Journey in Life: 08/14/13

Wednesday, August 14, 2013

Dân làng Orissa Ấn Độ phản đối dự án bauxite


Tại một ngôi làng hẻo lánh ở bang Orissa, miền Đông Ấn Độ, người dân bộ lạc ở đây đã tụ tập dưới những lều được dựng lên vội vã để phản đối tập đoàn khai thác mỏ Vedanta được khai thác bauxite từ lòng đất.

Vedanta, công ty do doanh nhân Ấn Độ - Anil Agarwal sở hữu, muốn khai thác bauxite từ vùng đồi rộng 240 km vuông Niyamgiri, nơi được bộ lạc Dongria Kondh tôn thờ.

Vedanta nói dự án sẽ mang lại công ăn việc làm và phát triển cho một trong những quận nghèo nhất Ấn Độ, nhưng bộ lạc Dongria Kondh nói dự án sẽ phá hủy mảnh đất linh thiêng và nguồn sinh sống của họ.

Vào tháng Tư, Tòa án Tối cao Ấn Độ đã duy trì lệnh cấm hiện tại đối với khai thác bauxite ở vùng đồi này và cho phép hội đồng dân làng ở Rayagada và Kalahandi 3 tháng để quyết định họ có muốn dự án khai thác diễn ra ở đây không.

'Niyamgiri là Chúa của chúng tôi. Chúng tôi trồng xoài, berry, hạt tiêu đen, quế (cinnamon) và nhiều cây khác ở đây. Các thảo dược cũng được trồng ở đây. Chúng tôi có 13 ngày cầu nguyện đặc biệt cho Niyamgiri hàng năm. Chúng tôi sẽ không để Niyamgiri biến mất', bà Badaka Diko, 70 tuổi nói. Bà không hề đơn độc trong việc phản đối dự án gây tranh cãi này: cho tới nay, 10 trong số 12 làng được lựa chọn cho 'quá trình tư vấn' đã phản đối kế hoạch của Tập đoàn Vedanta (công ty đã đầu tư một nhà máy chế biến nhôm, một thị trấn, một trường học và bệnh viện ở nơi đây). Một cộng đồng tái định cư (resettlement colony) cũng được xây dựng cho những ai bị buộc phải di dời (got uprooted) khi nhà máy chế biến nhôm được xây dựng.

Lado Sikaka, người đứng đầu bộ lạc, nói mảnh đất của ông đã bị 'công ty lấy đi, phụ nữ trong gia đình bị quấy rối tình dục, và cảnh sát đánh ông và họ hàng bị buộc tội là những người Mao-ít', tuy nhiên, Vedanta đã phủ nhận lời buộc tội này.

...Khảo sát địa chất ở Ấn Độ cho thấy nước này có trữ lượng bauxite rất lớn và 74% số đó tập trung ở bờ biển phía Đông.

Thành viên cao cấp thứ hai của Hội đồng làng - Prakash Karsika nói nếu khai thác được cho phép ở khu vực này, đó sẽ là thàm họa môi trường - toàn bộ khu rừng sẽ bị phá hủy và không còn mưa nữa.

Vùng đồi này là nơi khởi nguồn của nhiều con suối và hai con sông lâu năm (perennial) - Bansdhar and Nagavali. 'Hai con sông này và các nguồn nước khác từ Niyamgri tưới tiêu nhiều đất nông nghiệp. Nếu chúng khô hạn, chúng tôi thậm chí không có nước để uống'...

Đọc thêm ở BBC.


Tama – 'miêu viên hỏa xa' quyên góp được 10 triệu USD


Tại thành phố Kinokawa (Wakayama, Nhật Bản), có ga Kishi rất đặc biệt (có lẽ duy nhất trên thế giới) vì trưởng ga ở đây là... chú mèo Tama.

Câu chuyện về chú mèo Tama bắt đầu từ năm 2003, khi một công ty đường sắt nhỏ, sắp phá sản, phải sáp nhập với công ty khác để hình thành công ty mới tên là Wakayama Electric Railway. Một trong những nạn nhân của vụ sáp nhập này là... một cũi mèo nhỏ bị yêu cầu phải di chuyển (eviction) khỏi khu vực để có chỗ cho việc xây tuyến đường mới vào sân ga. Vào năm 2006, bà lão chăm sóc chú mèo đã đến gặp chủ tịch công ty sau lễ khai trương và khẩn khoản đề nghị (desperately plea) để chú mèo được... sống trong sân ga.

