Journey in Life: 07/12/13

Friday, July 12, 2013

Nhà hàng KOTO 59 Văn Miếu

'KOTO Văn Miếu' là một phần của dự án phi lợi nhuận nhằm giúp đỡ trẻ em cơ nhỡ và có hoàn cảnh khó khăn.

KOTO (Know One, Teach One “Biết Một, Dạy Một”) do anh Jimmy Phạm, một Việt kiều lớn lên ở Úc, sáng lập.

Nhà hàng KOTO Văn Miếu đã trở thành quán ăn ưa thích của nhiều khách nước ngoài. Các vị khách đặc biệt cũng ghé thăm nhà hàng mỗi lần tới Việt Nam. Đó là vợ chồng cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton, phu nhân Tổng thống Mỹ Bush, phu nhân Thủ tướng Australia John Howard, Nữ hoàng Đan Mạch và phu quân...


Cơm rang hải sản.

Vị khách này... chưa nổi tiếng ;)

Bài trước: Love's Crepe 34 Nguyễn Đình Chiểu

Họa tiết khắc phục vết lõm trên thân xe


Fan cuồng ninja Rùa :D

Bài trước: Cocktail cho tình yêu

Chống gỉ cho ôtô
Ôtô ba bánh
Độ xe độc
Quy lão Kamê là có thật?
Trào lưu chụp ảnh chưởng ở Nhật Bản

Cocktail cho tình yêu


Sao lại có cá heo trong cốc thế này? :D

p/s: Tối nay đi bar tại the Matchbox Restaurant, 40 Cao Bá Quát để tham gia Wine for Books, kiếm xem có cốc như này không? ;)

Bài trước: Học đàn để tán gái

Ngày 4 tháng Bảy: ngày biểu tình đẫm máu trong lịch sử nước Mỹ

Chuẩn bị để kỷ niệm Ngày Độc lập, năm 1906. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ), Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

By Alasdair Roberts / Sơn Phạm dịch

Vào ngày 04 tháng Bảy năm 1934, nước Mỹ bước vào năm thứ tư của một cuộc khủng hoảng kinh tế. Ở bờ biển phía Tây, những người kiếm ăn sinh sống ở bến tàu (longshoremen) đã lợi dụng quyền tổ chức công đoàn vừa mới được chấp thuận và đã tổ chức đình công. Ở San Francisco, đã có sự yên lặng đến khó chịu ở bến cảng sau khi đã xảy ra đụng độ giữa cảnh sát và những người đình công vào ngày hôm trước.

Sự yên ổn chỉ diễn ra trong một vài giờ. Cảnh sát San Francisco đã lên kế hoạch một nỗ lực khác để mở bến cảng. Vào buổi sáng ngày 05 tháng Bảy, họ đã bắn hơi cay và tấn công những người biểu tình. Cuộc đụng độ kéo dài trong nhiều giờ. "Đây là một Gettysburg thu nhỏ," tờ San Francisco Chronicle đưa tin. Vào buổi tối, hai người biểu tình đã bị chết và Vệ binh Quốc gia đã thiết lập tổ súng máy để bảo vệ bến cảng.

Bạo lực như vậy không hề đáng ngạc nhiên. Ngày 4 tháng Bảy thường là dịp cho những vụ như này, đặc biệt khi nền kinh tế trở nên tồi tệ. Cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc gần thời điểm đó nhất diễn ra trong những năm 1890. Vào năm 1894, thương mại đã bị tê liệt bởi một cuộc đình công ngành đường sắt khởi đầu từ Chicago. Ngày 04 tháng Bảy (năm đó), quân đội liên bang đã được cử đến để mở các ga đường sắt của thành phố. Buổi tối hôm đó, bạo lực nổ ra trên toàn Chicago.

"Súng máy (gatling gun) cũng khó đẩy lùi được đám đông", một tờ báo thuật lại. Mười một người đã chết trước khi trật tự được lập lại một tuần sau đó.

Kỵ binh tấn công
Đã có một cuộc đình công đẫm máu ngành đường sắt tương tự vào tháng Bảy năm 1877, ở giữa cuộc khủng hoảng trước đó. Tại Chicago, kỵ binh liên bang - "cựu chiến binh da đỏ, những người có thể trông cậy được vào bất kỳ trường hợp khẩn cấp nào" - đã tấn công một đám đông khoảng 10.000 người trên Halstead Street. Bị thúc giục (egg on) bởi các doanh nhân Chicago, chính phủ liên bang đã thành lập một đơn vị đồn trú thường trực tại Fort Sheridan, cách 30 dặm về phía bắc của thành phố.

