Journey in Life: 06/07/13

Search This Blog

Friday, June 7, 2013

Chính phủ liên bang giải cứu thị trường bất động sản

Trái phiếu của Ngân hàng cho vay mua nhà liên bang (Federal Home Loan Bank). Nguồn: iCollector.com

Tháng 10 năm ngoái, giáo sư Philip Scranton có bài ở Bloomberg, kể về ngành xây dựng ở Mỹ đã bùng nổ trong suốt những năm 1920 khi các tòa nhà, nhà máy, kho xưởng và nhà dân mới được hồ hởi xây dựng trên khắp nước Mỹ.

Thị trường chứng khoán đang phát triển, ở đó các trái phiếu thương mại có thể được mua đi bán lại để lấy tiền cho xây dựng bất động sản, đã góp phần thổi bùng cơn sốt nhà ở. Tuy nhiên, vào năm 1928, Cục Dự trữ liên bang đã thắt chặt chính sách tiền tệ để ngăn ngừa đầu cơ, đặc biệt trong thị trường cổ phiếu, và đầu tư nhà ở bắt đầu suy giảm.

Khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến (trigger) thất nghiệp tràn lan và phá sản hàng loạt, khả năng trả nợ tiền vay mua nhà của các chủ nhà tan thành mây khói (crumble). Điều này đặc biệt đáng lo ngại, bởi nhiều khoản vay thế chấp mua nhà là những thỏa thuận vay 5 năm với tiền trả lớn (balloon payment*) vào cuối kỳ. Các ngân hàng đã liên tục ký lại những hợp đồng này, điều chỉnh lãi suất theo thị trường.

Khi giá nhà tăng, các gia đình thường vay khoản vay thế chấp thứ hai với lãi suất cao để tân trang nhà cửa hay để lấy tiền mặt cho các mục đích khác. Vào năm 1932, việc gia hạn  không còn được thực hiện và các khoản vay thế chấp thứ hai đã không được trả.

Hệ thống tài chính-vay thế chấp này nhanh chóng sụp đổ. Các vụ tịch biên nhà ngày càng nhiều, lên tới 1.000 vụ/ngày vào cuối năm 1932. Các tài sản, được mua bằng tiền từ các khoản vay thế chấp, đã bị mất giá khi tiền trả vay của chủ nhà trở nên không đáng tin cậy. Chính phủ phải làm gì?

Tổng thống Herbert Hoover, mặc dù miễn cưỡng ủng hộ các chương trình chính phủ lớn, đã nhận ra mức độ nghiêm trọng của thảm họa sắp tới. Tổng thống đề xuất Quốc hội tạo ra một hệ thống các Ngân hàng cho vay mua nhà liên bang, với 12 khu bầu cử (district?) và hội viên được chọn từ các định chế nắm giữ khoản vay thế chấp, bao gồm các công ty bảo hiểm, ngân hàng hợp tác xã và các hiệp hội đất đai (dành cho người di cư, homestead).

Ý tưởng chủ đạo của hệ thống này là 'các trái phiếu, được bảo lãnh bởi các khoản vay thế chấp được chấp nhận bởi hệ thống cho vay mua nhà, sẽ được chào tới công chúng để tăng lưu thông tiền tệ.' tờ New York Times viết.

12 ngân hàng này sẽ cho vay ít nhất là 125 triệu USD, ban đầu được cấp vốn bởi Tập đoàn tài chính tái thiết (Reconstruction Finance Corporation), tới các công ty xây dựng và cho vay mắc nạn, lấy các khoản vay thế chấp tốt làm vật thế chấp. Sau đó, các ngân hàng này sẽ chứng khoán hóa những cổ phần này (holdings), vì vậy khôi phục tài khoản tiền mặt của họ để tiếp tục cho vay, gia tăng dòng tiền mặt của đất nước.

