Journey in Life: 02/02/13

Saturday, February 2, 2013

Ăn cắp bản quyền và gian lận thương mại thúc đẩy cách mạng công nghiệp nước Mỹ


Đế chế công nghiệp của Francis Cabot Lowell được xây dựng, một phần, dựa trên ăn cắp tài sản trí tuệ. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ). Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

Mặc dù thường được che đậy (gloss over) trong các sách giáo khoa trung học, khi còn là quốc gia non trẻ và mới công nghiệp hóa, nước Mỹ đã tích cực chủ động trong việc ăn cắp tài sản trí tuệ mà ngày nay nước này vẫn kiên quyết yêu cầu các nước khác cấm (hành vi ăn cắp đó).

Hay nói cách khác, thông điệp của Chính phủ Mỹ đối với Trung Quốc và các quốc gia khác ngày nay là "Làm như tao nói, đừng như tao đã làm".

Trong những năm non trẻ (adolescent) của mình, nước Mỹ là hang ổ (hotbed) ăn cắp bản quyền và buôn lậu công nghệ, đặc biệt là trong ngành dệt may, mua cả máy móc và các thợ máy (machinist) lành nghề mà vi phạm luật xuất khẩu và di cư của nước Anh. Chỉ sau khi trở thành cường quốc công nghiệp trưởng thành, nước Mỹ mới có các chiến dịch mạnh mẽ yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Nước Mỹ nổi lên từ Chiến tranh Cách mạng (Revolutionary War) nhận thức sâu sắc được tính ưu việt công nghệ của châu Âu. Nó khao khát bắt kịp và nhanh chóng thu hẹp khoảng cách công nghệ. Hi vọng phổ biến là việc mua những công nghệ công nghiệp mới từ nước ngoài sẽ góp phần giải quyết việc thiếu hụt lao động kinh niên của đất nước và tăng cường tính tự chủ cũng như khả năng cạnh tranh.

Như báo (Gazette) Pennsylvania đưa tin vào năm 1788: "Các máy móc dường như có tầm quan trọng lớn (immense consequence) đối với đất nước." Do đó, việc "mượn các phát minh của châu Âu" là thích hợp. Tất nhiên, "mượn" ở đây thật sự nghĩa là "ăn cắp", bởi vì hiển nhiên là không hề có ý định trả lại các phát minh này.

Bản tuyên ngôn (Manifesto) của Hamilton
Thông báo sứ mệnh thật thà nhất liên quan đến vấn đề này là 'Báo cáo công nghiệp' (Report on Manufactures) của Alexander Hamilton, trình lên Quốc hội vào tháng 12 năm 1791. 'Để mua tất cả các máy như được biết đến ở bất kì đâu ở châu Âu chỉ có thể yêu cầu một điều khoản thích hợp và những đau đớn thích đáng,' Hamilton viết. 'Kiến thức về một vài máy móc quan trọng nhất đã được sở hữu. Trong hầu hết các trường hợp, sự chuẩn bị của những máy móc này ở đây là thực hiện được trong những điều kiện gần như tương tự.'

Chú ý rằng Hamilton không hề thúc giục sự phát triển các phát minh bản xứ (indigenous) để cạnh tranh, mà thay vào đó là mua trực tiếp công nghệ của châu Âu thông qua 'điều khoản thích hợp và những đau đớn thích đáng' - có nghĩa là, vi phạm luật lệ của các nước khác. Như báo cáo đã thừa nhận, hầu hết các quốc gia công nghiệp 'cấm, thông qua trừng phạt nghiêm khắc, việc xuất khẩu công cụ (implement) và máy móc được họ phát minh và cải tiến.' Ít nhất một phần của 'Báo cáo công nghiệp' do đó có thể được coi là bản tuyên ngôn kêu gọi sự ăn cắp và buôn lậu dưới sự bảo trợ của nhà nước (state-sponsored).

Luật Bằng sáng chế Mỹ đầu tiên khuyến khích chính sách này. Mặ dù luật bảo vệ các nhà phát minh trong nước, luật không dành phần tương tự (same courtesy) đối với các nhà phát minh nước ngoài - họ không thể có được bằng sáng chế Mỹ đối với các phát minh họ đã được đăng ký ở châu Âu. Trên thực tế, điều này có nghĩa là một ai đó có thể ăn cắp phát minh nước ngoài, buôn lậu vào nước Mỹ, và phát triển nó cho các ứng dụng thương mại nội địa mà không phải sợ bị trả đũa (reprisal) pháp lý.