Cuộc khủng hoảng vào những năm 1870 là tồi tệ nhất kể từ đầu những năm 1840. Rắc rối cũng xảy ra. Ở Philadelphia, cạnh tranh chỗ làm khi công việc khan hiếm đã làm dấy lên những căng thẳng giữa người nhập cư và người Mỹ bản địa.

Cuộc biểu tình ngày 04 tháng Bảy năm 1844 được dự định như là một minh chứng về sức mạnh của những người theo chủ nghĩa quốc gia. Cuộc biểu tình này đã dẫn đến bốn ngày đụng độ trong thành phố khi đám đông đánh nhau với lính pháo binh. Vào ngày 08 tháng Bảy, Philadelphia đã được đặt dưới thiết quân luật.

Vào ngày quốc khánh, năm 2013, chúng ta đang phải vật lộn với hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế được coi là tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại Khủng hoảng. Nhưng cuộc suy thoái này đã không gây ra một tình trạng bất ổn xã hội lớn nào. Tại sao vậy?

Lý do đầu tiên là chúng ta có khả năng để kiểm soát tình trạng bất ổn một cách có hiệu quả hơn, phần lớn do những cuộc biểu tình đẫm máu ngày Độc lập trong quá khứ. Bạo loạn trong những năm 1840 đã khiến các thành phố lớn ở vùng Đông Bắc công nghiệp - Philadelphia, New York, Boston, Baltimore - thực hiện những nỗ lực nghiêm túc đầu tiên trong việc thành lập lực lượng cảnh sát đô thị. Các vấn đề rắc rối của những năm cuối thế kỷ 19 đã dẫn tới những cải cách giúp cho Vệ binh Quốc gia kiểm soát bạo động tốt hơn. Và những năm 1930 đã ban hành các hạn chế pháp lý chặt chẽ hơn về thời gian và địa điểm của các cuộc biểu tình.

Chúng ta cũng đã nhìn thấy sự lớn mạnh tương tự của lực lượng cảnh sát trong hơn ba thập kỷ qua. Công chức thực thi pháp luật được trang bị tốt hơn hơn bao giờ hết. Việc nhìn thấy cảnh sát trong trang phục và thiết bị chống bạo động được trang bị 'đến tận răng' là một sự mới lạ vào năm 1980, nhưng ngày nay không có gì đáng ngạc nhiên. Và các lực lượng cảnh sát chính đã kiểm soát tốt hơn nhiều khi bạo loạn xảy ra.

Điều này giúp giải thích tại sao các cuộc biểu tình Chiếm phố Wall đã rất yên bình ở hầu hết các thành phố - và tại sao họ thường kết thúc một cách lặng lẽ.

Lý do thứ hai là sự sụp đổ của phong trào công đoàn. Các cuộc đình công và biểu tình do công đoàn tổ chức thường không biến thành bạo lực, nhưng nguy cơ xung đột sẽ giảm nếu các cuộc đình công và biểu tình này không được tổ chức (gì sất).

Và đó là câu chuyện của ba thập kỷ qua. Ngày nay, chỉ có 7 phần trăm lực lượng lao động trong khu vực tư nhân tham gia công đoàn. Từ năm 1950 đến năm 1980, nước Mỹ đã trải qua trung bình 300 cuộc đình công lớn mỗi năm. Từ năm 2000 đến năm 2010, con số này chỉ còn 17 cuộc mỗi năm.

Các chương trình xã hội
Lý do thứ ba là sự kéo dài của mạng lưới an sinh xã hội - mạng lưới các chương trình này bao gồm phúc lợi, bảo hiểm thất nghiệp, an sinh xã hội và y tế để bảo vệ người dân Mỹ khỏi sự túng quẫn về kinh tế. Hệ thống này đã bị tấn công trong vòng 30 năm qua. Tuy nhiên, mạng lưới an sinh này vẫn (bao quát) rộng hơn nhiều so với những năm 1930. Và nó đã hoàn thành nhiệm vụ mà các nhà thiết kế chương trình hy vọng - đó là giúp duy trì sự yên ổn trong thời kỳ khó khăn.

