Journey in Life: August 2014

Sunday, August 31, 2014

Chai lì cảm xúc

shared from fb Chi Trung Nguyen.
Photo courtesy Zachary Collier.

Ở đời ganh ghét, chẳng được chi
Thù hận hại nhau, chẳng được gì
Xã hội bao la, người mỗi tính
Rộng lượng bao dung, bớt sầu bi

Những người hiểu biết, gạt sân bi
Kẻ kém nhận thức, hay so bì
Học nhiều, học ít, không quan trọng
Hơn nhau đạo đức, mặt lễ nghi

Giỏi thì làm tướng, dốt coulee
Đèn ai nấy sáng, chớ khinh khi
Hơn thua đức độ, tâm hiếu nghĩa
Giàu, giỏi hẹp tâm... cũng vứt đi...

Chiếc túi Louis Vuitton có mùi gì?


học sinh lớp 1 cũng trả lời được... :D

cinnamon: mùi quế
semen: tinh trùng.

Tranh cãi xung quanh tranh bìa mông sexy của Người Nhện
Hình ảnh siêu âm bé ra dấu hiệu ủng hộ trong bụng mẹ

"A money-spinner" nghĩa là gì?

Banksy exhibition in Bristol. Photo courtesy Heather Cowper.

'A money-spinner' có từ spinner là bánh xe quay tơ, vì thế 'a money-spinner' là một doanh nghiệp hay sản phẩm mang lại rất nhiều tiền cho chủ sở hữu (cỗ máy xay tiền).

Ví dụ
Cookery books are becoming a real money-spinner for the publishing industry.

Wall Street now has its equivalent of a reality TV star. A clip from the BBC of a self-described trader admitting to dreaming of financial doom as a money spinner has spread like wildfire over the Internet. The would-be Gordon Gekko, Alessio Rastani - an ersatz trader, doesn’t work for a Wall Street firm, but his vulgar amorality offers a description of trading that has struck a chord with a public smoldering over bank bailouts.

The mural depicts the British reality-TV celebrity and cancer victim Goody's head with a pound sign branded on it and vultures circling above with the words "This is England" accompanying it. "Clearly designed in the style of the artist, who is one of the art world's most famous names, it focuses on how her illness has turned into a huge money spinner."

A plant poison becomes a money-spinner: Red yeast rice is a very small plant in a valley in the north of China, which has so many enemies locally as they find the rice tasty. This rice produces a poison, lovastatin, which kills all foolish predators. This poison was seen to be blocking an important enzyme known as the HMG-CoA reductase. This enzyme is responsible for cholesterol production in the liver. The pharma lobby found out that, lovastatin, in smaller doses, blocks cholesterol production in our liver.

Bài trước: "A fool and his money are soon parted" nghĩa là gì?

Đừng sống cuộc đời "Đi mượn"

shared from Alpha Books.

Bố mẹ mong muốn, xã hội mong muốn, thầy cô mong muốn, dường như chúng ta đang sống theo những kỳ vọng của người khác mà quên mất rằng bản thân mình muốn gì. Bạn đã từng sống như vậy hay chưa?

Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy
Con cái thường có xu hướng dựa dẫm vào quyết định của cha mẹ vì sợ phải chịu trách nhiệm cho cuộc đời mình. Thi vào một trường đại học mình chưa từng biết tên vì sau khi ra trường bố mẹ có khả năng xin được việc làm, yên phận ở một doanh nghiệp nhà nước vì bố mẹ bảo rằng nó thật “ổn định”.
Những quyết định an toàn đôi lúc có thể giết chết cuộc đời bạn.

Dư luận nói gì mình theo đấy
Miệng lưỡi thế gian là thứ vô cùng đáng sợ mà những người thiếu bản lĩnh khó có thể chống lại được.
Tôi không dám mặc một chiếc quần bò rách rưới tua rua ra đường vì sợ người khác đánh giá là kẻ “vô giáo dục”.
Bạn không dám chơi với những đứa xăm trổ đầy mình vì sợ xã hội đánh giá là “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”.
Chiếc áo chẳng thể làm nên thầy tu, bạn bè không thể nhìn vẻ ngoài mà đánh giá. Vậy mà tại sao chúng ta vẫn cứ phải sống một cách gò bó và khổ sở đến vậy.

Xã hội muốn gì tôi làm đấy
Tài chính ngân hàng đang hot! Chuyên viên Marketing lương cao lắm! Làm Công nghệ thông tin rất có tương lai!
Vậy là hàng trăm hàng ngàn sinh viên mỗi năm đổ xô vào những ngành kinh tế, tài chính, công nghệ để mong muốn có một công ăn việc làm thu nhập cao, được xã hội trọng vọng. Điều này không sai nếu như bạn có đam mê thực sự.
Nhưng tin tôi đi, nếu chỉ là kẻ chạy theo xu hướng, bạn sẽ sớm bị đào thải khỏi cuộc chơi.

Bạn và tôi, có lẽ vẫn đang sống cuộc đời "Đi mượn" và chưa hề có phương hướng cho chính mình....

"A fool and his money are soon parted" nghĩa là gì?

Nên chi tiêu tằn tiện thôi ;) Photo courtesy rafeejewell.

'A fool and his money are soon parted' có từ fool là người xuẩn ngốc và part là chia tay, từ biệt; vì thế 'A fool and his money are soon parted' là người khờ dại thường tiêu tiền hoang phí mà không suy nghĩ thấu đáo (tiền đội nón ra đi).

Ví dụ
Gianni relishes his extravagant lifestyle - but then a fool and his money are soon parted.
After all, a fool and his money are soon parted, and the victims of these scams have brought financial misfortune on themselves, isn't that right?
Absent government-imposed distortions, a fool and his money are soon parted.

Better to learn young that the world is not to be taken at face value. Better to be a little skeptical. Better to learn in childhood to live by a few old saws, even though they be of dubious validity. Somebody who learns at age 6 that ''A fool and his money are soon parted'' has a chance, for better or worse, of growing up to be another Joseph P. Kennedy, who, when asked what made him take his vast winnings out of the stock market before the crash of 1929, replied, ''Only a fool holds out for top dollar.'' (NYTimes, 4/1989)


"Money doesn't grow on trees" nghĩa là gì?
"Give Someone a Run for Their Money" nghĩa là gì?

"Every Tom, Dick and Harry" nghĩa là gì?

Still plumbing. Photo courtesy Charles Haynes.

'Every (any) Tom, Dick and Harry' (shared via VOA) có ba tên của con trai: Tom là tên tắt của Thomas, Dick là tên tắt của Richard, và Harry là tên tắt của Harold. Đây là những tên rất thông thường mà người Mỹ thích đặt cho con cái họ. Vì thế, 'Every Tom, Dick, and Harry' được dùng để chỉ những người thường.

Ví dụ
Draw the curtains or we'll have every Tom, Dick, and Harry peeking in the window.
I want a qualified plumber to do the job, not just any Tom, Dick, or Harry.