Hạn chế quan trọng nhất đối với buôn lậu máy móc là những máy móc này sẽ vô ích nếu không có ai đó biết cách sử dụng chúng, vì không có hướng dẫn. Vì vậy, cũng không kém phần quan trọng như các máy móc, là các thợ máy từ quần đảo Vương quốc Anh (British Isles) biết cách vận hành những máy móc này. Luật di cư Vương quốc Anh cấm các thợ máy lành nghề bỏ nước, nhưng hàng nghìn người vẫn bí mật (clandestine) đến nước Mỹ.

Các vụ gián điệp (espionage) nổi bật
Nổi tiếng nhất là Samuel Slater. Slater đã đi từ một anh thợ học việc lên đến chức quản lý cấp trung tại nhà máy (mill) Jedediah Strutt ở Milford, nước Anh. Hấp dẫn (entice) bởi các câu chuyện về cơ hội và thành công ở nước Mỹ, ông giả vờ là một lao động giản đơn và lên tàu đi Mỹ vào năm 1789. Để lại sau lưng dụng cụ, máy móc, mô hình và các bản vẽ, tất cả những gì ông mang theo chỉ là trí nhớ.

Trong khi đó, ở Rhode Island, nhà tư bản công nghiệp (industrialist) Moses Brown đang tìm kiếm ai đó có thể biết (figure out) làm thế nào để sử dụng máy quay (spinning) sợi mà ông vừa nhập lậu (illicitly). Slater nhận việc và chuyển đến Pawtucket. Các máy móc được nhập lậu của Brown không vận hành được, nhưng Slater đã tháo dỡ (cannibalize) các bộ phận và làm thành máy của riêng mình. Chẳng bao lâu sau, các nhà máy kiểu Slater sinh sôi nảy nở (proliferate) và sản lượng vải New England tăng gấp 50 lần từ năm 1805 đến năm 1815.

Nhưng chính doanh nhân Francis Cabot Lowell ở Boston là người đã biến đổi thật sự ngành công nghiệp dệt may của New England thành hệ thống nhà máy cạnh tranh quốc tế. Và ông làm được như vậy, phần lớn, bằng một vụ gián điệp công nghiệp nổi bất nhất trong lịch sử Mỹ.

Lowell đến Vương quốc Anh vào năm 1810 với (allegedly) lí do sức khỏe. Thương lái (merchant) giàu có này không bị các nhà công nghiệp địa phương coi là đối thủ và vì vậy không nghi ngờ gì khi ông đi du lịch một vòng các nhà máy ở Glasgow vào mùa xuân năm 1811. Không lâu sau đó, ông thăm các nhà máy khác để nắm bắt 'tất cả các thông tin có thể' về sản xuất bông 'với cái nhìn sẽ áp dụng máy móc cải tiến ở Mỹ,' theo như đối tác kinh doanh của ông kể lại (recount).

Các túi của Lowell bị kiểm tra trước khi trở về Mỹ, nhưng các viên chức hải quan Vương quốc Anh đã ra về tay không (empty-handed). Lowell, người theo học toán học tại trường Đại học Havard và có trí nhớ tuyệt vời (exceptional), sử dụng bộ óc của mình để 'buôn lậu' các bí mật công nghiệp Vương quốc Anh.

Sự biến đổi (Transformation) của Lowell
Với sự trợ giúp của chuyên gia cơ khí (mechanic) Paul Moody, Lowell đã tái tạo và thậm chí cải tiến các mô hình ban đầu. Được hỗ trợ bởi Công ty công nghiệp Boston mới thành lập, ông đã mở nhà máy bông đầu tiên ở Waltham, Massachusetts vào năm 1813. Đây là nhà máy đầu tiên ở nước Mỹ mà đã mang tất cả công đoạn của quy trình sản xuất dệt - từ chải (carding) và kéo sợi (spinning) đến dệt (weaving) và hồ vải (dressing) dưới một mái nhà.

Mô hình tất cả trong một này là sự phát triển biến đổi toàn diện (transformative) trong sản xuất dệt may, đã thay thế các nhà máy vận hành bởi các hộ gia đình nhỏ và làm cho ngành công nghiệp Mỹ lần đầu tiên cạnh tranh được với Vương quốc Anh. Hệ thống mới này cũng đòi hỏi sự đầu tư quy mô lớn hơn nhiều - điển hình (exemplify) là sự hình thành toàn bộ thị trấn nhà máy, được đặt tên là Lowell.