Lý do cuối cùng là, chính quyền liên bang đang hành động một cách hạn chế để ngăn chặn nền kinh tế trong vòng xoáy xoắn ốc tiếp tục đi xuống. Các nhà hoạch định chính sách, được cho là, đã miễn cưỡng khởi động chương trình chi tiêu tích cực để kích thích nền kinh tế. Tuy nhiên, Cục Dự trữ Liên bang đã không hề ngần ngại trong việc theo đuổi các biện pháp không chính thống để tránh một cuộc khủng hoảng toàn diện. Đây là một sự thay đổi lớn so với các cuộc khủng hoảng trước đây, khi chính quyền do dự can thiệp sâu hơn vào nền kinh tế.

Người Mỹ ngày nay coi chính sách kinh tế là một vấn đề kỹ thuật, tách rời với những câu hỏi gai góc về an ninh và trật tự. Điều này khiến chúng ta khác với thế hệ trước trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

Chúng ta có thể không thích tất cả những cách mà xã hội Mỹ đã phát triển để giữ yên ổn trong giai đoạn khó khăn, nhưng chính những thay đổi này đã ngăn chặn các vụ bạo lực khác vào ngày 4 tháng Bảy.

(Alasdair Roberts là Giáo sư Luật và Chính sách công Jerome L. Rappaport tại trường Đại học Luật Suffolk ở Boston. Ông là tác giả cuốn sách "Cuộc Đại Khủng hoảng đầu tiên của nước Mỹ: Suy thoái kinh tế và rối loạn chính trị sau cơn hoảng loạn năm 1837.")

Bloomberg


Lễ Độc lập nước Mỹ

...Hoa Kỳ lập quốc 1776 có 4 triệu dân, ngày nay 2013 có 314 triệu. Qua hai trăm ba mươi năm gia tăng 310 triệu. Năm 1976 người Việt tại Mỹ có 170 ngàn, ngày nay có 1 triệu 700 ngàn. Xin cùng quay về với lịch sử lập quốc Hoa Kỳ. Lịch sử quê hương mới bao dung lịch sự mà di dân bốn phương trời sống chết tìm đến. Vào được rồi thì chỉ còn thấy những ông tổng thống trên tờ giấy bạc hàng ngày.

Ngày quốc lễ
Ngày 4 tháng 7 hàng năm là ngày lễ trọng đại nhất của Hoa Kỳ. Đó là ngày Mỹ quốc Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 và bắt đầu chiến tranh cách mạng chống lại Anh quốc trong 6 năm. Đến 1782 Anh và Mỹ ký thỏa ước ở Paris và công nhận Hoa Kỳ độc lập. Người Mỹ đã chiến thắng trận chiến tranh đầu tiên của lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. (Sau kỳ kiểm kê dân số 2010 nước Mỹ dần dần trở thành là đất nước của các sắc dân mà trong đó da trắng sẽ chỉ còn dưới 50% tổng số).

Lịch sử trẻ trung của Hiệp Chủng Quốc rất phong phú và cũng rất độc đáo. Hoa Kỳ là quốc gia bao gồm tất cả các sắc dân, các ngôn ngữ, các tập tục văn hóa. Nước Mỹ đã có các kỷ niệm vừa hung bạo vừa nhân từ. Tiêu diệt da đỏ, bắt da đen làm nô lệ, kỳ thị da vàng, đem quân đi làm cảnh sát trên thế giới, đi đến đâu là gây sóng gió ở đó. Hoa Kỳ cũng là quốc gia phát huy tự do dân chủ toàn cầu, viện trợ kinh tế, quân sự, giáo dục, xã hội, văn hóa cho toàn thể các quốc gia chậm tiến trên thế giới.

Nước Mỹ sống giữa 2 đại dương và có ba múi giờ. Biên cương của Hoa Kỳ trên địa cầu là một vùng đất bao la tiếp giáp với Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ là ải địa cầu trấn giữ Bắc Băng Dương. Biên giới không gian của Hoa Kỳ lên đến mặt trăng và Mỹ quốc cũng là quốc gia tiên phong ghi dấu vết trên Hỏa tinh. Hai ngàn vệ tinh kinh tế thương mại và quân sự của Hoa Kỳ canh gác toàn vùng khí quyển của quả đất. Đế quốc nhân văn của Hiệp Chủng Quốc thống trị thế giới bằng các đại sứ quán và tòa lãnh sự luôn luôn tấp nập các khách hàng xin visa.

