Journey in Life: 04/18/14

Search This Blog

Friday, April 18, 2014

Kiểm soát dịch ebola như nào?

Ebola in Guinea. Photo courtesy EC.

Dịch sốt xuất huyết ebola đã quay trở lại. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tính tới ngày 14 tháng Tư đã có 168 người ở Guinea (phía Tây châu Phi) mắc bệnh. Ít nhất 108 người đã tử vong. Ở nước láng giềng Liberia, đã có 6 ca bệnh được ghi nhận, nhiều ca trong diện nghi vấn, và gần 400 người đang được theo dõi. Ở các sân bay, hành khách phải kiểm tra nhiệt độ trong khi biên giới Senegal – Guinea đã bị đóng cửa. Với tỉ lệ tử vong lên tới 90%, ebola thực sự là nỗi kinh hoàng. Việc ngăn chặn sự bùng phát của dịch bệnh này liệu có khả thi?

Cơ thể người không có bất cứ sự đề kháng nào với dịch bệnh vốn có nguồn gốc từ loài dơi này. Virus được truyền qua các chất dịch cơ thể (bodily fluids), phổ biến nhất là máu. Khi đã ở trong vật chủ (inside a host), chúng ủ bệnh (incubate) trong khoảng từ 2 ngày đến 3 tuần trước khi gây ra những triệu chứng (symptom) tương tự bệnh cảm cúm. Gần như không gặp phải sự kháng cự nào, ebola sẽ tấn công toàn bộ cơ thể cùng lúc, khiến toàn bộ hệ miễn dịch (immune) phản ứng dữ dội dẫn đến xuất huyết (haemorrhage), suy nội tạng (organ failure) và tử vong. Virus này được phát hiện vào năm 1976 khi hai đợt bùng phát cướp đi sinh mạng của 431 trên tổng số 602 người mắc bệnh ở Sudan và Zaire (nay là Cộng hòa Dân chủ Congo). Đợt dịch tồi tệ nhất là vào năm 2000 với 400 ca nhiễm bệnh, một nửa trong số đó không qua khỏi. Nhưng từ trước tới nay, virus ebola chưa bao giờ xuất hiện ở tận miền tây xa xôi này như Guinea hay Liberia. Lúc đầu các nhân viên y tế ở Guinea còn không nhận ra dịch này.

Bất chấp sự đột ngột và nguy hiểm chết người của nó, dịch ebola vẫn có thể khống chế được vì 3 lý do sau. Đầu tiên là cách thức truyền nhiễm: virus không thể lan truyền trong không khí. Nó chỉ có thể lây lan thông qua tiếp xúc trực tiếp với người bệnh. ‘Không phải cứ một người bệnh lên xe bus là nửa xe sẽ bị lây nhiễm,’ tiễn sỹ Matthias Borchert, trường Vệ sinh và Y học nhiệt đới London (London School of Hygiene and Tropical) giải thích. Những triệu chứng ban đầu của ebola giống như các bệnh thông thường nên những trường hợp báo mắc bệnh (infection) tăng nhanh chóng. Sau đợt bùng phát gần đây số ca bị nghi mắc đã giảm ở Ghana, Sierra Leone và Mali, sau đó nhiều người cũng đã có kết quả xét nghiệm âm tính với virus (một số ít kết quả từ Mali vẫn chưa được trả ra). Lý do thứ hai là sự chuẩn bị. WHO, Tổ chức Bác sĩ không biên giới (Médécins Sans Frontiers) và Bộ Y tế các nước đã tập trung nguồn lực rất lớn để xây dựng các khu cách ly người nghi mắc bệnh và theo dõi những người có tiếp xúc với họ. Theo bà Barbara Knust, Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Dịch bệnh Atlanta: ‘Ngay cả những cách phòng ngừa cơ bản cũng giúp làm giảm nguy cơ truyền bệnh’. Cuối cùng, ebola là bệnh có thể chữa khỏi được. Tuy chưa có biệt dược, bệnh nhân vẫn có thể qua khỏi nếu được điều trị tích cực (intensive care).