With a personal computer and connection (kết nối với) to the Internet, every Tom, Dick, and Harry can access (tiếp cận) millions of resources (nguồn thông tin) from around the world with the click (nhấn vào) of a mouse. It’s no wonder (không có gì đáng ngạc nhiên) that everybody seems to have a computer these days.

Poor Diane hasn’t had a date (hẹn đi chơi) in months! She’s getting so desperate (nóng lòng) that she will go out with any Tom, Dick, and Harry. But I think she should hold out* (chờ đợi) for someone special (đặc biệt).

The principles appear elementary, but simple motherly advice is often best: Live within your means "Don't try to keep up with every Tom, Dick, and Harry if you can't afford it," says Theresa.

* trì hoãn, chịu đựng để đạt được điều mình mong muốn.

Tàu vỏ sắt trở thành đại họa của ngư dân Việt

shared via Người Việt, hat tip to Paul Dau.

Chủ của hai con tàu đánh cá vỏ sắt mang tên Hoàng Anh 01 và Sang Fish 01 kêu trời ngay sau chuyến đi biển đầu tiên. Có vẻ chương trình hỗ trợ ngư dân mới nhất chẳng khác trước.

Hai con tàu đánh cá vỏ sắt vừa kể do Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam – gọi tắt là SBIC (hậu thân của Vinashin, một tập đoàn nhà nước đã phá sản sau khi để lại khoản nợ hàng chục ngàn tỷ đồng) thiết kế và đóng.

Từ khi tranh chấp chủ quyền trên biển Đông trở thành căng thẳng, Chính phủ công bố hàng loạt kế hoạch hỗ trợ phát triển kinh tế biển, trong đó có “Chương trình hỗ trợ chuyển đổi 3,000/130,000 tàu đánh cá từ vỏ gỗ, sang vỏ sắt”, với ngân khoản dự trù 10,000 tỉ đồng. SBIC được xem là nỗ lực chính để thực hiện chương trình này.

Theo chương trình vừa kể, SBIC sẽ đóng những tàu đánh cá vỏ sắt, trị giá khoảng 7 tỉ/tàu. Chủ tàu trả khoảng một nửa, nửa còn lại được vay từ khoản hỗ trợ 10,000 tỉ của nhà nước, rồi trả dần trong khoảng thời gian từ 5 đến 7 năm, không phải trả lãi.

Đã có rất nhiều người, đặc biệt là các chuyên gia, công khai bày tỏ sự lo ngại cả về tính khả thi của “Chương trình hỗ trợ chuyển đổi 3,000/130,000 tàu đánh cá từ vỏ gỗ sang vỏ sắt”, lẫn các mẫu tàu của SBIC.

Trong đó, đáng chú ý nhất là cảnh báo của ông Nguyễn Quốc Chính, Chủ tịch Nghiệp đoàn Nghề cá huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, kiêm Ủy viên Ban Chấp hành Nghiệp đoàn Nghề cá Việt Nam. Theo ông Chính, tàu do SBIC đóng chỉ phù hợp với công việc câu mực ở giữa đại dương, chưa phù hợp với các nhu cầu đánh bắt khác, giá thành lại quá cao. Nếu ngư dân tự đóng, chi phí chỉ khoảng 5 hoặc 6 tỉ và chất lượng không thua kém những con tàu mà SBIC đóng với giá 7 tỉ. Khoản chênh lệch hàng tỉ đó ngư dân phải gánh và đây là điều vô lý, chưa kể chúng sẽ tạo thêm nhiều khó khăn cho ngư dân.

Ông Chính còn nói thêm rằng, nếu là hỗ trợ thì phải để ngư dân đóng góp những kinh nghiệm của họ vào con tàu mà họ phải vay tiền để mua, chứ không phải nhận một con tàu đóng sẵn rồi họ phải ra khơi trên con tàu xa lạ đó.

Cũng theo ông Chính, ngư dân đang cần cơ chế vay vốn phù hợp. Vay vốn phù hợp là tất cả những người trên tàu, từ thuyền trưởng đến thủy thủ cùng được vay để cùng góp vốn vào con tàu mới song chuyện này chưa được tính tới. Trong quá khứ, một số người từng lợi dụng chương trình hỗ trợ ngư dân để đứng ra vay vốn đóng tàu, sau đó thuê thuyền trưởng và thủy thủ, bóc lột thuyền trưởng và thủy thủ tới mức họ không thể chịu đựng được rồi bỏ việc và những con tàu đó trở thành vô dụng.

Ông Ngô Khắc Lễ, người vừa là chuyên gia hàng hải, vừa là Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, rất quan tâm đến những đề nghị của ông Chính. Ông Lễ cho rằng, phải có những hợp đồng ràng buộc chặt chẽ tất cả các bên: đóng tàu, kiểm định, ngân hàng, bảo hiểm, ngư dân để bảo đảm sự an toàn cho cả ngân hàng lẫn ngư dân. Tránh tình trạng chương trình hỗ trợ lần này trở thành vô dụng, thất thoát tiền bạc như những lần trước.

Những cảnh báo như vừa kể nay đang trở thành hiện thực. Sau chuyến đi biển đầu tiên, ông Mai Thành Văn, chủ tàu Hoàng Anh 01, cho biết, trục kéo lưới của tàu bị gãy ngay lần kéo cá đầu tiên, sau đó máy chính bị hư hại nặng, không thể sửa, ông Văn đành để tàu trôi tự do rồi gọi tàu cứu nạn, nhờ kéo về cảng.

Tàu Sang Fish 01 cũng gặp những trục trặc tương tự: Trục kéo lưới bị gãy, mất cả lưới lẫn cá. Ông Lê Văn Sang, chủ tàu Sang Fish 01 còn lưu ý, hình như vì cabin quá to, khi ra biển, con tàu rung lắc rất đáng sợ, điều đó khiến ngư dân có thể rơi xuống biển bất kỳ lúc nào.

Cả ông Văn lẫn ông Sang, những người sở hữu hai con tàu vỏ sắt đầu tiên do SBIC thiết kế và đóng, đều than họ lỗ nặng khi phải tự thanh toán mọi chi phí phát sinh do trục trặc trong chuyến đi biển đầu tiên.

Trong quá khứ, các chính sách hỗ trợ ngư dân luôn xem là cơ hội cho viên chức nhiều cấp, nhiều ngành đục khoét.

Năm 1997, Chính phủ thực hiện chương trình hỗ trợ ngư dân “đánh bắt xa bờ”. Chương trình này ra đời sau trận bão thứ 5 của năm 1996, gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngư dân và ngư nghiệp Việt Nam. Đến tháng 4 năm 2006, sau khi chương trình này ngốn hết 1,400 tỉ đồng, kết quả thanh tra cho thấy, 95% của khoản 1,400 tỉ đồng đó bị tham nhũng.

Các tỉnh - thành phố, quận – huyện, phường - xã của 29 tỉnh, thành phố nằm trong chương trình đã thi nhau dựng ra những hợp tác xã ma, công ty ma để rút bằng hết nguồn vốn vay có tính ưu đãi cho ngư dân để chia chác với nhau.