Cơ sở ngoại vi của các sứ quán Hoa Kỳ là những chỗ bán thức ăn Fast Food McDonald, Kentucky, nước Coke, nhạc Rock và quần Jeans. Mỹ phát thực phẩm cho dân nghèo toàn thế giới nhưng đi đến đâu cũng bị đuổi về nhà: Yankee go home. Đó là Hoa Kỳ ngày nay, quá trẻ trung vì chỉ có hơn 230 năm lập quốc. Đất nước mà chúng ta đang là công dân có đứng lên tuyên thệ bảo vệ và tuyệt đối trung thành. Vì vậy chúng ta cũng nên biết qua lịch sử của quê hương mà phần đông chúng ta sẽ cùng các thế hệ tiếp theo ở lại đời đời.

Ai là người đầu tiên trên đất Mỹ?
Các nhà nhân chủng học cho biết 12 ngàn năm trước lục địa còn dính liền cuối thời băng giá, Á châu và Mỹ châu nối tiếp ở phía Bắc. Con người tiền sử Á Châu đi tìm đường sống đã đi từ Á qua Mỹ. Sau đó quả đất chuyển đổi, hai lục địa tách xa nhau. Người Á châu tiền sử trở thành thủy tổ của các bộ lạc ở Bắc Mỹ. Tuy nhiên, thực ra đây cũng chỉ là giả thuyết.

Thực tế ghi nhận đây là miền đất mới không có nhiều chỉ dấu của các nền văn minh ngàn năm trước như Âu châu. Lịch sử ghi nhận đã có dấu vết các bộ lạc tàn lụi. Sau cùng chỉ còn các bộ lạc da đỏ tồn tại cho đến thời kỳ 1500 các sắc dân tây phương mới đến Mỹ bằng đường biển. Nổi danh nhất là nhà hàng hải Columbus năm 1492 đi tìm Á châu lại khám phá ra Mỹ châu. Rồi tiếp theo là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh Cát Lợi, Pháp, Đức rồi đến Nga và các quốc gia Đông Âu.

Các cuộc chiến đẫm máu, triền miên ở tân lục địa giữa người địa phương và dân giang hồ mới đến. Chiến tranh giữa các thế lực Tây phương. Sau cùng Anh quốc ổn định được tại phần lớn miền Đông Hoa Kỳ và các di dân bắt đầu lên đường. Con tàu Hoa Tháng Năm, May Flower nổi tiếng đến Mỹ năm 1620 vỏn vẹn có 100 người mà một nửa là thủy thủ đoàn. Con tầu này đã trở thành biểu tượng của di dân định cư trên đất mới vì có đem theo gia đình.

Năm 1621 di dân được mùa đã cùng tổ chức Lễ Tạ Ơn và ăn tiệc mừng với dân da đỏ trong một lễ Thanksgiving đầu tiên của nhân loại. Nhưng rồi những ngày vui qua mau. Thổ dân tại Mỹ chết dần vì bị giết, bị đói, bị bệnh, có thể do các mầm bệnh từ tây phương đem đến.

Trong khi đó từ 1620 đến 1732 tức là hơn 100 năm, một nước Mỹ thuộc Anh đã hình thành với 13 tiểu bang liên hiệp ở miền Đông. Phần lớn làm nghề nông, trồng thuốc lá, trà, và lúa. Các vùng khác thuộc Tây Ban Nha, Pháp vẫn còn tranh chấp. Cuộc chiến 1754 giữa Pháp và Anh giành đất trong 7 năm, sau cùng Anh thắng và mở rộng biên cương thuộc địa. Tiếp theo nước Anh cần tiền cho mẫu quốc nên đánh thuế các thuộc địa, thu tiền các nhà sản xuất và các đồn điền tại Hoa Kỳ. Chính sách thuế của Anh ban hành năm 1774 trở thành mầm mống cho cuộc chiến dành độc lập tại Hoa Kỳ. Tướng Washington nhận trách nhiệm lãnh đạo cuộc chiến tranh cách mạng vào năm 1775 và chính thức đứng ra tuyên bố độc lập 1776. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập do Thomas Jefferson đại diện tiểu bang Virginia viết ra lúc ông 33 tuổi được coi là một áng văn tuyệt tác nhất của nhân loại và mở đầu cuộc chiến dành độc lập cho đến chiến thắng cuối cùng bằng hiệp định Paris 1782.