Ngành ngân hàng ngay lập tức chống đối. Lý do phản đối chủ yếu là hệ thống ngân hàng cho vay này 'khiến chính phủ can thiệp hơn nữa vào kinh doanh tư nhân,' tờ New York Times viết. 'Không hề thiếu các quỹ tiền mặt cho các định chế cho vay thế chấp mua nhà. Dự luật này sẽ khuyến khích việc xây nhà không lành mạnh.' Thậm chí tồi tệ hơn, các trái phiếu của những ngân hàng cho vay mua nhà sẽ không thể bán được.

Bất chấp các chống đối, các Ủy ban Thượng viện và Hạ viện đã thúc đẩy dự luật, và vào ngày 22 tháng Bảy, năm 1932, Tổng thống Hoover đã ký dự luật này. Chủ tịch của định chế mới, Franklin Fort, ngay sau đó đã kêu gọi thời kỳ miễn trả tiền vay (mortgage holiday) để ngăn chặn các vụ tịch biên nhà cửa cho đến khi hệ thống này có thể được dựng nên và vận hành ổn định. 40 tiểu bang xác nhận đồng ý.

Các ngân hàng cho vay mua nhà liên bang bắt đầu giao dịch (open their ledger) vào ngày 15 tháng Mười, mặc dù, theo đại diện của New York - Fiorello LaGuardia nói, không rõ 'ảnh hưởng của các định chế ích kỷ có lấn át' nhu cầu của các chủ nhà đang gặp khó khăn (hard-pressed) hay không?

Tổng thống Hoover đã cố hết sức mình, và ngày bầu cử chỉ còn cách 3 tuần nữa.

Sơn Phạm
Bloomberg



* A final loan payment that is significantly larger than the payments preceding it.

60.000 người biểu tình phản đối tái khởi động điện hạt nhân ở Nhật Bản

Khoảng 60.000 người đã tập trung tại thủ đô Tokyo của Nhật Bản vào chủ nhật, ngày 2/6 vừa qua để phản đối các kế hoạch gần đây của chính phủ về việc sẽ tái khởi động các lò phản ứng hạt nhân.

Những người biểu tình tập trung tại Công viên Shiba, sau đó đi về phía tòa nhà Quốc hội. Trong số những người tổ chức cuộc biểu tình này có nhà văn đã từng đoạt giải Nobel, Kenzaburo Oe. Ông Kenzaburo Oe kêu gọi chính phủ Nhật Bản đình chỉ hoạt động của các nhà máy điện hạt nhân trước những lo ngại về an toàn (out of fears for safety).

Chính phủ Nhật Bản trước đó đã tuyên bố có thể sẽ tái hoạt động các lò phản ứng hạt nhân theo sự cho phép của Cơ quan quy chế hạt nhân Nhật Bản (NRA), mà những hướng dẫn mới về an toàn sẽ được áp dụng vào đầu tháng Bảy.

Hồi tháng 7/2012, một trong những cuộc biểu tình lớn chưa từng có của Nhật Bản với 170.000 người đã nổ ra khi cựu Thủ tướng Yoshihiko Noda quyết định khởi động lại hai lò phản ứng đầu tiên kể từ sau thảm họa Fukushima hồi tháng 3/2011. Những người biểu tình chống hạt nhân nói rằng hiện tại họ đã thu thập được hơn 8 triệu chữ ký của những người phản đối việc khởi động lại các lò phản ứng.

Khi diễu hành qua các đường phố, những người biểu tình đã mang các khẩu hiệu và thông điệp như 'Không nhà máy hạt nhân!', 'Chỉ những con đười ươi chưa tiến hóa mới muốn điện hạt nhân' (“No Nukes! Unevolved Apes Want Nukes!”). Cho đến hôm nay, hai lò phản ứng đã được khởi động lại từ mùa hè năm ngoái, nằm ở Oi, tỉnh Fukui, là những lò duy nhất trong số 50 lò phản ứng của Nhật Bản đã hoạt động trở lại.