Sau chương trình hỗ trợ ngư dân “đánh bắt xa bờ”, gần đây, Chính phủ thực hiện một chương trình hỗ trợ khác cũng dành cho ngư dân. Đó là “lắp thiết bị định vị vệ tinh cho tàu đánh cá”. Chương trình đã thực hiện thí điểm với 2,000 tàu đánh cá và phóng sự của nhiều tờ báo cho thấy, hàng loạt thuyền trưởng của các tàu đánh cá được chọn thí điểm đã yêu cầu được trả lại thiết bị vì chất lượng tồi, hiệu quả kém mà lại quá nhiều ràng buộc.

Có vẻ như “Chương trình hỗ trợ chuyển đổi 3,000/130,000 tàu đánh cá từ vỏ gỗ, sang vỏ sắt” chỉ là bản sao của những chương trình trước đó.

Saturday, August 30, 2014

Ngân hàng Ba Lan – Những nhà cho vay may mắn

Photo courtesy Paul Sableman.

Nền kinh tế lành mạnh và các dịch vụ hiện đại đang thúc đẩy sự phát triển của các ngân hàng Ba Lan.

Giống như cách nền kinh tế tăng trưởng và các ảnh hưởng (clout) chính sách đối ngoại của Ba Lan tăng cường sức nặng âm thầm nhưng mạnh mẽ, hệ thống ngân hàng nước này cũng trở thành một trong những điểm sáng ít được biết đến của châu Âu. Thế hệ tinh hoa chủ ngân hàng mới, trẻ trung, quốc tế hóa và đam mê công nghệ đã tìm ra cách hái ra tiền từ các khách hàng thận trọng (conservative) và thường ngại vay tiền (borrowing-shy). Một cách tình cờ (fortuitously), mô hình kinh doanh họ áp dụng đã giúp tránh khỏi những tài sản bị mất giá nhiều nhất trong khủng hoảng tài chính.

Đại gia ngân hàng lớn nhất nước PKO BP - Zbigniew Jagiello cho rằng phần lớn nhờ nền kinh tế rộng hơn và các chính sách công đúng đắn. Từ khi ngân hàng thuộc một phần sở hữu nhà nước, ông đã sắc sảo (astute) cung cấp tín dụng cho các cổ động lớn nhất của mình. Nhưng nhà nước cũng được lợi từ các ngân hàng – trực tiếp dưới dạng cổ tức đều đặn từ PKO BP và gián tiếp từ việc không phải bảo lãnh (bail out) các nhà cho vay yếu kém (ailing) ở quy mô như nhiều nước châu Âu khác. ‘Thật vui vì Ba Lan không phải trung tâm tài chính thế giới’, ông Jagiello tinh tế nhận xét.

Hầu hết các ngân hàng còn lại ở Ba Lan do các công ty mẹ nước ngoài sở hữu: UniCredit của Ý nắm phần lớn Bank Pekao; Santander của Tây Ban Nha nắm Bank Zachodni WBK - ngân hàng lớn thứ ba của Ba Lan. Sở hữu nước ngoài rất có ích trong khủng hoảng, do họ mang lại tính thanh khoản cho các công ty con ở Ba Lan. Các công ty mẹ đã quyết định đúng khi hỗ trợ; trong một số trường hợp, ngân hàng Ba Lan là bộ phận có lợi nhuận cao nhất của tập đoàn.

Ví dụ năm 2013, mBank là một trong các điểm sáng ít ỏi trong hoạt động của tập đoàn Commerzbank của Đức. mBank là một trong những ngân hàng đầu tiên cung cấp dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (mobile banking) và được tán thưởng (plaudit) cho những nỗ lực số hóa. Ngân hàng này tuyên bố quý đầu tiên đạt doanh thu hàng tỉ zloty (tiền Ba Lan) ngày 30 tháng Bảy với lợi nhuận ròng 325 triệu zloty (107 triệu USD) bất chất việc lãi suất thấp đang gây khó khăn (hobble) cho toàn ngành.

Tuy hoạt động đầu tư và cho vay nhàm chán, các ngân hàng Ba Lan lại rất sáng tạo trong dịch vụ. Do nước này xây dựng hệ thống ngân hàng từ số không (from scratch) nên không hề bị cản trở (hamper) bởi các thông lệ cũ (legacy practice) như séc giấy. Ba Lan là nước đi đầu châu Âu trong thanh toán không cần nhân viên giao dịch (contactless payment). Alior, một ngân hàng non trẻ khác (và là một trong số ít không có đối tác nước ngoài chiếm đa số) đã nhắm tới nhiều vùng nông thôn chưa có ngân hàng (khoảng 30% dân số không có tài khoản). Chiến dịch ‘Kill Bill’ (‘Vứt hóa đơn đi’) của Alior hứa hẹn sẽ cung cấp dịch vụ thanh toán tiền điện, nước... miễn phí và dễ dàng, và rất nhiều khách hàng đã đăng kí tài khoản và vay tiền. Idea, đối thủ của Alior, cho vay dễ dàng sau khi xem xét nhanh chóng lịch sử giao dịch ở tài khoản trực tuyến của các khách hàng tiềm năng là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Các yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của các ngân hàng cũng đóng góp cho thành công này. Người Ba Lan không vay (mortgage) quá khả năng của mình như nhiều nước châu Âu khác, vì thế ít bị hoảng sợ hơn khi khủng hoảng nổ ra. Một vấn đề là, như một số người ở Đông và Trung Âu khác, nhiều người Ba Lan vay bất động sản bằng tiền franc Thụy Sĩ để rồi nhận thấy số tiền phải trả tăng chóng mặt khi đồng zloty mất giá so với franc. Tuy nhiên, các quan chức chính phủ (regulator) đã đặt ra các tiêu chuẩn tín dụng khắt khe hơn đối với hình thức đi vay này (giờ đã bị cấm), do đó hạn chế thiệt hại tới nền kinh tế. Theo Pawel Uszko của SNL Financial, một công ty giải pháp quản trị (business-intelligence), sự giảm giá bất thường của đồng zloty hay lãi suất tăng mạnh ở Thụy Sĩ là một trong số các rủi ro lớn tiềm tàng với hệ thống ngân hàng.

Tuy nhiên, các chỉ số căn bản (underlying) của SNL cho thấy các ngân hàng Ba Lan đang trong tình trạng tốt (in good shape). Theo tiêu chuẩn quốc tế, các khoản cho vay đối với khách hàng được hậu thuẫn (back by) bởi nhiều vốn chủ sở hữu (equity), đồng nghĩa với việc các ngân hàng có khả năng chống đỡ một cuộc khủng hoảng vừa. Các chi phí nằm trong tầm kiểm soát. Với lợi nhuận trên vốn lên tới 10,9% năm 2013, các ngân hàng Ba Lan vượt trội hoàn toàn khi so sánh với hầu hết các nước láng giềng dù ở Đông hay Tây.

Đăng Duy
The Economist


"Run of the mill" nghĩa là gì?

French Garden at Duke Farms. Photo courtesy nosha.