Sau chiến thắng, Hoa Kỳ có 5 năm xây dựng dân chủ từ 1782 đến 1787 để hiến pháp ra đời với 9 tiểu bang chính thức rồi đến 13 tiểu bang thỏa hiệp. Những lá cờ Mỹ đầu tiên có 9 ngôi sao rồi 13 ngôi sao và bây giờ là 50 ngôi sao. Suốt từ buổi bình minh của Hiệp Chủng Quốc cho đến nay, nước Mỹ đã trải qua biết bao nhiêu là biến động. Từ hơn 4 triệu dân vào năm 1800 trở thành trên 300 triệu vào năm 2013. Trên giấy tờ có 237 năm lập quốc nhưng thực sự quốc gia này đã thành hình từ trên 300 năm.

Ý nghĩa Hiệp Chủng Quốc
Phải chăng Hoa Kỳ là một đĩa rau trộn gồm đủ mọi sắc thái nhưng tía tô vẫn là tía tô, rau giấp cá vẫn nồng nàn mùi tanh của biển mặn. Hay đây là nồi cháo mà mọi thứ thực phẩm đã được hòa tan thành một hương vị mới. Cái đó còn tùy hoàn cảnh, tùy địa phương và thời gian. Trước khi nói đến nhân quyền, tự do và bình đẳng, nước Mỹ đã trải qua các giai đoạn hành động tàn nhẫn với các sắc dân thiểu số. Vào thế kỷ thứ 19, da trắng buộc dân da đỏ phải di cư tập trung vào các khu vực dành riêng, phần nhiều là đồng khô, cỏ cháy. Thảm kịch diễn ra trên các con đường mòn di chuyển dân da đỏ được gọi là: Đường mòn nước mắt.

Da đỏ già trẻ lớn bé đều phải ra đi, bỏ nhà cửa, vườn trại để vào các khu hoang vu xa cách vạn dặm. Hàng chục ngàn người đã chết. Trong khi đó ở miền Nam Hoa Kỳ, dân da đen bị bắt làm nô lệ đem từ Phi châu qua đã trở thành một lực lượng lao động quan trọng. Những bàn tay đen đủi đã xây dựng nên nền nông nghiệp miền Nam nuôi cả nước Mỹ vào thời kỳ lập quốc với những vườn bông vải trắng xóa. Nhưng cũng chính da đen là vấn nạn cho cuộc chiến tranh tương tàn Nam Bắc. Những người da đen bỏ trốn các nông trại đã bị đánh roi cho đến chết. Câu chuyện Uncle Tom với bài ca da đen lừng danh: Let my people go, Hãy cho dân tôi đi, trích dẫn từ Thánh Kinh đã trở thành một vấn nạn trong lương tâm Hoa Kỳ.

Da đỏ xin ở lại thì bị đuổi đi. Da đen xin đi thì bị giữ lại. Ngay khi nội chiến chấm dứt, da đen được giải phóng mà vẫn còn bị kỳ thị.

Cuộc chiến đấu vĩ đại của một đàn bà da đen năm 1955 không chịu ngồi phía sau xe bus đã trở thành một cuộc tổng đình công tẩy chay xe bus tại Hoa Kỳ. Từ cuộc đình công này, da đen có được một nhà lãnh đạo đầy huyền thoại là mục sư King mà tên tuổi trở thành một ngày quốc lễ.

Rồi đến lịch sử Tây tiến làm đường xe lửa đem da vàng Nhật Bản và Trung Hoa nhập cuộc. Các tiền nhân di dân châu Á cũng đã ngậm đắng nuốt cay ở miền Tây Hoa Kỳ trong suốt thời lịch sử cận đại. Dân da vàng có một thời chỉ được làm cu ly đường xe lửa hay thợ giặt ủi...

Đọc thêm bài gốc của tác giả Giao Chỉ ở đây.


Nelson Mandela: một ngọn hải đăng

...Nam Phi, một nước rộng gần 4 lần diện tích Việt Nam nằm ở cực nam Phi châu do người Hòa Lan đến chiếm làm thuộc địa giữa thế kỷ 17. Đầu thế kỷ 20 người Anh đánh thắng người Hòa Lan và thành lập nước Nam Phi. Người gốc Hòa Lan tại Nam Phi được gọi là người Afrikaner. Năm 1948 người Anh thiết lập một chế độ kỳ thị chủng tộc phân chia đen trắng thành hai giai cấp quy định bằng luật gọi là chế độ "Apartheid". Người đen không được sống chung đụng với người da trắng, và sống trong những khu riêng biệt gọi là các Townships.