'Khi nhìn vào mắt của Tama, ngay lập tức tôi thấy hình ảnh Tama như một trưởng ga (station master)' ông Mitsunobu Kojima nhớ lại, khoảnh khắc kì diệu đã biến đổi hoàn toàn sân ga của ông. Mặc dù Kojima là người thích chó, nhưng ông đã thấy Tama như là maneki-neko, chú mèo dụ khách mang lại may mắn ở Nhật Bản, và Tama đã không làm ông thất vọng.

Tin tức về chú mèo trưởng ga nhanh chóng nổi lên trên báo chí và lan truyền như 'lửa cháy' (wildfire). Tuyến đường sắt mỗi năm giảm 5% người đi lại trong nhiều năm đã ngay lập tức tăng 10% lượng hành khách chỉ trong năm đầu tiên. Năm sau, 2008, một bài báo xuất bản trên Sankei News đã ước tính lượng hành khách tăng, thu nhập từ vật kỉ niệm (memorabilia) như sách ảnh, quảng cáo, cũng như bùng nổ khách du lịch đã lên tới 1,1 tỉ yên.
Tàu Tama đặc biệt được thiết kế bởi Eiji Mitooka.

Tama làm việc từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều mỗi ngày và được nghỉ vào ngày chủ nhật. Với nỗ lực của mình (đi lại dọc sân ga mua vui cho khách :), năm 2008, Tama đã được thăng chức lên thành trưởng ga cao cấp, có cửa sổ văn phòng mới tinh, một chiếc mũ với lớp vải lót vàng (gold lining) và một chiếc huy hiệu. Tiền lương của Tama là một năm thức ăn miễn phí :D.  Sắp tới, Tama sẽ xuất hiện trong một bộ phim tài liệu của Pháp.                                              


Tama trong quảng cáo của Aflac.
Sơn Phạm
spoon-tamago


Vì sao ước mơ thâm nhập Silicon Valley của tập đoàn GE tan vỡ?

Động thái tránh thuế đã sớm chấm dứt hoạt động sản xuất máy tính của GE. Nguồn: Thư viện Quốc Hội (Mỹ), Phòng In Ấn và Nhiếp Ảnh.

By Elizabeth Tandy Shermer / Phương Thùy dịch, Sơn Phạm (hiệu đính)

Công ty sản xuất thiết bị xây dựng Caterpillar Inc. (CAT) mới đây đã gia nhập danh sách dài các công ty đe dọa sẽ di dời cơ sở sản xuất vì thuế tiểu bang quá cao. Tuy nhiên, lịch sử cho thấy một số bài học ‘đau buồn’ (sobering) đối với các công ty có ý định như vậy.

Những năm sau Thế chiến II, các giám đốc điều hành bắt đầu tiến hành di dời trụ sở khỏi vùng Đông Bắc, miền Trung Tây và bờ Thái Bình Dương. Đây là hành động đối phó với việc áp dụng thuế lũy tiến của chính quyền các bang và liên bang – được những người theo ‘Chính sách kinh tế mới’ (New Deal) khởi xướng trong thập niên 1930.

Không hề ngạc nhiên, các ông trùm (magnate) và trợ lý lựa chọn địa điểm phải nắm vững các mức thuế khi đánh giá môi trường kinh doanh một nơi nào đó có thuận lợi hay không. Một nhà phân tích đã chỉ ra: ‘Địa thế tốt có thể góp phần giảm ít nhất 10% chi phí sản xuất và phân phối’. Nhưng, ông cũng cảnh báo: ‘nếu đánh giá sai lầm thì hậu quả sẽ vô cùng nặng nề hơn bất kì quyết định nào khác’.