'Run of the mill' (shared via VOA) có danh từ run nghĩa là số lượng hàng hóa được sản xuất trong một khoảng thời gian nào đó, và mill là một nhà máy sản xuất giấy hay hàng vải. Vào cuối thế kỷ 19, 'run of the mill' được dùng để chỉ số hàng vải sản xuất thẳng từ một nhà máy mà không được chọn lọc hay khảo sát phẩm chất. Vì thế ngày nay, 'run of the mill' có nghĩa là tầm thường, không có gì đặc biệt.

Ví dụ
She later considered getting a run-of-the-mill job working for a male boss in a big company.
It is something a little bit unusual, you know, not their normal run-of-the-mill investigation, I would have thought.

Why was the rock concert (buổi trình diễn nhạc rock) cancelled (hủy bỏ)? Many fans complained that they were no longer willing to spend a lot on tickets only to see run of the mill bands (ban nhạc tầm thường). Perhaps next time concert organizers will get better talent (tài năng).

I think John is a great guy and so considerate (chu đáo, có ý tứ). He’s certainly not your run of the mill neighbor (người láng giềng) the way he’s always helping everyone. But as far as his guitar playing? If I were him, I wouldn’t quit my day job!

McGinnis said Nordahl sprang to mind when there was a spike in Chestnut Hill burglaries, a dozen of them not your run-of-the-mill variety.
At about this time, most gardeners begin to develop an interest in gray and silver foliage and in less run-of-the-mill plants.

Friday, August 29, 2014

Các nhà từ điển học quyết định thêm từ mới như nào?

Side boob. Photo courtesy Lies Thru a Lens.

Đầu tháng này, Từ điển Oxford đã thêm một số từ mới vào phiên bản trực tuyến của mình. (không nên nhầm với Từ điển tiếng Anh Oxford.) Như thường lệ, Oxford bao gồm các từ mới (coinage) do các bạn trẻ biến cách (inflect) ồn ào trên mạng như 'neckbeard' (a man who is socially inept and physically unappealing, especially one who has an obsessive interest in computing), 'side boob' (the side part of a woman’s breast, as exposed by a revealing item of clothing) và 'mansplaining' ((Of a man) explain (something) to someone, typically a woman, in a manner regarded as condescending or patronizing). Và như thường lệ, các bình luận trên mạng internet có vẻ bối rối (nonplussed) bởi việc một tổ chức đáng kính (như Oxford) thừa nhận tiếng lóng tuổi teen. Vậy, những nhà soạn từ điển (lexicographer) quyết định đưa từ mới vào từ điển như nào?

Một cách ngắn gọn, các nhà soạn từ điển giống một ngư dân, thu thập các từ mới bằng chiếc lưới rộng, hơn là một cảnh sát, loại bỏ "từ xấu", như nhà từ điển học Erin McKean, trước ở Oxford và giờ cộng tác với từ điển trực tuyến Wordnik, nói. Hầu hết các từ điển hiện đại dùng phương pháp mô tả (descriptive), trong đó họ tìm các từ mọi người thực sự sử dụng và ghi lại. Họ không còn theo tập quán (prescriptive) "ban cho" từ "tốt" địa vị chính thức trong khi vẫn loại bỏ tiếng lóng và từ mới (neologism) nữa.

Nhưng điều này cũng không có nghĩa từ điển bao gồm tất cả mọi thứ. Các từ điển bản in phải đánh đổi (trade off) giữa kích thước và chi phí với việc bao gồm đủ từ vựng để từ điển trở nên có ích. Những từ điển như vậy phải bỏ qua rất nhiều từ hiếm hay quá kỹ thuật. Nhưng các nhà soạn từ điển cũng đợi đến khi một từ dường như được sử dụng rộng rãi và lâu dài trước khi thêm vào từ điển. Đưa một từ mới vào quá sớm, và từ đó có thể lỗi mốt (out of fashion) khi mực trên ấn bản đầu tiên chưa kịp khô. Nhưng nếu một từ được dùng trong một thời gian đủ dài trên một khu vực đủ rộng những người nói tiếng Anh, các nhà soạn từ điển sẽ quyết định (make the judgment call) để đưa từ đó vào. Điều này không giống như phê duyệt. Thật vậy, các từ điển nghiêm túc cũng bao gồm các từ bậy (foul language) và khinh miệt chủng tộc (racial slur).

Mạng internet đã thay đổi hoàn toàn công việc soạn từ điển. Rất nhiều từ điển, cả truyền thống lâu đời và các nhà xuất bản mới - được miễn phí trên mạng nên các nhà soạn từ điển phải cạnh tranh để có thêm các tính năng như phát âm, truy cập vào cơ sở dữ liệu lịch sử trích dẫn v.v... Có lẽ chắc chắn, các nhà soạn từ điển trực tuyến sẽ thêm các từ mới nhanh hơn các đồng nghiệp bản in của họ, ít nhất vì họ không phải cân nhắc tính toán về khối lượng. Và đối với một số loại tìm kiếm, một từ điển trực tuyến không theo kịp với ngôn ngữ mới sẽ bị loại hoàn toàn khỏi cạnh tranh bởi các từ điển khác. Ví dụ, Urban Dictionary, từ điển trực tuyến gồm rất nhiều các định nghĩa tục tĩu (scurrilous), đã thêm từ "side boob" ngay từ năm 2005. Áp lực từ các từ điển trực tuyến có lẽ đã khiến Từ điển Collins, một từ điển truyền thống, cho phép người dùng Twitter bầu cho từ mới được đưa vào - và từ chiến thắng là 'adorkable' (adorable in a socially awkward manner). Vì vậy, không ngạc nhiên khi ngay cả Oxford bao gồm một vài từ mới 'cray cray" (crazy, điên khùng) mỗi năm. Một lợi thế cuối cùng của việc soạn từ điển trực tuyến là các từ đưa vào một cách vội vã có thể dễ dàng được gỡ bỏ.

Sơn Phạm
The Economist

Do you like my laugh?

Sapporo Beer Man. Photo courtesy James Trosh.
One can know a man from his laugh, and if you like a man's laugh before you know anything of him, you may confidently say that he is a good man.
~ Fyodor Dostoyevsky

"Say the word" nghĩa là gì?

Scrap Metal - London Street. Photo courtesy Simon & His Camera.

'Say the word' (shared via VOA) có từ say là nói, và word là chữ hay từ. 'Say the word' là ra dấu hay ra lệnh cho người khác làm một điều gì. Đôi khi thay vì dùng to say, người Mỹ cũng dùng 'to give the word' khi họ muốn ra dấu hiệu cho người khác làm một điều gì.

Ví dụ
It's not far from here, but if you get tired, just say the word and I can carry you!
The minute he says the word, the throne is yours.

Since we broke up (chia tay), my life has been empty (trống trải) without you. You know how much I’ve always loved you. Just say the word and I’ll be back by your side. Call me tonight, please?!

When I give the word, I want all of you to get up out of your seats (ghế ngồi) and quickly head to the exit (lối ra) nearest our classroom. Do not take your books and other belongings (đồ đạc), and do not push anyone on your way out. Is everyone ready? Go!

