổ lây.

Bài trước: Khổ

"Checkmate" nghĩa là gì?

Anh chàng người Mỹ Matt Gone xăm toàn thân 'tạo dáng' tại lễ khai mạc lễ hội xăm mình 5 ngày ở Venezuela. Ảnh: Juan Barreto.

'Checkmate' (chiếu tướng hết cờ) là từ bạn nói trong môn cờ vua khi bạn tấn công vua của đối phương mà vua không còn nước nào để đi nữa, có nghĩa là bạn thắng ván cờ. Từ này giờ đây được dùng trong các bối cảnh khác nghĩa là 'chiến thắng toàn diện'.

Ví dụ
The rebels surrounded the president's palace. He had no option but to agree to their demands: it was checkmate.
Unless we make some serious changes around this business our competition will catch up and it will be checkmate.
It can also be used as a verb:
Garry Kasparov checkmated the chess computer after a fine series of moves.

Xin lưu ý
Xin đừng nhầm với 'stalemate' (bế tắc) mô tả tình huống trái ngược với 'checkmate', cũng ở trong môn cờ vua, khi không có nước nào khả thi.

I could only afford £150,000 for the house but the seller would go no lower than £155,000. We reached a stalemate and called the deal off.

Thực tế thú vị:
Các khuôn hình (pattern) của những hình vuông màu đen và trắng trên bàn cờ được gọi là 'chequered' trong tiếng Anh Anh và 'checkered' trong tiếng Anh Mỹ. Bản thân các hình vuông được gọi là 'cheques' hay 'checks' tương ứng. Tuy nhiên động từ "to check" (chiếu tướng) được viết giống nhau ở cả hai nơi.

Lead and They Will Follow


A Leader is one who can bring people to places where they would not have gone by themselves.

Transform_Jan 31


Faith is like electricity. You can't see it, but you can see the light.
- Author Unknown
Assignment: Today, acknowledge that you are seeing the light.