Nước Anh nới lỏng các hạn chế theo từng giai đoạn từ năm 1824 đến năm 1843. Các lệnh cấm di cư, trái với sự ủng hộ của công chúng ngày càng tăng về tự do di trú, đã được dỡ bỏ (lift) vào năm 1824. Trong khi các kiểm soát ngặt nghèo vẫn còn được áp dụng đối với xuất khẩu máy móc kéo sợi và dệt, hệ thống cấp phép được áp dụng đối với các thiết bị công nghiệp khác.

Tuy nhiên, việc cấp phép đến lượt nó lại tạo cơ hội cho các hình thái buôn lậu khác: một nhà xuất khẩu có thể nhận được giấy phép để chở một loại máy và dùng nó để thực sự chở một máy khác - đánh cuộc vào việc các kiểm soát viên hoặc không kiểm tra gì ngoài giấy tờ hoặc không thể phân biệt được sự khác nhau này. Rõ ràng là, thông lệ này đã được thể chế hóa đầy đủ mà một nhà xuất khẩu bất hợp pháp thậm chí có thể lấy bảo hiểm để bảo vệ những vụ bắt giữ thường xuyên.

Các biện pháp kiểm soát xuất khẩu của Vương quốc Anh cuối cùng đã được hủy bỏ (repeal) vào năm 1843 với sự lan truyền học thuyết thương mại tự do. Vào thời điểm đó, nước Mỹ, đã trở thành một trong những nền kinh tế công nghiệp hàng đầu thế giới - một phần không nhỏ, nhờ vào sự né tránh thành công các lệnh cấm xuất khẩu và di trú của Vương quốc Anh.

(Peter Andreas là giáo sư khoa học chính trị và giám đốc lâm thời Viện Nghiên cứu quốc tế Watson tại Trường đại học Brown. Bài luận này được chuyển thể từ quyển sách mới của ông 'Quốc gia buôn lậu: Buôn bán bất hợp pháp hình thành nước Mỹ như thế nào - "Smuggler Nation: How Illicit Trade Made America.")

Sơn Phạm
Bloomberg
---------------
Phản hồi tuyệt vời của bác Nguyễn Xuân Nghĩa, trên cả mong đợi khi langdu mời bác xem qua bài này:

Anh giáo sư Peter Andreas này viết cuốn sách cho vui!

Lẩm cẩm lắm khi suy luận chuyện thế kỷ 19 vào thế kỷ 21 mà kết án Hoa Kỳ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sau khi đã ăn cắp một số sáng kiến của Anh.

Cuối thể kỷ 18, Hoa Kỳ thành hình sau khi giành lại độc lập từ Đế quốc Anh và bị chiến tranh, áp lực và phong toả từ nước Anh. Một trong nhiều người Mỹ đã vượt qua chiến tuyến muôn mặt ấy mà thu nhận công nghệ của Anh và Âu Châu, là Lowell. Nhưng ông ta không đơn giản là tay ăn cắp như Andreas viết ra một cách sơ sài và mị dân, đấy là một doanh gia có tài và dù mất ở tuổi rất trẻ là 42 vẫn để lại một cơ sở công nghiệp lớn lao.

Đấy là chuyện của người ta. Hãy tưởng tượng hoàn cảnh của Việt Nam sau khi giành lại độc lập từ Trung Quốc năm 938 và bị áp lực rất nặng, kể cả về quân sự. Khi ấy phải xoay trở ra sao?

Bây giờ, căn cứ trên sự hình thành của chủ nghĩa tư bản Mỹ và cuộc cách mạng kỹ nghệ tại Hoa Kỳ mà cho rằng đấy là Mỹ ăn cắp từ Âu Châu nên qua thế kỷ 21 không có quyền cấm Trung Quốc ăn cắp! Lý luận ấu trĩ và nguy hiểm cho quyền lợi của nước Mỹ. Ta có thể lý luận theo lối đó là Việt Nam không có kết án Trung Quốc về vụ đánh cướp Hoàng Sa vì ngày xưa đã lấy Thủy Chân Lạp. Loại lý luận này rất hợp ý Bắc Kinh!