Năm 1976 người đen tại các Townships đồng loạt nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc gia Phi châu (African National Congress – ANC) trong đó luật sư Nelson Mandela là một thành phần lãnh đạo chủ chốt.

Ông Nelson Mandela sinh ngày 18 tháng 7 năm 1918 trong một gia đình vọng tộc thuộc bộ lạc Thembu. Ông học luật tại hai đại học Fort Hare và Witwatersrand. Trở thành luật sư ông sống và hành nghề tại Johannesbursg. Khoảng thập niên 1940 ông gia nhập đảng ANC, một đảng chính trị thoát thai từ Đảng Quốc Gia của Người Bản xứ (The South African Native National Congress) được thành lập từ năm 1912 khi người Hòa Lan còn áp dụng một chế độ thuộc địa cởi mở.

Sau khi người Anh thiết lập chế độ apartheid, năm 1952 ông Mandela cầm đầu cuộc đấu tranh chống chế độ kỳ thị bằng phương pháp bất bạo động. Sau đó ông đổi phương pháp hợp tác với đảng Cộng sản Nam Phi thành lập tổ chức Umkhonto we Sizwe, bạo động đánh bom các cơ sở của chính phủ. Năm 1962 ông bị bắt, bị truy tố về tội phá hoại và âm mưu lật đổ chính phủ và bị kết án chung thân.

Ông bị giam ở nhà tù trên đảo Robben, sau chuyển qua nhà tù Pollsmoor và Victor Verster. Do vận động quốc tế, năm 1990 ông được trả tự do sau 28 năm tù đày.

Ra khỏi nhà tù, năm 1991 ông được bầu làm Chủ tịch ANC, và với tư cách này ông kiên nhẫn thương thuyết với tổng thống F. W. de Klerk bãi bỏ chế độ Apartheid và tổ chức bầu cử đa chủng lần đầu tiên năm 1994. Đảng ANC thắng và ông Nelson Mandela trở thành vị tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi.

Ông làm tổng thống Nam Phi trong một nhiệm kỳ 5 năm (1994-1999). Trong nước ông thi hành một chính sách hòa giải chủng tộc giữa "người đen, trắng, Africaner, người Á châu …", qua đó giải thể dần các định chế kỳ thị do chế độ apartheid để lại, giải quyết nạn nghèo đói (cho người da đen) và san bằng sự chênh lệch đời sống kinh tế trong xã hội. Thái độ đáng yêu của ông là khéo léo dùng thể thao tạo một bộ mặt đoàn kết đen trắng tại Nam Phi. Người Africaners gốc Hòa Lan thích Rugby, ông đã biến Rugby thành một phong trào toàn quốc giúp đoàn lực sĩ Nam Phi toàn người da trắng giật giải vô địch Rugby thế giới năm 1995.

Trên mặt quốc tế ông dùng uy tín giúp dàn xếp vụ án vụ nổ bom Pan Am Flight 103 giữa Anh và Lybia.

Mãn nhiệm tổng thống năm 1999 ông không ra tái ứng cử (dù sự đắc cử ông nắm trong tay) và dành thì giờ vào các công việc từ thiện. Ông thành lập Viện Nelson Mandela lo việc chống bệnh HIV/AIDS và nạn nghèo khó...

Đọc thêm bài gốc của tác giả Trần Bình Nam ở đây.


Khủng hoảng tài chính và chiến tranh

Bài dịch rất hay của bs Hồ Hải về lịch sử kinh tế học. (English: here).
-----
Cách tiếp cận của lễ kỷ niệm trăm năm của sự bùng nổ của Thế chiến thứ nhất vào năm 1914 đã gây choáng váng các chính trị gia và các nhà bình luận lo lắng bởi sự mong manh của các thỏa thuận chính trị và kinh tế toàn cầu hiện nay. Thật vậy, Thủ tướng Luxembourg, Jean-Claude Juncker, gần đây cho rằng phát triển phân cực Bắc-Nam của châu Âu đã thiết lập một sự kiềm chế quay về một thế kỷ qua.

Những bài học của năm 1914 cho chúng ta những gì nhiều hơn việc chỉ đơn giản là sự nguy hiểm của những thù hận giữa các quốc gia. Nguồn gốc của cuộc chiến tranh vĩ đại bao gồm một tiền lệ hấp dẫn liên quan đến cái cách toàn cầu hóa tài chính có thể trở thành tương đương với một cuộc chạy đua vũ trang quốc gia, do đó làm tăng tính dễ tổn thương của trật tự quốc tế.