Những con người làm nên nước Mỹ

shared via bs Hồ Hải.
Bốn vị Tổng thống được tạc tượng, từ trái qua: George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt, Abraham Lincoln. Họ được tạc tượng ở khu Tưởng niệm Quốc gia là một quần thể tác phẩm điêu khắc được tạc vào khối đá granite khổng lồ trên núi Rushmore, gần thành phố Keystone, bang South Dakota, Hoa Kỳ. Toàn thể khu tưởng niệm bao phủ trên diện tích 517 km² và cao 1.745m so với mực nước biển.

Nước Mỹ có được cuộc soán ngôi vị số 1 thế giới từ Vương Quốc Anh là sự góp công lớn không chỉ các chính khách, mà của tất cả mọi con người số 1 nước Mỹ trong tất cả các ngành nghề. Đóng góp đó được hun đúc trong chỉ 5 con người vĩ đại nhất nước Mỹ qua mọi thời đại từ sau ngày nước Mỹ độc lập. Năm con người này được xem là tương đương với 4 vị Tổng thống được xem là nổi tiếng nhất nước Mỹ được khắc ở Khu Tưởng niệm Quốc gia trên núi Rushmore, gần thành phố Keystone, bang South Dakota, Hoa Kỳ. .

Một bộ phim lịch sử Hoa Kỳ gồm 4 tập bắt đầu từ năm 1865 với 5 con người tiên phong vĩ đại làm nên nước Mỹ ngày nay như:
Cornelius Vanderbilt (May 27, 1794 – Jan 4, 1877)
1. Cornelius Vanderbilt, ông cố của Cornelius Vanderbilt là một công dân Hoa Kỳ gốc Hà Lan, có tên họ là, Jan Aertszoon, một nông dân ở làng De Bilt thuộc thành phố Utrecht, của Hà Lan. Ông di cư sang Hoa Kỳ năm 1650, và đổi họ của mình bằng tên làng là Vanderbilt để ngóng tưởng về quê nhà. Đến thế hệ thứ tư thì gia đình Vanderbilot xuất hiện thiên tài Cornelius Vanderbilt - một ông trùm ngành giao thông hàng hải, và là người khai sinh ra ngành đường sắt cho nước Mỹ.

Không có Cornelius Vanderbilt nước Mỹ sẽ không thể có một hệ thống giao thông phân phối vĩ đại nhất hành tinh như ngày nay. Đế chế Cornelius Vanderbilt được xem như là huyết mạch của nền kinh tế Mỹ từ giữa thế kỷ XIX, khi mà cả thế giới còn ngụp lặng trong chủ nghĩa phong kiến, thì Cornelius Vanderbilt đã gây dựng và tài trợ đại học tư nhân lừng danh của mình: Vanderbilt University vào năm 1873. Ngày nay Vanderbilt University luôn nằm trong top 20 của những đại học danh tiếng nước Mỹ, không thua kém bất kỳ Ivy League nào.

John Davison Rockefeller, Sr.
(July 8, 1839 – May 23, 1937)
2. John Davison Rockefeller, Sr.(cha): Ông là người nổi tiếng nhất của gia đình Rockefeller và là nhà đồng sáng lập ra Tập đoàn Standard Oil. Ông trùm dầu hỏa và là người cùng đứng chung với Cornelius Vanderbilt vào hàng ngũ những người giàu có nhất nước Mỹ. Ngành dầu khí Hoa Kỳ có được ngày nay là từ ông và gia đình Rockefeller - một gia tộc Đức di dân đến Hoa Kỳ. Bốn mươi năm cuối đời, John Davisson Rockefeller Sr. chỉ dành cho việc làm từ thiện cùng với ông trùm Andrew Carnegie.

Ông Rockefeller cũng là nhà tài trợ và khai sinh ra các đại học Hoa Kỳ như, Rockefeller University và University of Chicago lừng danh thế giới luôn nằm top 10 của Hoa Kỳ và thế giới, và University of Chicago cũng là trường đại học danh tiếng của Mỹ đầu tiên có nhà khoa học nhận giải Nobel đầu tiên năm 1907, khi giải này mới ra đời. Ngoài ra ông còn là nhà sáng lập ra Central Philippine University để giúp đỡ cho đất nước Phi Luật Tân khốn khổ. Việc gia đình Rockefeller chăm lo giáo dục và làm từ thiện là do tác động lớn của Andrew Carnegie, mà chúng ta sẽ biết sau đây.


Andrew Carnegie (Nov 25, 1835 – Aug 11, 1919)
3. Andrew Carnegie: Có thể nói không ngoa là, Andrew Carnegie là cha đẻ ngành công nghệ thép Hoa Kỳ. Nhưng cái vĩ đại nhất của Andrew Carnegie là, ông chính là cha đẻ của lòng nhân từ, tấm gương chói lọi của nhân loại nói chung, và Hoa Kỳ nói riêng, được xem là người khai sinh ra những tổ chức từ thiện cho nước Mỹ từ thế kỳ XIX, và cho toàn cầu sau này. Carnegie sinh ra ở Dunfermline, Scotland vào năm 1835, khi lên 13, ông cùng mẹ di cư sang Hoa Kỳ trong hoàn cảnh rất nghèo, và mồ côi cha. Bắt đầu bằng một chân điện tín viên trong bưu điện, và tìm hiểu đầu tư tài chính vào ngành hỏa xa, ông đã nổi lên như một ngôi sao sáng khi thành lập Công ty thép Carnegie, ở Pittsburgh, để phục vụ cho công nghiệp, mà sau đó ông bán cho J.P Morgan vào năm 1901 với giá 487 triệu USD (tương đương với khoảng 13.6 tỷ đô la vào năm 2013), rồi cùng với J.P Morgan, ông thành lập Tổng công ty thép Hoa Kỳ, và bao nhiêu đầu tư ở các ngành khác.

Vào năm 1889, khi ông ở tuổi 54, ông nổi tiếng với bài diễn văn: "The Gospel of Wealth" - Nguyên lý của Sự Thịnh Vượng. Trong bài phát biểu này, ông kêu gọi những nhà giàu của Hoa Kỳ hãy làm từ thiện. Từ thiện là gốc rễ của sự thịnh vượng cho cả nhân cách của mỗi người dân Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, mà còn là nguyên lý cho một Hoa Kỳ sẽ là cường quốc số 1 thế giới trong tương lai. 90% tài sản của ông đã hiến cho các tổ chức từ thiện, công trình quốc gia và trường đại học nổi tiếng của ông gầy dựng năm 1900 từ một trường kỹ thuật phục vụ cho công nghệ thép của ông, Carnegie Technical School, mà sau đó, 1912 trở thành Carnegie Mellon University danh tiếng toàn cầu, luôn nằm trong top 30 của các đại học Hoa Kỳ.

Andrew Carnegie được mệnh danh là: Người cứu rổi tinh thần cho nước Mỹ - "Save my Soul".