Sơn Phạm
japandailypress


Lính Mỹ ở Nhật Bản bị bắt vì chụp lén... dưới váy nữ sinh

Cảnh sát tỉnh Kanagawa Nhật Bản thứ Tư vừa qua tuyên bố họ mới bắt giữ một thủy thủ Mỹ 22 tuổi ở căn cứ hải quan Yokosuka (Naval Base) vì tội lén lút chụp ảnh... dưới váy một nữ sinh Nhật Bản trên xe buýt công cộng. Tyler Joseph Routon, a Petty Officer 3rd Class, bị một hành khách phát hiện đang cố gắng để chiếc điện thoại có camera gần chân nữ sinh này trong khi cúi xuống giả vờ... buộc giầy.

Vụ việc xảy ra khoảng 8:25 sáng ngày thứ Ba, khi Routon trên đường về nhà sau ca trực đêm. Phát ngôn viên cảnh sát nói rằng thủy thủ này vẫn đang bị giam giữ, nhưng từ chối các lời buộc tội, nói rằng anh ta chỉ định chụp ảnh khuôn mặt nữ sinh 17 tuổi này. Tuy nhiên, điều khiến câu chuyện trở nên thú vị là, Routon đã đập chiếc điện thoại vào cột sắt trong xe buýt sau khi người hành khách nhắc nhở, khi cảnh sát chưa kịp đến. Cảnh sát đã tịch thu chiếc điện thoại hỏng này, và chắc chắn sẽ xem nội dung bên trong, đặc biệt là những bức ảnh nào đã được chụp.

Cảnh sát nói họ đã giao vụ này cho các công tố viên địa phương, cùng với khuyến nghị rằng Routon sẽ bị buộc tội vi phạm các pháp lệnh (ordinance) về ngăn chặn phiền toái (nuisance prevention), tội được áp dụng cho những người chụp ảnh dưới váy khi bị bắt. Sử dụng điện thoại để bí mật chụp ảnh phụ nữ là tội mà đàn ông Nhật Bản thường xuyên phạm phải khi đi tàu hay  các nơi công cộng khác, nhưng đây có lẽ là một trong ít trường hợp người nước ngoài bị bắt, và không nghi ngờ gì nữa, là một trong những trường hợp đầu tiên một quân nhân Mỹ bị bắt vì tội này.

Sơn Phạm
japandailypress
-----
nhớ hồi ở Nhật Bản, mọi người mua máy ảnh chơi và chia sẻ việc yêu thích tiếng click, click khi bấm máy, nhưng sensei cũng nhắc đến vấn đề tiếng động đó để ngăn cản, phát hiện việc... chụp lén :)


Nữ sinh Nhật Bản tỏa sáng với đồng phục thủy thủ

Công ty Nhật Bản dùng 'phòng trục xuất' để ép nhân viên nghỉ việc

Trong khi giới kinh doanh đang cố gắng để các công ty có thể dễ dàng và thuận tiên hơn trong việc sa thải nhân viên (với đầy đủ các phúc lợi được hưởng, hiển nhiên), thì điều này lại dẫn đến hiệu ứng ngược từ những người chủ lao động. Những công ty này đã sử dụng 'phòng trục xuất' (banishment room) để gián tiếp khiến các nhân viên... tự nghỉ việc.

Về cơ bản, những 'phòng trừng phạt' này là những bộ phận mà các công ty sẽ thuyên chuyển những nhân viên dư thừa vào đó và giao cho họ những công việc chân tay, vô ích (menial and useless) hoặc thậm chí chẳng có việc gì để khiến họ trở nên chán nản, thất vọng và tự xin nghỉ việc, vì vậy sẽ không có phúc lợi nào (từ bảo hiểm xã hội...) ví dụ như việc phải nhìn vào màn hình TV liên tục 10 tiếng một ngày, để tìm ra 'những bất thường cảnh quay' (program footage irregularities). Tất nhiên, các công ty từ chối thừa nhận điều này, và thường đặt những tên chung chung (hay thậm chí rất sáng tạo) cho các phòng này như 'Trung tâm phát triển kinh doanh và nguồn nhân lực' hay 'nhóm phát triển sự nghiệp'. Và không chỉ có các công ty nhỏ làm vậy, mà cả những tập đoàn lớn như Hitachi Ltd., Sony Corp., Toshiba Corp., Seiko Instruments Inc., một công ty con của NEC Corp., và hai công ty con của Panasonic Corp cũng áp dụng cách này.