Xoay ngược vấn đề và liên hệ đến bài viết của Khôi An về Intel:

Ngày xưa, Trung Quốc bắt ta triều cống cho họ trí thức và chuyên gia, lại còn qua xứ ta tịch thu và xóa bỏ kiến thức để chỉ còn có hệ thống văn hoá chính trị của họ. Nếu không quên trí nhớ, ta nhớ đến một giai thoại vui: họ còn cấm bán một số món hàng cho nước Nam. Trạng nguyên Lương Thế Vinh muốn lấy giống ngô bắp về trồng tại Việt Nam thì phải giấu vào chỗ kín! Mấy chuyện lạc hậu đó phải chấm dứt.

Ngày nay, mà từ lâu rồi, Hoa Kỳ lại mở cửa cho thanh niên xứ khác vào học hỏi kiến thức của họ chứ cũng chẳng giấu diếm gì. Vì sau cùng thì kiến thức đó có lợi cho mọi người - dù nhân tài xứ khác có ở lại Mỹ hay hồi hương làm việc. Ăn thua là chính sách của xứ khác khi đào tạo, cho xuất ngoại hoặc sử dụng nhân tài của mình. Nếu có bị thua kém thì hãy nghĩ là vì mình ngu hơn là vì thiên hạ gian!

Và đừng vội tin đám trí thức bá láp như kẻ dám viết rằng "chuyện ăn cắp mới giúp cho cuộc cách mạng Mỹ" theo bài đăng trên Bloomberg. Vì sao một phần ba kinh tế gia của Harvard ngày nay lại đến từ Âu Châu?

Người ta có thể viết về lịch sử hình thành của nước Mỹ rất côn đồ gian trá, nhưng chẳng thể vì đó mà bênh vực các chế độ gian trá côn đồ đời nay!

Bài trước:  Giải pháp chống khủng hoảng nợ tồi tệ nhất mà một nước có thể nghĩ ra

Đấu súng kiểu Texas

Khi hai đối tác thành lập một doanh nghiệp hay một công ty liên doanh, họ thường phải đưa ra một quy định nêu rõ sẽ phải làm gì nếu một trong hai bên muốn kết thúc quan hệ với nhau. Có một quy tắc chung cho trường hợp này được gọi là Đấu súng kiểu Texas. Bên nào không hài lòng sẽ đưa ra mức giá. Bên kia khi đó hoặc sẽ mua lại phần của bên thứ nhất, hoặc bán phần của mình với cùng mức giá nói trên. Nếu như bạn thách đấu, đâu là cái giá bạn chọn?

Hầu hết mọi người đều nghĩ rằng tốt nhất là đưa ra mức giá mà mua lại hay bán lại đều cảm thấy hài lòng như nhau. Nếu bạn định giá liên doanh của mình là 100 triệu USD, khi đó bạn sẽ đưa ra mức giá 50 triệu USD. Bạn không biết bên kia sẽ làm gì nhưng bằng cách này bạn bảo đảm rằng lúc nào bạn cũng nhận được một nửa chiếc bánh.

Thực tế là bạn có thể nhận được nhiều hơn thế. Để xem điều đó có thể thực hiện như thế nào, chúng ta hãy cùng đi đường vòng để nghiên cứu một trò chơi có tên "Tôi cắt, bạn chọn" - cũng là một kiểu "đấu súng" nhưng là trò chơi của trẻ con. Hai đứa trẻ muốn chia một chiếc bánh trứng đường với chanh và đứa nào cũng muốn phần hơn. Quy tắc cổ điển ở đây là để một đứa cắt chiếc bánh và đứa kia thì chọn lấy một trong hai miếng đã cắt.

Đứa trẻ thứ hai là đứa chọn bánh, phải cảm thấy hài lòng với miếng bánh nó chọn ít nhất là bằng đứa cắt bánh, bởi vì nó được quyền lựa chọn. Đứa thứ nhất cắt bánh, biết như vậy và nó hiểu rằng nó không thể lấy miếng to hơn một nửa chiếc bánh. Nếu nó chia chiếc bánh theo tỷ lệ 60/40, đứa thứ hai sẽ lấy ngay miếng to hơn và để lại cho nó miếng bé. Do vậy, tốt nhất là đứa thứ nhất cắt đều chiếc bánh làm đôi.