Với bất cứ bệnh dịch nào những tin đồn, thuyết âm mưu và cách chữa mẹo cũng lan truyền nhanh chóng (lần này là hành sống trộn chung với Nescafe). Do đó, thông tin đáng tin cậy là cực kì quan trọng. Ngăn cấm đi lại và đóng cửa biên giới chỉ có tác dụng che giấu dịch, cả 2 biện pháp này đều bị WHO phản đối. Theo các bác sĩ, một khía cạnh mới trong đợt dịch này ở Guinea là bệnh nhân sử dụng điện thoại di động, điều này giúp việc cách ly dễ chịu hơn với bệnh nhân và gia đình, đồng thời thúc đẩy cộng đồng hợp tác với nhân viên y tế thay vì chống lại họ. Với những biện pháp mạnh mẽ liên tục như vậy, đợt dịch này có thể được ngăn chặn trước khi bùng phát thành một đại dịch.

Đăng Duy
The Economist

Vì sao Nga cấm rượu Moldova?

Cricova wine cellar. Photo courtesy Hans Põldoja.

Loại rượu này là một trong những mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Moldova và được người Nga rất ưa chuộng. Nhưng kể từ tháng Chín vừa qua, Nga đã cấm nhập khẩu rượu Moldova và các loại rượu mạnh khác. Đây là ‘cú đấm’ nặng nề giáng vào nền kinh tế nghèo nhất châu Âu, chủ yếu dựa trên nông nghiệp và ngành công nghiệp đồ uống. Đây cũng là tin không vui đối với người tiêu dùng Nga, khi họ vốn đã quen thuộc với rượu Moldova từ thời nước này còn trong chế độ Cộng sản, khi Moldova là nơi đặt các hầm chứa rượu của Liên bang Xô viết. Vậy vì sao Nga lại cấm rượu Moldova?

Cơ quan bảo vệ người tiêu dùng Nga cho hay rượu Moldova - chiếm 10% lượng rượu được tiêu thụ ở Nga – có hại vì nó bị phát hiện có chứa nhựa. Bộ trưởng Nông nghiệp Moldova phản bác rằng lượng nhựa tiêu chuẩn của Nga trong nước uống còn cao hơn trong rượu Moldova và tiêu chuẩn của Liên minh châu Âu thậm chí còn cao hơn nữa. Song Nga vẫn không thay đổi quyết định (unmoved). Đây là lần thứ hai nước này trấn áp các vườn nho ở Moldova. Lần ban hành lệnh cấm năm 2006-2007, Nga nhập khẩu 60% lượng rượu Moldova. Kể từ đó, các nhà sản xuất rượu Moldova đã tìm đến những thị trường mới: khi lệnh cấm vận mới này được thực thi thì chỉ còn 29% lượng rượu Moldova xuất khẩu được nhập khẩu vào Nga. Tuy nhiên, chính phủ cho hay lệnh cấm này đã khiến Moldova mất 6,6 triệu đôla. Bà Ludmila Boiescu, chủ nhà máy rượu Chateau Vartely cho biết: thiệt hại nhất là các công ty đã xuất khẩu rượu nhưng chưa được thanh toán. Thông thường, 25% sản lượng của công ty này được xuất khẩu sang Nga, nhưng giờ đây họ đang tìm những nơi khác, chẳng hạn như Ba Lan, Kazakhstan hay Trung Hoa.

Nhiều người cho rằng lý do bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng nêu trên chỉ là cái cớ (spurious). Chắc chắn, nguyên nhân chính đằng sau là Hội nghị Thượng đỉnh tại Vilnius ở Lithuania dự kiến được tổ chức ngày 28-29/11/2013 mà Moldova dự định tham gia và ký các thỏa thuận với Liên minh châu Âu về cải cách chính trị và tự do thương mại. Các Hiệp ước này sẽ dần đưa Moldova hội nhập vào Liên minh và cùng với đó đảm bảo các loại rượu và nhiều sản phẩm xuất khẩu khác của Moldova sẽ trở nên cạnh tranh hơn trên thị trường các nước Châu Âu. Vấn đề nằm ở chỗ Nga không muốn Moldova ký những thỏa thuận trên mà thay vào đó muốn nước này cùng Belarus, Kazakhstan tham gia Liên minh Hải quan và cuối cùng là Cộng đồng Kinh tế Á- Âu do Moscow đứng đầu. Trong thời gian gần tới Hội nghị Thượng đỉnh Vilnius, Nga đã và đang lên tiếng đe dọa cắt nguồn khí đốt cho Moldova, đồng thời siết chặt việc kiểm tra lý lịch tư pháp của người Moldova làm việc tại Nga.