4. John Pierpont "J. P." Morgan: Ông là hiện thân người di dân Do Thái có thiên bẩm về tài
John Pierpont "J. P." Morgan (Apr 17, 1837 – Mar 31, 1913)
chính ngân hàng. Ông là thế hệ đầu tiên - được xem là cha đẻ - của nước Mỹ về ngành tài chính ngân hàng. Tập đoàn J.P Morgan của ông ngày nay vẫn còn hùng mạnh, và là một trong những tập đoàn tài chính tư nhân hàng đầu thế giới. Sinh ra và lớn lên ở Connecticut, Hoa Kỳ. Ông được cha mình chuẩn bị cho việc học tập ở nhiều quốc gia: Hoa Kỳ, Ý, Đức và Anh, để trở thành một ông chủ tài chính ngân hàng. Và ông đã làm được điều đó xuất sắc, khi nhận lại Công ty JS Morgan & Co của cha mình qua đời để lại vào năm 1900.

Từ GS Morgan & Co, ông đã biến nó trở thành Tập đoàn J.P Morgan lừng lẫy toàn cầu ngày nay. Ông được xem là một thế hệ kế thừa cho những thế hệ tài phiệt già nua như Andrew Carnegie đã lỗi thời với câu nói nổi tiếng của người dân Mỹ: "When one ends another begins" - Khi một thế hệ kết thúc thì có thế hệ khác kế thừa - nước Mỹ là thế. Cuối đời, ông cũng nghe theo lời của Andrew Carnegie đi làm từ thiện. Và ông mất ở tuổi 75 tại Ý trong một giấc ngủ.


Henry Ford (Jul 30, 1863 – Apr 7, 1947)
5. Henry Ford: Ông là đứa con mang hai dòng máu Ireland của cha, và Anh quốc của mẹ. Ông được sinh ra tại trang trại ở Greenfield Township, Michigan. Ông được xem là nhà cách mạng về đưa mô hình sản xuất dây chuyền Taylor, và quảng cáo, mở chi nhánh hãng Ford đi khắp nơi, vào ngành công nghiệp xe hơi nói riêng và công nghệ sản xuất, quảng cáo nói chung. Mô hình T ôtô của ông cũng làm một cuộc cách mạng trong sản xuất xe hơi tiện dụng, khi ông đưa ra tay lái xe hơi phải nằm bên tay trái của xe. Với tư tưởng cải cách sản xuất của ông, có thể xem ông là cha đẻ của việc mang những ứng dụng khoa học kỹ thuật tân tiến đến người bình dân trên toàn cầu.

Có ông, với Học thuyết Ford - Fordism - thế giới đã xích lại gần nhau hơn trong khoảng cách giàu nghèo. Vì không chỉ có đưa xe hơi đến người tiêu dùng bình dân với giá rẻ, mà ông còn đưa ra ý tưởng: phải trả lương công nhân cao, và bán cổ đông cho người làm thuê, để họ ý thức được nhà máy, công xưởng chính là của mình. Nó đã góp phần thúc đẩy Hoa Kỳ vươn lên thành siêu cường số 1 thế giới, và con người sống với con người nhân bản hơn.

Sau đây là 4 tập phim:
Bốn tập phim kéo dài khoảng 6 giờ phiêu lưu với lịch sử phát triển nước Mỹ cùng 5 vĩ nhân của nước Mỹ trong các lĩnh vực công nghiệp đến giao thông vận tải, dầu khí, sắt thép và tài chính toàn cầu sẽ cho ta thấy nước Mỹ thật vĩ đại không chỉ là một Tân thế giới về nhân quyền mà còn là vùng đất của mọi ý tưởng và cơ hội.
-----
Rockefeller, Vanderbilt, Carnegie, Astor, Ford and Morgan. Their names are part of history and synonymous with the American dream. These men transformed every industry they touched: oil, rail, steel, shipping, automobiles, and finance. Their efforts transformed a country. Rising from poverty, their paths crossed repeatedly as they elected presidents, set economic policies and influenced major events of their day - from the Civil War to The Great Depression. 12 million historical negatives, many made available for the first time by the Library of Congress, are brought to life to offer an unprecedented view of America's Industrial Age – and the men who built it.

The Men Who Built America
(The Series contains 4 episodes)
Production: History Channel

Episode 1

Episode 2

Episode 3

Episode 4

Thursday, August 28, 2014

Hình ảnh siêu âm bé ra dấu hiệu ủng hộ trong bụng mẹ

Photograph by meancloth on reddit.

Thumbs up!
-----
Reddit user meancloth just posted this hilarious photo of his wife's most recent ultrasound showing their baby boy giving a thumbs up. If you look at the top left hand corner you'll notice it says 'BABY A' which means twins!

The photo, which was posted a mere 13 hours ago, reached the top spot on reddit's front page and the Imgur-hosted photo has already been viewed a staggering 1.8 million times since. Yes, reddit is massive.

Tổ chức khủng bố Islamic State đã tiến được bao xa kể từ khi tuyên bố thành lập Vương triều Hồi giáo?

Syrian rebel army patrol an area near Homs. Photo courtesy Freedom House.

Hai tháng vừa qua là khoảng thời gian rất bận rộn đối với tổ chức Nhà nước Hồi giáo (Islamic State*) – nhóm Hồi giáo cực đoan tàn bạo hệ phái Sunni hoạt động ở Syria và Iraq. Ngày 29 tháng Sáu, 2 tuần sau khi chiếm Mosul, thành phố lớn thứ hai của Iraq, nhóm này đã tuyên bố thành lập một Vương quốc Hồi giáo (caliphate) đại diện cho 1.6 tỉ tín đồ Hồi giáo trên thế giới. Chúng sau đó tiếp tục tiến quân về Baghdad – nơi có chính phủ do người Hồi giáo hệ phái Shia chiếm đa số. Tới đầu tháng Tám, Islamic State đã chuyển mục tiêu sang hướng Bắc – khu tự trị của người Kurd ở Iraq và quê hương của nhiều dân tộc thiểu số. Chúng tấn công người Cơ đốc giáo, Yazidi và cả những người cũng theo hệ phái Sunni và đang đe dọa Erbil, thủ phủ của người Kurd. Điều này buộc Tổng thống Mỹ Barack Obama phải cho phép (authorise) các cuộc không kích vào nhóm này từ ngày 8 tháng Tám. Trong khi đó, ở nước láng giềng Syria, Islamic State cũng đã bắt đầu mở rộng về hướng Tây.

Tổ chức Nhà nước Hồi giáo, trước đây mang tên Quốc gia Hồi giáo tại Iraq và Syria (Islamic State of Iraq and Greater Syria – ISIS/ISIL), đã phát triển từ những gì còn sót lại (remnant) của tổ chức Nhà nước Hồi giáo tại Iraq – một băng nhóm tàn bạo thường tổ chức các đợt tấn công vào liên quân (coalition) do Mỹ đứng đầu sau Chiến tranh Iraq năm 2003. Khi quân Mỹ rút khỏi Iraq năm 2011, nhóm này đã suy yếu do bị các nhóm vũ trang đánh thuê hệ phái Sahwa-Sunni tấn công, còn các lãnh đạo bị ám sát (assassinate). Tuy nhiên, các phiến quân còn lại vẫn tiếp tục tống tiền (extort) ở Mosul và thực hiện các cuộc tấn công ở Iraq. Khoảng trống (vacuum) do cuộc nội chiến Syria từ năm 2011 gây ra là lợi thế (boon) lớn giúp các thành viên sống sót tập hợp lại và tuyển mộ thêm. Tổ chức này ngày một mạnh hơn với trụ sở ở Raqqa, đông Syria và mạng lưới tống tiền (extortion racket) ở Mosul. Nhờ những người Sunni bất mãn (disgruntled) ở Iraq sẵn sàng liên minh với Islamic State sau khi chính phủ Baghdad loại bỏ và lực lượng an ninh mỏng manh (brittle) của Iraq thường tháo chạy ngay khi thấy đụng độ, quân số của Islamic State giờ đã lên tới hàng nghìn thành viên gồm cả rất nhiều người nước ngoài và hiện đã nắm giữ nhiều phần (swathe) lãnh thổ nước này.