Tuy nhiên, cách phân tích như vậy quá đơn giản. Nó đã giả định từ trước rằng cách hai đứa trẻ nhìn nhận chiếc bánh là giống nhau. Giả sử theo cách khác, rằng đứa thứ hai thích ăn phần xung quanh bánh hơn là phần ở giữa, và đứa thứ nhất biết như vậy. Nếu đây là trường hợp này thì liệu đứa thứ nhất sẽ chia bánh như thế nào? Nó có thể cắt một nhát chính giữa. Tuy nhiên, nó sẽ được nhiều hơn nếu nó cắt chéo chia chiếc bánh làm ba phần với hai phần rìa nổi bật. Miếng bánh nằm trên sẽ to hơn, tuy nhiên miếng nằm dưới lại có nhiều phần riềm bánh hơn và do vậy sẽ lôi kéo đứa thứ hai chọn nó và để lại miếng to hơn cho đứa thứ nhất.

Bây giờ hãy áp dụng bài học này vào quy tắc Đấu súng kiểu Texas. Điều quan trọng không phải là bạn đánh giá liên doanh như thế nào mà là đối tác bên kia đánh giá nó như thế nào. Một chiến lược đúng đắn sẽ dựa trên đánh giá mang tính cảm nhận của bạn về đánh giá mang tính cảm nhận của đối tác bên kia về chiếc bánh.

Giả sử rằng bạn đánh giá liên doanh của mình là 100 triệu USD và bạn biết rằng đối tác của bạn chỉ đánh giá nó bằng 60 triệu USD. Khi đó chiến lược đúng đắn sẽ là tìm xem đâu là mức giá mà đối tác của bạn sẽ hài lòng như nhau khi mua cũng như khi bán và cho anh ta một chút động cơ để lựa chọn theo cách mà bạn muốn. Nếu bạn đưa ra mức giá 50 triệu USD thì đối với bạn, anh ta mua hay bán cũng như nhau. Nhưng đối với anh ta thì anh ta sẽ muốn bán cho bạn theo mức giá đó hơn rất nhiều so với việc trả thêm 50 triệu USD để nhận được một cơ ngơi theo anh ta chỉ đáng giá 60 triệu. Do vậy, tốt nhất là bạn đưa ra mức giá 31 triệu. Lúc này thì anh ta sẽ không quá vui mừng nhưng cũng vừa đủ để lựa chọn bán cho bạn chứ không mua lại. Khi đó, bạn sẽ mua được liên doanh với mức giá chỉ 31 triệu thay vì 50 triệu. Nếu bạn muốn đối tác của bạn quyết định nhanh hơn thì hãy đặt mức giá 35 triệu USD - dù sao thì bạn cũng vẫn còn lời chán.

Liệu có phải hợp lý không nếu đặt giả thiết là bạn biết được giá trị của liên doanh đối với đối tác của mình? Dĩ nhiên bạn khó có thể biết chính xác, tuy nhiên thường thì bạn có thể có một ý tưởng khá gần với thực tế. Hãy nhớ rằng bạn và đối tác của bạn đã từng làm việc với nhau, vì vậy bạn có cơ hội hiểu được đối tác của bạn đánh giá về liên doanh như thế nào. Thậm chí bạn và đối tác đã có thể tranh luận về giá trị của liên doanh một lúc nào đó...

Vậy nếu bạn ở trong tình huống Đấu súng kiểu Texas và bạn không có được ý tưởng nào hợp lý về giá trị cảm nhận của đối tác của bạn về doanh nghiệp thì sao? Trong trường hợp này thực tế là bạn không thể đoán trước được đối tác của mình sẽ làm gì. Bạn có thể quay lại cách tiếp cận ban đầu: nếu bạn đánh giá doanh nghiệp của mình là 100 triệu USD, hãy đặt mức giá 50 triệu và bảo đảm rằng lúc nào bạn cũng nhận được số tiền đó bất kể đối tác của bạn mua hay bán. Tuy nhiên có một sự lựa chọn khác để bạn cân nhắc. Hãy khuyến khích đối tác của bạn "bắn" trước. Bằng cách này bạn sẽ được quyền lựa chọn mua hoặc bán. Nếu đối tác của bạn đưa mức giá dưới 50 triệu, bạn sẽ mua; cao hơn thì bán. Cách nào đi nữa thì bạn cũng được lợi. Nếu đối tác của bạn đưa ra mức giá đúng 50 triệu thì bạn cũng không thiệt hơn so với khi chính bạn đặt giá ở mức giá đó. Như vậy trong trường hợp nếu bạn không chắc chắn vào nhận định của mình về đánh giá của đối tác của bạn thì hãy cố gắng để là người "bắn" sau. Bạn sẽ không thiệt hơn mà chỉ có khả năng có lợi hơn. Trong quy tắc Đấu súng kiểu Texas chiến lược đúng hoàn toàn phụ thuộc vào đánh giá theo cảm nhận của bạn. Điều này đúng trong mọi trò chơi. Cảm nhận luôn là một phần trong bức tranh tổng thể. Đôi khi chúng còn đóng vai trò chính yếu.
P94-98 - Co-opetition