Các quan chức Nga không hề giấu diếm việc ban hành lệnh cấm nhập khẩu rượu Moldova như là biện pháp gây áp lực (arm-twisting) buộc Moldova không ký các thỏa thuận trên với Liên minh châu Âu. Cấm vận hàng hóa là một hình thức gây áp lực chính trị từ lâu ở Nga. Gần đây, rượu Georgia, các sản phẩm từ sữa của Lithuania và các loại hạt của Tajik đã bị (fall foul of) nhiều lệnh cấm (injunction) bất ngờ. Tháng Tám vừa qua, Nga cấm nhập khẩu sôcôla Roshen của Ukraine. Lệnh trừng phạt và đe dọa Ukraine nhiều đến mức Chính phủ nước này ngày 21/11/2013 phải tuyên bố sẽ không ký bất kì hiệp ước nào với Liên minh châu Âu tại Hội nghị Thượng đỉnh Vilnius. Quyết định quay ngoắt 180 độ (U-turn) nhằm ‘đảm bảo quốc phòng của Ukraine’, theo lời các quan chức nước này. Tiền lệ này khiến nhiều người lo ngại rằng Moldova có thể có phản ứng tương tự (follow suit). Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, bất chấp lệnh cấm nhập khẩu rượu và sức ép khác, nhiều khả năng Moldova và Liên minh châu Âu sẽ vẫn nâng chén rượu mừng (clinking glasses) tại Vilnius.

Phương Thùy
The Economist


Vì sao các cuộc bầu cử không tốt cho bạn?

"Mr. Lincoln, We Have a New President...". Photo courtesy Tony Fischer.

Nền dân chủ đang bị soi dưới kính hiển vi (under the microscope) khi nó thất bại trong việc đem lại các cải cách dài hơi ở những lĩnh vực như hưu trí và trợ cấp, nơi xảy ra xung đột lợi ích giữa cử tri hiện tại và cử tri tương lai. Nếu các quyết định được đưa ra hòng lấy lòng cử tri thì thật dễ hiểu khi điều này biểu hiện rõ nhất trong năm cuộc bầu cử diễn ra. Thực tế nhiều nghiên cứu cho thấy các tiến trình chính trị, kinh tế và tư pháp đều bị ảnh hưởng bởi bầu cử. Vậy các cuộc bầu cử đã ảnh hưởng tới việc hoạch định chính sách ra sao?

Ở Mỹ, quyền ban bố tình trạng khẩn cấp cho phép các Thống đốc bang đơn phương quyết định việc giải ngân quỹ hỗ trợ đặc biệt của liên bang để đương đầu với thảm họa thiên nhiên. Nghiên cứu năm 2011 của Andrew Reeves ở trường đại học Boston về gần 1000 tuyên bố dạng này trong giai đoạn 1981-2004 cho thấy chúng xuất hiện nhiều gấp đôi ở những bang có sự cạnh tranh sít sao các cuộc bầu cử. Điều này có thể giúp gia tăng tới 1% số phiếu cho thống đốc hoặc người được họ đề cử.

Các quyết định kinh tế khó khăn rõ ràng là không mấy được ưa thích so với các gói hỗ trợ tài chính trong năm bầu cử. Một bản phân tích năm 2013 về các nước Mỹ Latinh tiết lộ trong các năm bầu cử, dự trữ ngoại tệ giảm mạnh so với thông thường bởi chính quyền muốn ổn định tỉ giá hối đoái trước khi cử tri đi bầu, để rồi sau đó đồng tiền lại mất giá. Tuy nhiên, ở các nước OECD không có hiện tượng này và dự trữ ngoại tệ của họ cũng không biến động theo chu kì bầu cử. Các nhà nghiên cứu cho rằng Ngân hàng Trung ương ở các nước phát triển có quyền tự chủ lớn hơn và có khả năng chống lại ý chí thao túng tiền tệ của nhà cầm quyền. Đây là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy nền dân chủ hoạt động tốt hơn khi có những cơ chế kiểm soát hành vi của các chính trị gia.