Hiện giờ, Islamic State đã tiến được đến đâu? Tuy ý thức hệ (ideology) tàn khốc của Islamic State bị đa số người Hồi giáo từ chối và coi là tội ác, các tay súng vẫn đổ về (flock to) từ tháng Sáu – riêng Syria đã lên tới gần 6.000 theo một số ước tính. Islamic State đã chiếm (grab) được các mỏ dầu, căn cứ quân sự và kho vũ khí (weaponry) (gồm cả đồ của Mỹ ở Iraq). Tuy các cuộc không kích (airstrike) của Mỹ đã đẩy lùi chúng về phía bắc từ núi Sinjar đến đập Mosul – con đập lớn nhất Iraq, Tổng thống Barack Obama đã nói rõ ông không có kế hoạch truy quét (rout) tổ chức này. Để làm việc đó, người Sunni ở Iraq cần phải chống lại chúng. Ở Syria, Islamic State hoạt động gần như không gặp trở ngại nào. Tuy chế độ của ông Bashar Assad cuối cùng cũng đã thực hiện các cuộc tấn công vào nhóm này, quân nổi dậy Syria từng chiến đấu với Islamic State từ tháng Một nhận thấy họ không phải là đối thủ (no match for) của chúng. Ngày 24 tháng Tám, Islamic State chiếm căn cứ không quân Tabaqa từ quân chính phủ sau một tuần lần lượt chiếm một loạt các ngôi làng gần Aleppo vốn thuộc quyền kiểm soát của quân nổi dậy.

Các nhóm tự xưng thánh chiến (jihadist) thường kém cỏi trong việc điều hành khiến mất đi sự ủng hộ từ dân chúng và do dự (falter) trước các mục tiêu tham vọng như xây dựng thể chế, nhưng sự trỗi dậy của ý thức hệ Hồi giáo cực đoan và những khoảng trống trong thế giới Ả rập cho phép các nhóm này tồn tại đủ để ít nhất cũng gây ra nhiều thiệt hại như al-Qaeda ở Yemen trên bán đảo Ả rập và các nhóm xưng danh thánh chiến ở Mali. Các quan chức phương Tây mô tả Islamic State như một tổ chức lớn mạnh và tinh vi hơn cả, mà theo một số ước tính là mối đe dọa an ninh lớn nhất trong khu vực kể từ vụ 11 tháng Chín. Nội chiến Syria chưa biết bao giờ mới kết thúc (no end in sight); Iraq thì vẫn đang là một mớ hỗn độn. Vì vậy, ngay cả theo kịch bản tốt nhất (best-case scenario), nhiều khả năng Islamic State sẽ vẫn còn hoạt động trong nhiều thế hệ tới. Vấn đề này không chỉ là của riêng Syria, Iraq và các nước láng giềng. Sẽ ngày càng có nhiều nước phải đối mặt với nguy cơ khủng bố khi hàng nghìn tay súng ngoại quốc từ khắp thế giới sẽ trở về quê nhà như những kẻ nổi dậy cực đoan (radicalised rebel).

Đăng Duy
The Economist

Các cách kiểm soát biểu tình không dùng vũ lực



Heavy-handed police tactics to break up riots in Ferguson, Missouri caused outrage, but new technologies designed to disperse protesters safely are not without controversy.

rubber bullet: đạn cao su
sting ball grenade: lựu đạn cao su
water cannon: vòi rồng
tear gas: hơi cay
pepper spray (Mason OC- Oleoresin Capsicum): bình xịt hơi cay
sonic blaster (long range acoustic device)
active denial system (a microwave beam causing painful but supposedly harmless heating)
dialogue police

"Give the green light" nghĩa là gì?

Drivng from the Lincoln to 15th Street along Independence. Photo courtesy Kate Mereand-Sinha.

'Give the green light' (shared via VOA) có to give là cho, green là màu xanh lá cây, và light là ánh sáng hay ngọn đèn. Green light là đèn giao thông mà chúng ta nhìn thấy ở ngã tư đường. Vì thế, 'give the green light' là bật đèn xanh, tức là cho phép một người được quyền hành động hay thực thi một dự án. Thành ngữ này xuất xứ từ cuối thế kỷ thứ 19 để chỉ đèn hiệu mà nhà ga dùng để cho phép xe lửa chạy.

Ví dụ
The police officer said he thinks teen drinking is "a green light to bigger things.
Knowing they had military superiority over the South, the North Koreans thought they had been given a green light from Washington.
The local prefect has given the green light to the dam at Serre de la Fare.

It took four years before our town council (hội đồng) finally gave the green light for construction of a new library. Why the delay (trì hoãn)? What took them so long to approve (chấp thuận) such a worthwhile (đáng giá) project (dự án)?

The university has recently given Dr. Smith the green light to study how dogs understand human language. Now that he has received authorization (quyền làm việc), he will soon (trong một ngày gần đây) begin testing (thử nghiệm) his theories (lý thuyết).

She's waiting for her doctor to give her the green light to play in Saturday's game.
The House of Representatives gave a green light to oil exploration off the East Coast.

Blood and Oil - The Middle East in World War I



Examines the devastating conflict and Western political intrigue that laid the foundation for wars, coups, revolts and military interventions in the Middle East. After the end of World War I, most of the Ottoman Empire was carved up into "spheres of influence," controlled mostly by the British and French. The remaining territories became the modern state of Turkey in 1923 - after a five-year struggle by Turkish nationalists against Western domination. Written and produced by Marty Callaghan ("Archives of War," "Remember Pearl Harbor: America Taken by Surprise"), this feature-length documentary film follows conflict from the Ottoman Empire's entry into the Great War in October 1914 to the Allied victory and declaration of the new Turkish Republic in 1923, and the hostilities that have plagued the region since.

Blood and Oil - The Middle East in World War I
Directed by: Marty Callaghan

7 mẹo chụp ảnh đẹp bằng smartphone



Photographer Lorenz Holder demonstrates some creative smartphone photography tips and tricks using an iPhone 5S, although these ideas should work on whatever smartphone you use.

Wednesday, August 27, 2014

Vì sao Trung Quốc – Đài Loan chia rẽ?

DPP protesters give Ma Ying-jeou the finger. Photo courtesy chinakorea55.