Bài học từ GE
Các nhà lãnh đạo của General Electric Co. (GE) thực sự thấm thía lời cảnh báo này. Vào giữa những năm 1950, GE đang trên đà trở thành công ty hàng đầu trong lĩnh vực máy tính. Phòng thí nghiệm của công ty tại Palo Alto, bang California đã thành công trong việc lắp đặt một trong những chiếc máy đầu tiên có khả năng đáp ứng nhu cầu của dịch vụ ngân hàng hiện đại. Ngân hàng Mỹ (Bank of America Corp.) - đã ký hợp đồng với GE – muốn những chiếc máy này được sản xuất không phải ở một bang thuế suất cao như Golden State (California) nhằm tránh 1,2 triệu USD thuế doanh thu – số tiền tương đối lớn vào những năm 1950 song không là gì so với lợi nhuận của ngân hàng này.

Giám đốc dự án này tại GE - Barney Oldfield, lưỡng lự trước quyết định rời bỏ vùng đất Silicon Valley non trẻ, nơi Hewlett- Packard Co. (HPQ) đã rất phát triển. Theo đánh giá của Oldfield, chi phí tăng thêm để hoàn thành dự án này ‘trong trường hợp trụ sở chính và tư liệu sản xuất đặt xa nhóm kỹ thuật phát triển’ là ‘vài triệu USD. Tôi nghĩ điều này sẽ làm lệch cán cân (tính toán)’.

Tuy nhiên, chủ tịch GE – Ralph Cordiner - rất muốn chuyển cơ sở đến khu thuế suất thấp Nashville, bang Tennessee. ‘Chúng tôi đã gạt bỏ (shoot down) ý tưởng này với lí do các chuyên gia cao cấp không muốn làm việc tại đây’, Oldfield nhớ lại. Do vậy, GE đã chọn Phoenix, thời đó là ‘suối nguồn’ (well-spring) của hàng loạt cải tiến trong ngành hàng không vũ trụ, chứ không phải công nghệ máy tính.

Từ Phoenix đến Los Angeles chỉ mất 8 giờ đi ô tô và một chuyến bay ngắn để đến được San Francisco, ngắn hơn nhiều so với việc đi lại giữa phòng thí nghiệm Palo Alto và Tennessee. Và công ty đã dễ dàng thực hiện các điều khoản của hợp đồng đầu tiên với chiếc máy đã định hình tiêu chuẩn cho công nghệ ngân hàng trong khoảng 40 năm. Tuy nhiên, trong dài hạn, quyết định này lại là một thảm họa.

Bộ phận sản xuất này, bị tách biệt khỏi trung tâm công nghệ và do đó bị hạn chế cả về quy mô lẫn phạm vi, dần dần chỉ phục vụ nhu cầu kế toán của công ty. Một thành viên cao cấp của dự án đổ lỗi nguyên nhân của tình trạng này là do những nhân viên địa phương ‘không hề biết (lack the faintest idea) sử dụng máy tính để thiết kế một máy tính khác và chỉ biết thiết kế thủ công’.

Rất ít kỹ sư ở phòng thí nghiệm Palo Alto muốn rời California để đến Phoenix giúp cải thiện tình hình (pick up the slack). ‘Họ không hứng thú với Phoenix, dù đây là địa điểm du lịch hay nơi làm việc’, trưởng bộ phận nhớ lại.

Cuối cùng, GE đành từ bỏ hoạt động trong lĩnh vực máy tính vào đầu thập niên 1970. Oldfield nói, ‘Tôi đang cố hình dung xem điều gì sẽ xảy ra nếu công ty cho phép chúng tôi đặt trụ sở bên cạnh nơi sau này trở thành Silicon Valley – ‘sân nhà’ của Apple, Intel, Hewlett-Packard, Beckman Instruments, Sygnetics và nhiều công ty khác nữa’.

Thời điểm đó, cũng như hiện nay, California là bang có mức thuế rất cao. Tuy nhiên, đây cũng là nơi khai sinh nền kinh tế số của nước Mỹ, mà GE, dù với rất nhiều dòng sản phẩm đa dạng, vẫn không là một phần trong đó.

(Elizabeth Tandy Shermer là giáo sư dự khuyết về lịch sử tại Đại học Loyola, Chicago. Bà là tác giả cuốn ‘Nền tư bản Nam và Tây Nam: Phoenix và sự biến đổi hoàn toàn chính trị nước Mỹ’ - ‘Sunbelt Capitalism: Phoenix and the Transformation of American Politics'.)

Bloomberg


Thủy thủ Philippines có gì đặc biệt?