Tuy nhiên, hệ thống kiểm soát và cân bằng cũng không thể giải quyết mọi vấn đề. Chu kì bầu cử có thể ảnh hưởng tới cả thể chế độc lập nhất – ngành tư pháp. Một nghiên cứu năm 2013 với 293.868 vụ án trong giai đoạn 1950 – 2007 xử bởi các tòa phúc thẩm Mỹ (bồi thẩm đoàn do Tổng thống bổ nhiệm) cho thấy hành vi của quan tòa thay đổi đáng kể khi ngày bầu cử đến gần: số trường hợp thiên vị khi bỏ phiếu thuận hay chống đều tăng gấp đôi trong những quý sát cuộc bầu cử Tổng thống. Các nhà nghiên cứu loại trừ khả năng thay đổi trong các vụ án là nguyên nhân, mà do các quan tòa bị thúc ép bởi bối cảnh xung quanh nên có những quyết định mang tính đảng phái hơn. Thay đổi hành vi tập trung ở các bang có vai trò quyết định tới cuộc bầu cử và những nơi diễn ra chiến dịch vận động mạnh mẽ nhất. Các thay đổi này cũng nhiều hơn hẳn trong các cuộc đua sít sao mà không tồn tại ở những chiến thắng với số phiếu lớn vượt trội (landslide victory). Kết luận hiển nhiên ở đây là nền dân chủ sẽ tốt hơn nếu không có các cuộc bầu cử.

Đăng Duy
The Economist


Cái tên ‘nền cộng hòa chuối’ xuất phát từ đâu?

Is the US a Banana Republic? Photo courtesy Mario Piperni.

Bạo lực, đói nghèo và bất ổn chính trị (politically wobbly), Honduras có đầy đủ các yếu tố làm nên định nghĩa ‘nền cộng hòa chuối’. Chủ nhật tới (24/11/2013), đất nước này sẽ diễn ra cuộc bầu cử tổng thống được dự đoán sẽ rất sít sao, bốn năm sau cuộc đảo chính khiến Tổng thống thời điểm đó phải tháo chạy khỏi dinh thự sang Costa Rica trên một chiếc máy bay quân đội mà vẫn mặc nguyên bộ pyjama. Tỉ lệ các vụ giết người ở đây cao nhất thế giới còn kinh tế thì trì trệ. Những vấn đề của đất nước đầy bất ổn này không mới: cách đây hơn một thế kỉ họ đã có “vinh dự” là khởi nguồn cho khái niệm ‘nền cộng hòa chuối’. Nhưng cái tên này đến từ đâu và chính xác thì ý nghĩa của nó là gì?

Danh từ ‘nền cộng hòa chuối’ xuất hiện lần đầu trong cuốn truyện giả tưởng năm 1904 của O. Henry. Vào thời điểm đó Henry (tên thật là William Sydney Porter) đang chạy trốn nhà cầm quyền bang Texas, những người đã buộc ông tội biển thủ. Ông trốn tới New Orleans rồi qua Honduras. Khi đang tá túc trong một khách sạn rẻ tiền ở đây, ông viết tập truyện ngắn ‘Cabbages and Kings’ (Bắp cải và vua chúa). Trong đó, truyện ‘Admiral’ (Thuyền trưởng) đặt bối cảnh ở vùng đất giả tưởng Anchuria - một ‘nền cộng hòa chuối nhỏ bé ven biển’. Không khó để nhận thấy Henry sáng tạo nước cộng hòa Latinh ẩm thấp và hỗn loạn này từ hình mẫu nước Honduras - nơi trú ẩn (hideaway) của mình. Ông cuối cùng cũng trở về Mỹ, xuất bản các truyện ngắn sau khi ngồi tù, rồi sớm qua đời do nghiện rượu (hitting the bottle).

