Journey in Life: 02/04/14

Tuesday, February 4, 2014

Mã Đáo Thành Công

copy from Viet Thuc.

Lý giải câu chúc "Mã đáo thành công"
"Mã đáo thành công" dịch nôm có nghĩa là "ngựa về ắt sẽ thành công" hay "có ngựa ắt sẽ thành công". Ý nghĩa của câu chúc trên gắn liền với những lý giải như sau:

Xưa kia, ngựa là phương tiện đi lại thuận lợi nhất vì ngựa chạy nhanh, sức bền, thông minh, trung thành. Cuộc sống con người khi xưa rất gần gũi với loài ngựa. Ngựa cùng con người đồng cam cộng khổ trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động, đi lại buôn bán và cả khi ra trận.

Mỗi lần đi làm ăn xa, ngựa cùng con người có khi đi cả năm cả tháng. Khi ra chiến trận, thường "đi mười về một". Vì vậy, "mã đáo" [có ngựa quay về] chính là một hình ảnh ẩn dụ cho sự thành công bởi còn người là còn tất cả.

Ngoài ra còn có một cách lý giải khác: Thời xưa, người Trung Hoa ở phương Bắc sinh sống trên các bình nguyên, đồng cỏ thường gia tăng số lượng gia súc trong đàn bằng cách thuần dưỡng ngựa hoang.

Đến mùa xuân, người ta thường thả ngựa nuôi trong nhà vào các cánh rừng để những con ngựa này dụ ngựa hoang trở về trang trại khi mùa đông khắc nghiệt kéo đến.

Một khi thả ngựa nuôi trong nhà ra thì có hai khả năng xảy đến: hoặc là ngựa của mình vĩnh viễn đi mất (có thể do bị thú dữ ăn thịt, có thể bị người ta bắt mất cũng có thể do nhập đàn với ngựa hoang và bỏ đi luôn…) hoặc là ngựa sẽ quay trở về và còn dẫn theo những con ngựa hoang khác.

Vì vậy, hình ảnh ngựa quay về được coi là tượng trưng cho thắng lợi. Ít nhất, nếu ngựa về một mình, vậy là người chủ đã không mất nó, lúc này là "hòa vốn". Nếu ngựa nhà còn dắt thêm ngựa hoang về cùng là đã bắt đầu "có lãi".

Câu chúc "Mã đáo thành công" phù hợp với cả người làm kinh doanh, lẫn người chinh phục con đường quan lộ. Câu chúc này thường được dùng vào dịp năm mới, trong năm ngựa, lời chúc "mã đáo thành công" càng trở nên phù hợp và ý nghĩa.

Lý giải tranh phong thủy "Mã đáo thành công"
Các bức tranh về ngựa vốn được xếp vào hàng những món đồ phong thủy. Nhiều người thường chọn hình tượng ngựa để trang trí trong nhà hay tại nơi làm việc bởi theo quan niệm truyền thống, ngựa là con vật trung thành, kiên nhẫn, bền bỉ, nhanh nhẹn và thường mang lại may mắn, tài lộc.

Một trong những món đồ phong thủy thường thấy về loài ngựa là bức tranh ngựa phi nước đại tượng trưng cho sự phát đạt về tiền tài hay thăng tiến về danh vọng. Ngựa phi nước đại còn hàm ý về sự đi xa, rất thích hợp với những người hay đi công tác, thường xuyên bôn ba đây đó.

Ngựa phi nước đại tượng trưng cho sự phát đạt về tiền tài, thăng tiến về danh vọng
Nổi tiếng trong dòng tranh ngựa là bức "Mã đáo thành công" thường có tám con ngựa bởi tám – "bát" (八) – khá gần âm với từ "phát", tức là phát đạt. Tranh phong thủy "Mã đáo thành công" được sử dụng rộng rãi trong đời sống bởi nó phù hợp với nhiều đối tượng, từ người làm ăn buôn bán, theo đuổi tiền tài cho tới người đang trên đường quan lộ, tìm kiếm danh vọng.

Ở tranh "Mã đáo thành công", ngựa biểu trưng cho tốc độ. Thời cổ, khi chưa có động cơ tân tiến thì ngựa là loài vật chuyên chở có tốc độ cao hàng đầu. Câu nói "Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy" (Một lời nói ra, xe bốn ngựa cũng không đuổi kịp) đã cho thấy tốc độ ưu việt của ngựa hoặc xe ngựa chỉ thua tốc độ lan truyền của lời nói.

Tranh vẽ tám ngựa còn được cho là bắt nguồn từ điển tích "Bát tuấn đồ" kể về tám con ngựa của Mục Vương bên Trung Quốc, là vị vua thứ năm của nhà Chu.