...đó là tập quán tình dục ít được biết đến và hầu như không được ai nghiên cứu của họ: sử dụng các 'bolitas' hay các hạt nhỏ. Nhiều thủy thủ Philippines rạch những đường rạch nhỏ trên ... dương vật của mình và nhét các hạt đá hay nhựa vào đó - cỡ bằng kẹo sôcôla M&M - ở dưới da để làm tăng 'khoái cảm' của gái điếm và những phụ nữ khác mà họ gặp ở các thành phố cảng, đặc biệt là ở Rio de Janeiro. 'Đây là vũ khí bí mật của người Philippines vì 'cái ấy' của họ thì nhỏ còn của gái Brazil thì lớn'. 'Gái Brazil rất thích chúng tôi, họ luôn tìm chúng tôi, và khi chúng tôi đến, họ rất sướng'.
Thủy thủ Philippines đông nhất toàn cầu. (Wikimedia Commons).

Những hạt bolitas này có thể được làm từ ngói, hoặc đũa nhựa hay bàn chải đánh răng, thường chỉ được nhúng vào nước sôi để khử trùng. Các vị trí nhét vào có thể khác nhau, tùy theo sở thích từng thủy thủ, trên, dưới, hoặc cả hai, có người còn nhét 4 viên, như hình chữ thập tự, thậm chí có người còn nhét tới... 7 viên.

Tập quán này chỉ có ở Đông Nam Á và bắt nguồn từ thế kỉ 16, học giả người Ý Antonio Pigafetta đi cùng Ferdinand Magellan và thủy thủ đoàn trên các chuyến thám hiểm đã ghi lại những hành vi tương tự mà hiện người phía Nam Philippines và Borneo vẫn theo đuổi. Tập quán này cũng được áp dụng ở Thailand và Indonesia, nhưng sau đó không xuất hiện trong sách lịch sử từ giữa thế kỉ 17, khi mọi người theo đạo Hồi và đạo Cơ đốc.

...Người dân Philippines chiếm số lượng thủy thủ nhiều nhất trên thị trường toàn cầu, khoảng 240.000, chiếm gần 1/5 tổng số 1,2 triệu thủy thủ. Vào những năm 1960, chỉ có 2.000 thủy thủ Philippines hoạt động trên vùng biển quốc tế, nhưng sau khủng hoảng dầu mỏ thập kỉ 1970 đã làm tăng gánh nặng tài chính lên ngành này và thay đổi luật lệ hàng hải cho phép các tàu được thuê thủy thủ từ các nước khác có mức lương thấp -> số thủy thủ Philippines tăng lên trong những năm 1970, 1980 vì rất thích hợp với hoạt động kinh doanh của các công ty châu Âu: thông thạo tiếng Anh, theo đạo Cơ đốc, và chấp nhận lương thấp.

Đọc thêm ở The Atlantic, để thấy thủy thủ Philippines đang phải chịu cạnh tranh từ Indonesia, thậm chí Nam Hàn, và dùng bolitas để 'định vị hình ảnh', 'barako talaga' = this is a man's job...


"Icing on the cake" nghĩa là gì?

Chú tôi hẹn hò bác sĩ nhãn khoa, và có hơn 10 năm hôn nhân hạnh phúc. Photo courtesy U.S. Navy Page.

'Icing on the cake' nghĩa đen là lớp kem trứng để phủ lên bánh ngọt, và nghĩa bóng là một bổng lộc kèm thêm vào một tin mừng hay một điều gì tốt đẹp.

Ví dụ
It’s very much like when I found out that the boss was going to be giving me a promotion (thăng chức), which was terrific (tuyệt vời) news. Then I was told I’d also be getting a newly refursbished (mới tân trang lại) office; that was icing on the cake (bổng lộc mà tôi được hưởng thêm).

When my uncle was young he thought he had a brain tumor (khối u trong não). He was thrilled when it turned out that he only needed to get glasses to stop his headaches. The icing on the cake (điều tốt đẹp hơn nữa là) is that he got to talking to the receptionist at the optometrist’s (bác sĩ nhãn khoa) office and asked her out on a date. Not long afterwards, they became engaged. He and my aunt have been happily married for over ten years.

Huyền Trang
VOA