Năm 1907, một cuộc khủng hoảng tài chính lớn xuất phát từ Mỹ đã làm ảnh hưởng phần còn lại của thế giới và cho thấy sự mong manh của toàn bộ hệ thống tài chính quốc tế. Việc ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại đang diễn lại với một động lực tương tự.

Cuốn sách kinh điển có tựa đề Phố Lombard(Lombard Street*) xuất bản năm 1873 của nhà báo Walter Bagehot(**) đã mô tả thành phố London như "sự kết hợp lớn nhất của quyền lực kinh tế và sự mong manh kinh tế mà thế giới đã từng thấy". Trong một giải thích có ảnh hưởng, được phổ biến rộng rãi bởi một tiểu thuyết gia vào năm 1910, thuộc Đảng Lao động Anh, và là người đoạt giải Nobel hòa bình sau đó vào năm 1933, Norman Angell(***) cho rằng, sự phụ thuộc lẫn nhau của nền kinh tế toàn cầu ngày càng phức tạp làm cho chiến tranh khó có thể xảy ra. Nhưng kết luận ngược lại là đều hợp lý: Căn cứ vào mức độ mong manh, một thay đổi thông minh để kiểm soát các đòn bẩy có thể tạo điều kiện cho một chiến thắng quân sự bỡi thế lực bá quyền kinh tế.

Hậu quả của vụ sụp đổ kinh tế năm 1907 khiến sức mạnh bá chủ của thời đại - Vương quốc Anh – phải sử dụng sức mạnh tài chính của mình để nâng cao năng lực chiến lược tổng thể. Đó là kết luận của một cuốn sách quan trọng gần đây, nghiên cứu của Nicholas Lambert(****) về lập kế hoạch kinh tế của Anh và Chiến tranh thế giới thứ nhất, mang tên Kế hoạch Armageddon. Lambert đã cho thấy cái cách mà, trong một chiến lược mạo hiểm lớn, người Anh đã bắt đầu hôn phối tài chính với lực lượng quân sự của mình - và đặc biệt là hải quân - để chiếm ưu thế và lãnh đạo tài chính toàn cầu của họ.

Từ năm 1905 đến năm 1908, Hải quân Anh đã phát triển rộng khắp một đề cương của một kế hoạch cho chiến tranh kinh tế và tài chính chống lại sức mạnh đang lên của châu Âu, Đức. Chiến tranh kinh tế, nếu được thực hiện đầy đủ, sẽ phá hỏng hệ thống tài chính của Đức và buộc Đức ra khỏi bất kỳ cuộc xung đột quân sự nào. Tầm nhìn xa trông rộng của hải quân Anh phải đối mặt với một đối thủ có cơ cấu của Hoàng đế Đức, những người am hiểu cách thức mà quyền lực có thể phát triển mạnh về tài chính mong manh.

Trước năm 1914 Anh đã thấy trước vấn đề quan hệ đối tác công-tư, giống như ngày nay những liên kết của những gã khổng lồ công nghệ như Google, Apple, hay Verizon với các cơ quan tình báo Mỹ. Các ngân hàng London đã bảo lãnh hầu hết thương mại thế giới; Lloyds cung cấp bảo hiểm cho vận chuyển tàu biển của thế giới. Các mạng lưới tài chính cung cấp thông tin cho phép chính phủ Anh phát hiện ra các lỗ hổng chiến lược nhạy cảm của liên minh đối lập.

Đối với các đối thủ của Anh, khủng hoảng tài chính năm 1907 đã chứng minh sự cần thiết phải huy động sức mạnh tài chính của mình. Về phần mình, Mỹ công nhận rằng họ cần phải có một ngân hàng trung ương tương tự như Ngân hàng trung ương Anh. Các nhà tài chính Mỹ đã bị thuyết phục rằng New York cần thiết phải phát triển hệ thống kinh doanh thương mại riêng của mình để xử lý hối phiếu trong cùng một cách như thị trường London và sắp xếp lưu hành tiền tệ của họ (hoặc "thanh toán hóa đơn").

