Journey in Life: 08/05/13

Monday, August 5, 2013

Tín dụng sinh viên: Chắp cánh Giấc mơ Mỹ

Diễu hành sinh viên năm cuối trong ngày khai giảng tại Đại học Michigan năm 1903. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ), Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

By Lawrence Bowdish / Phương Thùy dịch, Sơn Phạm (hiệu đính)

Ngày 1 tháng Bảy vừa qua, lãi suất vốn vay hỗ trợ sinh viên Stafford đã tăng gấp đôi, từ 3,4% lên 6.8% sau khi Quốc hội (Mỹ) ngừng họp dịp lễ Độc Lập trong khi không thực hiện bất cứ giải pháp nào để ngăn chặn việc tăng lãi suất định kỳ. Nếu các nghị sĩ không đạt được một thỏa thuận pháp lý có hiệu lực hồi tố (retroactive) trước phiên nghỉ họp tháng Tám thì trung bình tính ra mỗi sinh viên vay vốn Stafford sẽ phải trả thêm khoảng 800 USD tiền lãi/năm so với mức lãi suất trước đó.

Hiện nay, khoảng 66% sinh viên phải vay vốn để được ngồi trên ghế giảng đường. Trong năm học 2011-2012, 10,4 triệu sinh viên đã vay tổng cộng 85,9 tỷ USD từ chương trình tín dụng Stafford, trung bình 8,200 USD/sinh viên. Trong 50 năm qua, hơn 60 triệu người Mỹ học đại học bằng nguồn vốn vay sinh viên.

Năm 1950, chỉ có 5% người Mỹ độ tuổi trên dưới 25 có bằng cử nhân. Hiện nay, con số này là 31%. Sự bùng nổ này, cùng với nhiều thời kì lạm phát, chi phí tăng, chính sách thuế của các bang và một vài nhân tố khác nữa đã làm tăng học phí và chi phí tuyển sinh. Chỉ tiêu đại học có tăng song vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu.

Tín dụng cho cựu binh
Những chi phí tăng cao này đòi hỏi những giải pháp chi trả mới cho giáo dục đại học và cao đẳng (postsecondary). Chính phủ liên bang bắt đầu thực hiện các chương trình từ năm 1958 thông qua Luật Giáo dục quốc phòng (National Defense Education Act). Biện pháp này đã góp phần hình thành nên Quỹ tín dụng Perkins – một hệ thống vốn vay theo nhu cầu với lãi suất 5%, cung cấp các khoản vay hợp lý cho các cựu binh và những sinh viên đủ tiêu chuẩn.

Năm 1965, Luật Giáo dục đại học (Higher Education Act ) cho phép chính phủ liên bang hỗ trợ tài chính nhiều hơn cho sinh viên thông qua Chương trình Tín dụng Giáo dục Gia đình Liên bang (Federal Family Education Loan Program). Chương trình này mở rộng tín dụng Perkins và áp dụng tín dụng Stafford do chính phủ liên bang bảo lãnh bằng việc chi trả lãi suất phát sinh trong thời gian học đại học của sinh viên cũng như chênh lệch giữa lãi suất thấp cố định và lãi suất thị trường sau khi sinh viên tốt nghiệp. Theo ngôn ngữ ngày nay, nếu chính phủ chi trả lãi suất vay vốn cho sinh viên chưa tốt nghiệp thì khoản vay đó được coi là ‘được trợ cấp’, nếu không thì đó là khoản vay ‘không được trợ cấp’.

Chính phủ liên kết với một số công ty tư nhân nhằm chi trả lãi suất hoặc cung cấp các khoản vay này, và do đó trên thị trường xuất hiện các nhà tín dụng tư nhân. Năm 1972, chính phủ tái khởi động Luật Giáo dục đại học và thành lập Hiệp hội kinh doanh giấy vay nợ của sinh viên (Student Loan Marketing Association) - một doanh nghiệp do chính phủ tài trợ mang tên Sallie Mae.

Cuối thập niên 1980, các đại biểu Quốc hội (Mỹ) và Bộ Giáo dục thúc đẩy một hệ thống tín dụng do Chính phủ cung cấp các khoản vay hoặc chi trả lãi suất nhằm loại trừ những chi phí mà sinh viên phải trả cho các nhà tín dụng tư nhân.

Tổng thống Bill Clinton đã ký Chương trình Tín dụng trực tiếp liên bang (Federal Direct Loan Program) thành Luật vào năm 1993. Điều này có nghĩa là chính phủ liên bang, chứ không phải các doanh nghiệp do nhà nước tài trợ, sẽ chịu trách nhiệm cung cấp vốn vay. Nhưng chỉ một năm sau đó, Quốc hội đã ban hành luật mới trong đó không bắt buộc tất cả các khoản vay phải được cung cấp thông qua Chương trình Tín dụng trực tiếp liên bang.