Trong năm nay, các quan chức cấp cao của Đài Loan và Trung Quốc đã có 2 cuộc gặp trên lãnh thổ của nhau. Cả 2 đều là lần liên lạc chính thức đầu tiên giữa 2 chính phủ kể từ năm 1949. Trong vài tháng gần đây, giới chức Đài Loan đang đề xuất một bước đột phá thậm chí còn lớn hơn: cuộc gặp giữa Tổng thống Mã Anh Cửu (Ma Ying-jeou) và người đồng cấp phía Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình (Xi Jinping). Họ gợi ý cuộc gặp này sẽ diễn ra ở Bắc Kinh vào tháng Mười Một bên lề (in the margin) cuộc họp các nhà Lãnh đạo khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Phía Trung Quốc phản ứng khá lạnh lùng trước lời đề nghị này và vẫn chưa đưa ra lời mời với ông Mã. Nhưng ngay cả khi không có cuộc gặp nào vào tháng Mười Một, các rào cản (hurdle) cho một sự kiện như vậy có vẻ đang dần được gỡ bỏ. Vì sao quá trình này lại lâu như vậy?

Đài Loan đã từng là một phần của Trung Quốc. Cả hai chính phủ từ lâu vẫn chính thức công nhận điều này. Vấn đề là họ không đồng ý với nhau về định nghĩa ‘Trung Quốc’: là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa do đảng Cộng sản Trung Hoa lãnh đạo hay Trung Hoa Dân Quốc do Quốc Dân Đảng (Kuomintang) lãnh đạo. Quốc Dân Đảng cầm quyền ở Trung Quốc trong hơn 2 thập kỉ cho tới năm 1949 khi bị đảng Cộng sản của Mao Trạch Đông lật đổ và phải rút chạy tới Đài Loan. Từ đó, hòn đảo này đã mang tên Trung Hoa Dân Quốc dù chính phủ ở đây chỉ cai quản đảo Đài Loan và một vài đảo nhỏ hơn. Ở Đài Loan, cụm từ ‘một tỉnh của Trung Quốc’ còn rắc rối hơn nữa. Từ năm 1895 đến năm 1945, Đài Loan dưới sự cai trị của Nhật Bản sau khi nước này thắng trong cuộc chiến với triều đình Trung Quốc. Sự cai trị của Quốc Dân Đảng trên hòn đảo này từng rất tàn bạo (brutal), đặc biệt trong những năm đầu sau 1945. Đài Loan giờ đã có một nền dân chủ nhưng lòng căm thù đối với Quốc Dân Đảng vẫn ăn sâu trong rất nhiều người từng sống ở đây trước khi Quốc Dân Đảng tới tị nạn (take refuge) và con cháu của họ. Sự tương đồng giữa họ và Trung Hoa đại lục là không đáng kể và một số còn muốn Đài Loan từ bỏ (abandon) bất cứ mối liên hệ (pretence of a link) nào với Trung Quốc để tuyên bố độc lập.

Nhưng lý do lớn hơn khiến người đứng đầu hai nước vẫn chưa gặp nhau có lẽ do cuộc nội chiến Quốc-Cộng Trung Hoa vẫn chưa chính thức kết thúc. Chính phủ Bắc Kinh không công nhận chính phủ Đài Bắc và vì vậy không chấp nhận Tổng thống của chính phủ này. Tuy hai bên đã chấm dứt nã pháo (lob shells) vào nhau từ những năm 1970 và bắt đầu đối thoại vào đầu thập niên 1990 nhưng tiến triển vẫn rất chậm chạp. Các cuộc thảo luận chỉ diễn ra thông qua các cơ quan trung gian và nhanh chóng bị quá trình dân chủ hóa (democratisation) của Đài Loan can thiệp. Tổng thống Đài Loan và Chủ tịch Quốc Dân Đảng khi đó là ông Lý Đăng Huy (Lee Teng-hui) đã tổ chức cuộc bầu cử Tổng thống trực tiếp đầu tiên năm 1996. Để thuyết phục (in an appeal to) người Đài Loan gốc, ông đã chỉ đạo Chính phủ không nói về ‘một Trung Quốc duy nhất’ nữa mà thay vào đó là 2 chính thể. Điều này vừa là sự thừa nhận, lại vừa chọc giận (infuriate) chính phủ Bắc Kinh. Đảng Cộng sản Trung Hoa lo sợ Đài Loan sẽ tiến tới chính thức tuyên bố độc lập và căng thẳng sẽ bùng nổ (flare). Trung Quốc đã bắn tên lửa không đầu đạn (unarmed missiles) vào eo biển Đài Loan (Taiwan Strait); Mỹ cho tàu sân bay (aircraft carriers) ra cảnh cáo (warn off). Chiến thắng của ông Lý trong cuộc bầu cử tổng thống và của Đảng Dân chủ Tiến bộ (Democratic Progressive Party) vốn ủng hộ Đài Loan độc lập trong hai cuộc bầu cử sau đó càng cản trở (stymie) quá trình đối thoại giữa 2 bên. Chỉ đến khi Quốc Dân Đảng quay lại nắm quyền năm 2008 dưới sự lãnh đạo của ông Mã, một chính trị gia theo đường lối mềm dẻo hơn (less confrontational), thì Đảng Cộng sản mới bắt đầu cho phép các cuộc đối thoại tiếp tục một cách nghiêm túc (in earnest), ban đầu thông qua các đại diện trung gian và đến năm nay thì lần đầu tiên đã có các cuộc gặp trực tiếp giữa 2 chính phủ.

Các cuộc gặp giữa những người đứng đầu các cơ quan chính phủ Đài Loan và Trung Quốc hồi tháng Hai và tháng Sáu cho thấy sự nhượng bộ (concession) từ phía Trung Quốc. Họ đã ít nhiều thừa nhận (confer) tính hợp pháp (legitimacy) của chính phủ Đài Bắc. Nhưng vẫn còn nhiều rào cản nữa cần vượt qua trước khi lãnh đạo 2 nước gặp mặt. Một trở ngại là tìm thời điểm phù hợp. Ông Mã đã đề nghị Hội nghị thượng đỉnh của khối Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) vì các nguyên thủ quốc gia sẽ tham gia với tư cách ‘lãnh đạo kinh tế’ chứ không phải người đứng đầu một nước. Điều này cho phép 2 bên né tránh (sidestep) câu hỏi liệu ông Mã có thể được coi là một nguyên thủ quốc gia và nếu có thì quốc gia đó bao gồm những gì. Nhưng Trung Quốc không muốn một cuộc gặp như vậy diễn ra tại một hội nghị quốc tế bởi điều đó đồng nghĩa với việc để các nước khác nhìn (peer in) vào vấn đề mà nước này coi là chuyện nội bộ thuần túy. Nhưng nếu ông Mã thăm Bắc Kinh mà không có cái cớ tham gia một hội nghị như APEC thì vấn đề chức danh của ông này sẽ càng đáng chú ý (prominent). Trung Quốc có lẽ sẽ từ chối đón tiếp ông như một Tổng thống còn công chúng Đài Loan có lẽ ngần ngại (balk at) trước nghi thức thấp hơn dành cho một nguyên thủ. Con đường, vì thế, còn rất dài.

Đăng Duy
The Economist