japandailypress
-----
Nhật Bản cũng vậy, trách sao Việt Nam :( từ phòng hành chính xuống lo trà nước, giảm, nợ lương, liên tục gây ức chế, thử việc dài hạn, bố trí công việc không đúng chuyên môn, giao chỉ tiêu cao, không ký tiếp các hợp đồng đã đến hạn, chuyển các hợp đồng dài hạn thành hợp đồng thời vụ, điều chuyển địa điểm công tác...


Ngủ ở công sở là một việc tốt

Tsundoku: minh họa vấn đề 'tế nhị' của những con mọt sách


Có bao giờ đống sách bạn mới mua về, dự định đọc... một ngày nào đó, trở nên chất đống tầng tầng lớp lớp khó kiểm soát? Nhật Bản có một từ để nói về vấn đề này.

Wemedge, một mọt sách chính hiệu đã nhờ con gái của mình minh họa từ 'Tsundoku,' một từ Nhật Bản không chính thức để mô tả những đống sách vượt ngoài tầm kiểm soát của chúng ta (hình trên). Nếu bạn muốn hiểu thêm về từ này, thì xem định nghĩa ở Wiktionary:

'tsumu, to pile up + doku, to read, punning on tsundeoku, to leave piled up) Noun (informal) the act of leaving a book unread after buying it, typically piled up together with such other unread books'

= tsumu là chất thành đống, doku là đọc, chơi chữ thành tsundeoku, để chất đống: có nghĩa là hành động mua sách về để đấy, thường chất thành đống cùng với những sách chưa đọc khác.
----
langdu hồi mới vào cơ quan, mỗi lần được cử đi công tác nước ngoài, lại mua một vài quyển sách làm kỉ niệm, khi thì vào hiệu sách lớn, khi thì mua ở... sân bay, về nắn nót ghi ngày tháng, nơi mua, nhân dịp..., mới đầu còn kiên nhẫn từng dòng, từng chữ, sau rồi... để đấy :), giở ra vài trang rồi lại đóng vào :( Giờ tủ sách toàn những quyển 'look-how-cool-I-am' books :), đi chơi mà rủ vợ vào hiệu sách là vợ... 'I can you' :) Giờ biết thêm từ mới này -> nhẹ nhõm phần nào, vì... cũng nhiều người giống mình, he he :)


"A black hole" nghĩa là gì?

Phòng ngủ con gái tôi như lỗ đen vũ trụ. Photo courtesy Elizabeth Ellis.

'Black hole' (shared via VOA) có từ là hole nghĩa là lỗ thủng hay lỗ trống. Thành ngữ này xuất xứ từ ngành thiên văn học khi nói đến một vùng trong không gian có một sức hút mạnh đến nỗi bất cứ một vật gì, ngay cả ánh sáng, cũng không thể thoát ra ngoài được. Black hole ngày nay được dùng để chỉ một nơi lộn xộn, rắc rối khiến người ta không tìm được điều họ mong muốn.

Ví dụ
“I don’t ever expect to get the book back that I lent to my son. He says it’s somewhere in his bedroom. That means it’s among the countless piles of stuff scattered across his desk, furniture and floor. Whatever goes in there disappears. The place is nothing but a black hole (lỗ đen vũ trụ).”

“Not long ago, I offered what I thought was sound business advice to my aunt, but she didn’t listen. She’s opening a new restaurant and wanted to generate clients (muốn có khách hàng). So she decided to place an ad in a major newspaper here in Washington. Just doing that is rather ineffective, I told her. It’s equivalent to throwing money into a black hole (giống như vứt tiền vào khoảng trống không). She needs a much more comprehensive campaign involving lots of different media.”

Popular Now