Tuy vậy, nhiều sinh viên đã không vay vốn từ nguồn tài chính của chương trình này do các doanh nghiệp tư nhân đã quảng cáo và vận động hành lang một cách mạnh mẽ để tiếp tục duy trì hệ thống tín dụng cũ mà ở đó các doanh nghiệp do chính phủ tài trợ và các nhà tín dụng tư nhân chi trả lãi suất cho các khoản vay được chính phủ bảo lãnh. Trong những năm 1990, Chương trình Tín dụng giáo dục gia đình liên bang cung cấp các khoản vay trị giá 215.3 tỷ USD cho sinh viên trong khi con số này ở Chương trình Tín dụng trực tiếp liên bang chỉ là 60 tỷ USD.

Tiết kiệm liên bang
Năm 2010, chính phủ liên bang thông qua Luật Hòa hợp giáo dục và y tế (Health Care and Education Reconciliation Act), đưa Chương trình Tín dụng trực tiếp liên bang trở thành chương trình duy nhất được chính phủ hỗ trợ, đồng thời xóa bỏ Chương trình Tín dụng giáo dục gia đình liên bang. Chính phủ liên bang và các sinh viên vay vốn có thể tiết kiệm được khoảng 6 tỷ USD mỗi năm, số tiền mà đáng lẽ sẽ rơi vào túi của các công ty cho vay do nhà nước tài trợ.

Trong phần lớn khoảng thời gian 60 năm qua, tất cả các công ty tín dụng dùng lãi suất cơ bản hoặc lãi suất trái phiếu kho bạc 10 năm làm lãi suất vốn vay sinh viên. Năm 2007, Quốc hội (Mỹ) thông qua Luật Tiếp cận và Giảm chi phí cao đẳng (College Cost Reduction and Access Act) để tạm thời hạ thấp lãi suất tín dụng sinh viên trong bối cảnh suy thoái kinh tế. Luật này loại bỏ lãi suất biến đổi trong chương trình tín dụng Stafford và thay vào đó cố định các khoản vay không trợ cấp với lãi suất 6.8% và các khoản vay được trợ cấp với lãi suất thấp hơn.

Tuần trước, Quốc hội đã không thể thống nhất để tiếp tục việc cắt giảm trên. Các nghị sĩ đã không thể lựa chọn giữa hai đề xuất cùng gắn lãi suất chương trình tín dụng Stafford được trợ cấp với tỷ suất trái phiếu kho bạc 10 năm. Một trong hai đề xuất sẽ tăng lãi suất vay thêm 1% và giữ nguyên mức này trong suốt quá trình vay vốn. Đề xuất còn lại sẽ thả nổi lãi suất theo từng năm, giống như các khoản vay thế chấp với lãi suất điều chỉnh, với mức tối thiểu là 5% và tối đa là 8%.

Từ giữa những năm 1990 đến 2007, lãi suất tín dụng sinh viên dao động từ 0,5% đến 1%, thấp hơn so với lãi suất cơ bản, hiện tại ở mức 3,25%. Do đó, lãi suất tín dụng sinh viên cao hơn lãi suất trái phiếu kho bạc 10 năm - hiện ở mức 2,5%.

Điều này có nghĩa là không phương án nào trong hai đề xuất trên có sự thay đổi đột phá so với thông lệ từ trước đến nay. Câu hỏi thực sự ở đây là bối cảnh hiện tại có gì khác biệt (đến mức) phải chấm dứt 60 năm lãi suất tín dụng sinh viên thấp. Chi phí để đi học đại học ngày càng đắt đỏ, dù tính theo mức thực tế hay danh nghĩa. Nhiều người quyết tâm vào đại học nhưng cũng không ít người trong số họ không có đủ nguồn lực để tự chi trả. Chính phủ đã coi giáo dục đại học là bước đi quan trọng để hiện thực hóa giấc mơ Mỹ thì giờ đây, đã đến lúc cần quyết định các sinh viên phải trả bao nhiêu cho bước đi này.

(Lawrence Bowdish là giáo sư dự khuyết về lịch sử tại Đại học quân sự Mỹ. Ông viết về tín dụng sinh viên và tín dụng tiêu dùng trong cuốn sách: ‘Sự phát triển của tín dụng tiêu dùng dưới góc nhìn toàn cầu: Kinh doanh, Luật lệ và Văn hóa’ - ‘The Development of Consumer Credit in Global Perspective: Business, Regulation, and Culture.’)

Bloomberg

Ngôi làng 'Kỳ diệu' ở Florida

Ngôi làng này nằm sâu trong vùng trồng mía xanh mướt ở nam Florida, bên lề đầm lầy (everglade) và cách thị trấn gần nhất 3 cây số, có khoảng 200 người sinh sống trong những căn nhà gỗ (bungalow) nhỏ, gọn gàng. Ngôi làng có tên 'Kỳ diệu' (Miracle Village) và thật đúng như vậy với hơn nửa s dân cư ở đây, 100 người, là... tội phạm tình dục.