"Bát tuấn" (tám con ngựa) có tên Xích Ký, Đạo Ly, Bạch Mã, Du Luân, Sơn Tử, Cừ Hoàng, Hoa Lư và Duyên Nhĩ. Tương truyền, cỗ xe tám ngựa của Mục Vương đã chở nhà vua rong ruổi khắp đất nước để xem xét dân tình thế thái.

Chu Mục Vương được hậu thế tôn vinh là minh quân bởi ông đã có công giúp cho nhà Chu hưng thịnh trở lại. Hình ảnh tám ngựa có lẽ trở nên nổi tiếng cũng một phần nhờ điển tích lịch sử ấy.

Dòng tranh về ngựa thường có hai loại:
Ngựa phi bên biển: Ngựa tượng trưng cho hành hỏa trong ngũ hành, biển là nước nước tượng trưng cho hành thủy. Hỏa – thủy tương khắc. Ý nghĩa của bức tranh này là mong có một ý chí vươn lên phi thường.
Ngựa phi trên đồng cỏ: Đây là bức tranh hợp với phong thủy. Ngựa mệnh hỏa, đồng cỏ gồm cả hai yếu tố mộc (cây cỏ) và thổ (đất đai). Bức tranh ngựa phi trên đồng cỏ là một vòng tròn tương sinh Mộc – Hỏa – Thổ. Treo bức tranh này, gia chủ sẽ gặp nhiều điều may mắn, thuận lợi.

Tâm An phì phì



Cả nhà càng cười, em càng vui và tiếp mãi thôi... ;)

Bài trước: Bingo was his name

Chùa Bảo Tháp - nơi có 3 người tu thành Phật

Bảo Tháp tự là một ngôi chùa cổ tên thường gọi là chùa Bồ Tát, thuộc địa phận thôn Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ngôi chùa được xây dựng từ cuối đời nhà Lý do vị hoàng thân nhà Lý là Lý Thầm (con vua Lý Cao Tông, chú của Lý Chiêu Hoàng) đến lập am và tu.




 







Chùa Bảo Tháp là một quần thể kiến trúc khá rộng lớn, trải dài bên khu đất thoáng mát bên bờ sông Nhuệ.


Tam quan chùa là một tòa nhà ba gian, liền phía trước hai tường hồi là hai cột trụ trên đỉnh được trang trí hình con nghê. Qua tam quan vào sân chùa, trong có hai bảo tháp lớn hình bát giác ba tầng.
Qua sân đến nhà tiền đường, đầu hồi là hai cột trụ lớn trên đỉnh trụ đắp hình bốn chim phượng. Bờ nóc nhà tiền đường được trang trí lưỡng long chầu nguyệt, các góc mái trang trí hình con ly. Trên khung nhà tiền đường được trang trí cảnh Đường Tăng đi thỉnh kinh cùng ba đồ đệ. Sát tường hậu và tiền đường có xây bệ thờ đức Thánh Hiền và đức Chúa Ông.

Ở hai bên tiền đường đặt tượng thờ các vị Thập điện Diêm vương, La Hán, Hành Giả, Quan Âm Nam Hải và Quan Âm tọa sơn. Nằm hai bên đầu thượng điện một sân hẹp là nhà phương đình tám mái với bộ khung chạm khắc hình rồng mây, ly, quy, phượng là nơi thờ vị sư tổ Hồ Bà Lam.

Khánh đồng đúc thời Thiệu Trị (1843)





Đến năm 1328 thời nhà Trần, có vị cao tăng Hồ Bà Lam đến tu. Ông là hoàng thân nhà Hồ, khi tu ở chùa ngoài việc tụng kinh niệm Phật còn đi thu nhận những trẻ mồ côi, cô nhi, quả phụ về chùa nuôi dưỡng. Nhân dân đương thời ca ngợi, tôn Ngài là Bồ Tát sống.

Người thứ ba đến tu tại chùa chính là bà Minh Từ Hoàng Thái hậu Hồ Thuận Nương (Lê thị ?) (cô ruột của Hồ Quý Ly). Bà người huyện Diễn Châu, Nghệ An, lấy vua Trần Minh Tông, sinh ra hai con đều làm vua (Trần Hiến Tông, Trần Nghệ Tông). Bà về đây để tránh nạn giặc Chiêm, từ khi trông coi chùa Bảo Tháp, trong hơn ba năm, bà tu sửa chùa, lại xây thêm chùa Phúc Khê.