Nhân vật trung tâm trong việc thúc đẩy cho sự phát triển của một thị trường chấp nhận ở Mỹ là Paul Warburg(*****), một người em trai nhập cư Mỹ của một ông chủ ngân hàng vĩ đại ở Hamburg, mà ông chủ ngân hàng Hamburg là người cố vấn riêng của Hoàng Đế Đức Wilhelm II(Anh trai cả gia tộc Rothschild là Amschel Rothschild: ND). Anh em nhà Warburg, Max và Paul, là một một cổ xe ngựa xuyên Đại Tây Dương, họ đã hăng hái thúc đẩy các tổ chức người Mỹ gốc Đức rằng sẽ ủng hộ một sự thay thế vị trí nước Anh độc quyền về công nghiệp và tài chính. Họ xác tín rằng Đức và Mỹ đang phát triển mạnh mẽ hơn theo năm tháng, trong khi quyền lực của Anh sẽ bị xói mòn.

Một vài động lực của thế giới tài chính trước năm 1914 đang hiện ra trở lại. Do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, các tổ chức tài chính không chỉ xuất hiện như một vũ khí nguy hiểm hủy hoại kinh tế đại chúng, mà còn là những công cụ tiềm năng cho việc chuyên tâm vào quyền lực của quốc gia.

Đọc tiếp ở đây để thấy tình hình kinh tế và chính trị những năm 2013 này giống với cách đây 80 năm như thế nào? Và liệu chiến tranh có xảy ra?

(*) Lombard Street: Nó là trung tâm tài chính toàn cầu trước hiệp định thương mại Bretton Woods, khi nước Anh còn bá chủ tài chính thế giới. Và London Stock Exchange(LSE) nằm ở phố này. Nhưng cuối năm 1944, sau hội nghị Bretton Woods thì quyền lực tài chính toàn cầu chuyển sang Wall Street(Phố Wall), New York và sàn New York Stock Exchange(NYSE) bây giờ. Đồng Bảng Anh bị đồng Đô la Mỹ soán ngôi kể từ đó. Và đây là mối hận của người Anh không bao giờ nguôi, khi đã để thuộc địa cũ của mình là Hoa Kỳ hất cảng ra khỏi thuộc địa, rồi còn chiếm mất ngôi vị độc tôn tài chính toàn cầu.

(**) Walter Bagehot (03/021826 – 24/3/1877) là một nhà báo, doanh nhân, và nhà văn, ông là người đã viết rất nhiều về các lĩnh vực chính quyền, kinh tế, và văn học.

(***) Sir Ralph Norman Angell (26/12/1872 – 07/10/1967) là một giảng viên tiếng Anh, nhà báo, tác giả, và thành viên của Quốc hội của Đảng Lao động Anh. Angell là một trong những người sáng lập chính của Liên minh Dân chủ. Ông phục vụ trong Hội đồng của Học viện Quan hệ Quốc tế Hoàng gia, là một giám đốc điều hành của Ủy ban Thế giới chống lại chiến tranh và chủ nghĩa phát xít, một thành viên của ủy ban điều hành của Liên đoàn Hội Liên hiệp quốc, và là chủ tịch của Hiệp hội Abyssinia. Ông được phong tước hiệp sĩ vào năm 1931 và được trao giải Nobel Hòa bình vào năm 1933.

(****) Nicholas Lambert là assistant professor kinh tế tại Stanford Graduate School of Business. Lĩnh vực quan tâm nghiên cứu chính của Lambert là lý thuyết kinh tế vi mô, đặc biệt là kinh tế thông tin và thương mại điện tử.

(*****) Paul Warburg, đọc thêm bài Fed, sự ra đời và bản chất của nó.


"Brush Off" nghĩa là gì?

Em tôi sẽ trở thành nhà thiết kế thời trang tài ba*. Photo courtesy Lulu Hoeller.

Thành ngữ 'brush off' có nghĩa là từ chối, không nghe ai hay phớt lờ ai.

Ví dụ
“The homeowners were told by the inpector (ông thanh tra) that they ought to move their home further from the river. Instead, they went ahead (cứ xúc tiến) with plans to add a second story. When a terrible storm hit a year later, the river flooded, and the house was destroyed. If the couple hadn’t brushed off (phớt lờ) those safety warnings, they wouldn’t have lost their property (không mất nhà).”

“My cousin is a talented (tài ba) fashion designer. Her work is praised for its unique combinations (phối hợp) of color and fabric (chất vải). But for years many fashion critics wrote that she’d never succeed in the industry. Fortunately she had no problem brushing off (bỏ ngoài tai) their bad reviews. She kept following her instincts (năng khiếu). And look where she is now!”

Huyền Trang
VOA

* The Art Institute of Portland's 10th Annual Student Fashion Show.