Một số xem khiêu dâm trẻ em, hoặc quấy rối chính "con cái họ". Những người khác lạm dụng người yếu thế khi họ có quyền - có thầy giáo, mục sư, và một huấn luyện viên thể thao. Có những người bị tù vì 'khoe của' (quý). Một số bị buộc tội vì 'giao cấu với trẻ em vị thành niên'. (hẹn hò  với gái, tưởng em ý phổng phao, hóa ra mới 14 tuổi, nên bị bố mẹ em ý kiện)

Theo luật của bang Florida, không một ai trong những tội phạm như này được sống trong khoảng cách 300 mét từ trường học, trung tâm chăm sóc sức khỏe, công viên hay sân chơi. Các thành phố và hạt đã tăng mức giới hạn này lên 762 mét, và một số nơi còn phải cách cả bể bơi, bến xe buýt và thư viện nữa. Biện pháp này nhằm ngăn không cho các tội phạm tình dục ở gần những nơi dân cư đông đúc.

Luật này ở Florida đã khiến Miracle Village trở thành lựa chọn hấp dẫn. Ngôi làng được thành lập năm 2009 bởi mục sư quá cố Dick Witherow. Ông thấy những khó khăn mà các tội phạm tình dục gặp phải khi cố gắng tìm nơi để sống. Mặc dù họ có thể đi lại nhiều vào ban ngày, nhưng ban đêm, họ buộc phải ở một địa chỉ mà tuân thủ với giới hạn sinh sống. (đọc tiếp ở BBC)


Nhật Bản đưa robot biết nói đầu tiên lên trạm vũ trụ


Nhật Bản đã đưa robot biết nói đầu tiên vào không gian để làm bầu bạn với nhà du hành vũ trụ người Nhật Koichi Wakata, sẽ lên trạm vũ trụ vào tháng 11 năm nay.

Tên lửa không người lái của Nhật Bản, H-2B đã rời bệ phóng ở đảo miền nam Tanegashima và mang theo khoang chở hàng chứa nước uống, thực phẩm, quần áo và các dụng cụ làm việc cho nhóm 6 nhà du hành đang làm việc lâu dài trên Trạm Vũ trụ quốc tế (International Space Station - ISS).

Cao chỉ 34cm và nặng khoảng 1kg, Kirobo dự kiến đến trạm ISS vào ngày 9/8, được lập trình để giao tiếp bằng tiếng Nhật, ghi lại các đoạn hội thoại với Wakata - du hành gia Nhật Bản đầu tiên sẽ chỉ huy ISS, và cũng truyền các mệnh lệnh từ phòng điều khiển đến với phi hành gia này.

Tên của Kirobo là ghép của 2 từ tiếng Nhật 'hi vọng' và 'robot'. Thiết kế được lấy cảm hứng từ nhân vật hoạt hình huyền thoại Astro Boy.

'Kirobo sẽ nhớ khuôn mặt của Mr. Wakata để có thể nhận ra anh ta khi gặp nhau trên không gian', 'cha đẻ' của robot - Tomotaka Takahashi nói. Đưa robot lên vũ trụ là chương trình nghiên cứu xem một người bạn không phải là con người có thể hỗ trợ về tình cảm cho những người sống tách biệt trong một thời gian dài như thế nào.

Kirobo có người em sinh đôi trên mặt đất tên là Kirata, để giám sát bất kỳ trục trặc nào mà Kirobo có thể gặp phải trong không gian. Dự án này được thực hiện bởi Mr Takahashi, công ty ôtô Toyota và hãng quảng cáo Dentsu.

Sơn Phạm
BBC


"The coast is clear" nghĩa là gì?

Bờ biển mà vắng người thì chán nhỉ. Photo courtesy Bjørn.

'The coast is clear' (bờ biển sạch bóng người) có một từ mới là coast nghĩa là bờ biển. Thành ngữ này có nghĩa là bạn có thể làm một điều gì vì không ai nghe thấy hay trông thấy bạn; không có gì cản trở công việc của bạn. Nhiều người cho rằng thành ngữ này xuất xứ từ giới cướp biển hay buôn lậu khi chúng nói về sự vắng mặt của lính canh phòng bờ biển khiến chúng có thể hành động mà không bị bắt.

Ví dụ
One of my colleagues is retiring and I’ve organized a party for her. But, to make sure she’s surprised, I can’t have her anywhere near the room where I want to set up the decorations and the food. I have to see that the coast is clear (cần cho bà ấy vắng mặt để kế hoạch của tôi không bị lộ).

The thieves (bọn trộm) waited until 3 a.m. for the bank parking lot to be deserted (vắng vẻ). Once they thought the coast was clear (không còn ai quanh đó nữa), they backed up (lùi xe) a truck to the ATM, ready to haul (lôi đi) it away. But they didn’t realize the police had been watching the crime unfold; within minutes they were arrested.

Huyền Trang
VOA