Tại nơi đây còn giữ được nguyên bản 32 đạo sắc (chủ yếu của miếu Minh từ) ngọc phả, bia đá năm Quang Thái thứ 3 thời Trần Thuận Tông, bia “Mộc Bản” khắc năm Bảo Thái thứ hai, chuông đồng đúc thời Gia Long, khánh đồng đúc thời Thiệu Trị...



  








Em rất thích khóa :D

Cây tre rất to



Bài trước: Cột cờ Hà Nội - Biểu tượng hùng thiêng của Thủ đô

Chùa Phúc Lâm - một di tích thời Hậu Lê

Chùa Phúc Lâm còn có tên là chùa Nhân Hòa, nằm ở thôn Nhân Hòa, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Chùa nằm riêng biệt trên diện tích 1,5ha, xung quanh là đồng ruộng và những cây cổ thụ soi bóng xuống dòng sông Nhuệ.





Chùa được xây dựng từ thời Hậu Lê. Theo dòng lịch sử, chùa ngày càng được mở rộng và bổ sung thêm những hiện vật như: bia Tân tạo nghĩa điềm kim bì (năm Thịnh Đức thứ tư - 1654), bia Hậu Phật bi ký (năm Chính Hòa thứ ba -1682), bia Phúc Lâm tự (năm Vĩnh Thịnh thứ hai - 1705)...



Trải qua nhiều lần tu sửa, đến năm 1928, chùa được hoàn chỉnh với quy mô kiến trúc như hiện nay. Tam quan chùa được xây dựng từ cuối thế kỉ 19 với hai tầng rất đồ sộ. Chùa có ba gian: chùa chính, nhà Tổ và nhà mẫu. Nhà Tổ kiến trúc theo kiểu chồng giường, bảy gian giữa cột cái và cột con ở phía trong đặt các bia đá và bệ thờ. Từ sân bước vào là một hiên nhỏ được bó vỉa bằng đá xanh là tòa Phật điện lớn có bảy gian với sáu cột lim cao 3,5 mét được kê trên chân đá tảng. Trên mỗi cột đều treo các câu đối sơn son thiếp vàng. Đối diện với hàng cột lim ở tiền tế là bảy vòm cuốn.



Trong chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật rất phong phú với nhiều kiểu dáng, chất liệu và niên đại khác nhau. Trong đó đáng kể là 38 đạo sắc phong, 15 mặt bia đá (bia sớm nhất là năm 1682), ba bệ chạm hoa văn mây xoắn từ thế kỷ 18, một chuông đồng cao 37cm từ thời Tự Đức, một chuông từ thời Minh Mạng (1838) cao 1m, đường kính miệng 0,5m, 28 câu đối... 

Chùa Phúc Lâm còn lưu giữ 41 pho tượng Phật và một tòa Cửu Long, có nhiều tượng lớn, đẹp và có niên đại từ thời Lê. Cao và to nhất là bộ tượng Tam Thế cao 1,2m. Tiếp đến là tượng A Di Đà rất lớn ngồi trên đài sen, rồi tới bốn vị Bồ Tát đứng trên đài sen. Dưới nữa là pho tượng Quan Âm nghìn tay, nghìn mắt. Ngoài ra còn có các pho tượng Ngọc Hoàng, Phạm Thiên, Đế Thích, Nam Tào, Bắc Đẩu... với những đường nét tinh xảo, sống động văn hóa Việt.
Lúc vào đường xá quanh co
Lúc ra lại có công nông dẫn đường :D
Chùa Bảo Tháp - nơi có 3 người tu thành Phật
Thành cổ Sơn Tây - kiến trúc quân sự bậc nhất Việt Nam

Dạo bước dưới ánh nắng chan hòa


người mẫu nhí Tâm An :)

"Leave a bad taste in one’s mouth" nghĩa là gì?

Có người trông em nào bằng papa của em chứ :) Photo courtesy Jeff M for Short.

'Leave a bad taste in one’s mouth' có một động từ mới là to leave nghĩa là để lại. Vì thế leave a bad taste in one's mouth có nghĩa là để lại một cảm giác tức giận hay bất mãn.

Ví dụ
It was kind (tử tế) of my neighbor to offer to babysit (trông trẻ con). But hearing her scream (la hét) at her nephew the other night has left a bad taste in my mouth (tôi cảm thấy khó chịu). That made such a poor impression (cảm tưởng xấu) on me that I can’t forget about it. I think I’ll find someone else to look after my kids.

Chuck’s sense of humor (tính hài hước) got him in trouble (lôi thôi) again. This time he told a joke about the Pope in front of our new boss, who is a devout (sùng đạo) Catholic. The incident managed to leave a bad taste in her mouth. She’s been very upset (tức giận) ever since.

Huyền Trang
VOA