Cũng thường thôi

Có hai điều làm tâm bị dính mắc, đó là ưa và ghét. Khi ưa cái gì tâm thường nghĩ đến cái đó và khi ghét cái gì tâm cũng nghĩ đến luôn. Tốt nhất là không ưa không ghét, đối cảnh vắng lặng, "bình thường tâm thị đạo". Giống như chuyện một chú tiểu đi tu từ nhỏ chưa bao giờ thấy đàn bà con gái. Một hôm có việc thầy dẫn chú xuống núi đến một làng nọ. Đi ngang thấy một cô gái đẹp đang giặt đồ bên bờ sông, thầy sợ chú bị cám dỗ nên nắm tay kéo chú đi nhanh và bảo chú đừng nhìn, coi chừng đó là "con cọp" ăn thịt người. Nhưng chẳng may, chú đã nhìn thấy "con cọp" rồi. Thầy sợ chú bị dính nên căn dặn thêm: "Con cọp đó dễ sợ lắm, bề ngoài thấy hiền nhưng bên trong đầy nanh vuốt ăn thịt người lúc nào không hay".

Nghe thầy nói vậy nhưng chú lại thấy nó có vẻ dễ thương làm sao, suốt dọc đường hình ảnh "con cọp" cứ lởn vởn trong đầu chú. Về đến chùa chú cố gắng xua đuổi con cọp đó ra khỏi đầu nhưng càng đuổi nó càng hiện và cuối cùng chú tương tư "con cọp" luôn. Thấy chú biếng ăn, bỏ ngủ, lơ là tụng kinh niệm Phật, thầy gọi chú vào hỏi nguyên do thì chú thú thật là chú nhớ con cọp quá và muốn xuống núi để thấy lại nó! Câu chuyện tiếp tục ra sao thì để bạn đọc tưởng tượng lấy. Nếu tôi là thầy của chú, tôi sẽ cho chú thấy sự thật, cho chú đứng lại nhìn cô gái và nói cho chú biết đó là một người nữ, khác phái chứ không phải con cọp. Sau đó cho chú thấy những cô gái khác đẹp hơn để cuối cùng tự chú nhận thấy một người con gái không có gì đặc biệt, cũng bình thường như bao nhiêu người khác mà thôi. Tâm không động (vắng lặng) vì thấy cảnh bình thường.

Bài trước: Mặc cảm

"To a Tee" nghĩa là gì?

Tượng sáp giống như tạc của Nữ hoàng Elizabeth II và Hoàng thân Philip tại bảo tàng Madame Tussauds ở London.

Tee ở đây có nghĩa là chữ “T” trong bảng chữ cái. Thành ngữ 'to a tee' có nghĩa là hoàn hảo, chính xác, với đầy đủ mọi chi tiết.

Ví dụ
“My wife suggested that we have a nice portrait painted of our family. So we sat for the artist, and a couple of weeks later he told us he’d finished. I had my doubts that the painting would come out really looking like us. But when he unveiled it, I was astonished! He captured our likenesses to a tee (giống như tạc).”

“With my job interview coming up, I wanted to look my best. I decided it was worth spending extra money on an expensive designer suit. After trying on several, I found one that fit me to a tee (vừa như in). It was as if a tailor had made it to my exact measurements.”


Death có nghĩa là cái chết. Thành ngữ to death nghĩa đen là cho đến chết, và nghĩa bóng là tới một mức độ không thể chịu đựng được.

Ví dụ
“One of my neighbors stopped by the other day to bring me some mail that had been mistakenly delivered to her house. She was very helpful but she couldn’t stop boasting about her children’s accomplishments. Maybe she found it interesting, but I was bored to death (chán ngấy). I guess she had no idea how incredibly dull she sounded.”

“I remember walking late at night in New York City years ago. A stranger came up behind me and pointed a gun at my back. He told me to hand over my wallet. I said I didn’t have it on me, which was the truth. I was scared to death (sợ gần chết) he was going to shoot. Fortunately, he ran and disappeared into a crowd.”

Knowledge is not Power?


Knowledge is not power. Only applied knowledge is!