Cụm từ Henry sử dụng đã dựng lên (conjure up) chuẩn xác hình ảnh một đất nước nông nghiệp (agrarian) nhiệt đới. Nhưng ý nghĩa của nó còn sâu xa hơn thế: cụm từ này ám chỉ các công ty hoa quả Mỹ với ảnh hưởng rất lớn lên nền chính trị Honduras và các nước láng giềng. Cuối thể kỉ 19, người Mỹ đã chán ngấy với việc phải gắng sức trồng hoa quả trên mảnh đất lạnh lẽo của mình. Nhập khẩu từ các nước Trung Mỹ rẻ và hiệu quả hơn rất nhiều, ở đây, nhờ khí hậu ấm áp, chuối và các hoa quả khác mọc nhanh hơn. Những tập đoàn khổng lồ như công ty United Fruit – tiền thân của Chiquita – đặt chân vào khu vực này, xây dựng đường xá, bến cảng và đường tàu hỏa để đổi lấy đất đai. Năm 1911, công ty Cuyamel Fruit, một tập đoàn Mỹ khác sau này bị United mua lại, cung cấp vũ khí cho một cuộc đảo chính (coup) ở Honduras và phát triển mạnh mẽ dưới quyền của vị Tổng thống mới được lập nên. Năm 1954, Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) hậu thuẫn một cuộc đảo chính khác ở Guatemala, do chính quyền nước này đe dọa tới lợi ích của United. (Các nhà sử học hiện vẫn tranh cãi về động cơ của CIA là nhằm bảo vệ United hay ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản từ trong trứng nước - nip in the bud). Do vậy, ý nghĩa thực sự của ‘nền cộng hòa chuối’ là một đất nước mà chính quyền bị các tập đoàn nước ngoài điều khiển.

Định nghĩa này vẫn đúng ở Honduras tuy sản phẩm được nhắc tới giờ không còn là hoa quả. Chuối vẫn là một phần quan trọng của nền kinh tế và công nhân vẫn còn nhiều điều để phàn nàn về các ông chủ ngoại quốc, nhưng những doanh nhân bận rộn nhất ở đây là những người đang bán một sản phẩm nông nghiệp khác cho người Mỹ: ma túy. Vị trí của Honduras trên tuyến đường vận chuyển từ Nam Mỹ sang Bắc Mỹ khiến cho hầu hết ma túy nhắm tới thị trường Mỹ đều đi qua biên giới nước này. Bạo lực và tham nhũng cũng theo đó mà xuất hiện xuyên suốt quá trình hướng tới cuộc bầu cử sắp tới. Honduras có thể không còn là một nước cộng hòa chuối truyền thống nhưng nước này đang có nguy cơ trở thành một thực thể tồi tệ hơn thế nhiều.

Đăng Duy
The Economist


"Two-faced" nghĩa là gì?

O for Obama. Photo courtesy citranow.

Nếu ai đó là 'two-faced' (hai mặt), điều đó có nghĩa là họ nói những điều êm tai về người khác khi họ có mặt - và nói xấu khi vắng mặt người đó.

Ví dụ
Matt is so two-faced. He told me I'm a great cook; then afterwards he told his other mates that my food is the worst he's ever eaten!
I really don't believe what Matilda says; I think she's a two-faced liar.

Xin lưu ý
Xin đừng nhầm với 'loses face', có nghĩa là họ mất đi sự kính trọng từ người khác (mất mặt).

Phillip lost face when no one came to his birthday party.

Thực tế thú vị:
Mặt nạ trong ảnh trên được dùng trong kịch câm (mime), một loại trình diễn sân khấu không dùng lời. Thay vào đó, các diễn viên dùng nét mặt, cử động của tay và cơ thể để kể chuyện.

BBC


Transform_Apr 18


A thankful person is thankful under all circumstances. A complaining soul complains even while living in paradise.
- Bahu 'u' llah

We're taught to feel bad about ourselves when we become aware of something about us that is less than ideal. But awareness is wisdom and clarity; it does not matter what one is aware of.

Assignment: Today, see how you have been able to complain even in paradise. Let yourself be thankful for the awareness.

Bahá'u'lláh ("Glory of God"; 12 November 1817 – 29 May 1892), born Mírzá Ḥusayn-`Alí Núrí (Persian: میرزا حسینعلی نوری‎), was the founder of the Bahá'í Faith. He claimed to be the prophetic fulfilment of Bábism, a 19th-century outgrowth of Shí‘ism, but in a broader sense claimed to be a messenger from God referring to the fulfilment of the eschatological expectations of Islam, Christianity, and other major religions. 

Bahá'u'lláh taught that humanity is one single race and that the age has come for its unification in a global society. His claim to divine revelation resulted in persecution and imprisonment by the Persian and Ottoman authorities, and his eventual 24-year confinement in the prison city of `Akka, Palestine (present day Israel), where he died...

Bắt đầu cuộc bức hại ở Ba Tư vào giữa thế kỷ 19. Baha'is tin vào đoàn kết của tất cả tôn giáo và tin rằng sứ giả của Thiên Chúa như Moses, Chúa Giê-xu và Muhammad đã được gửi vào các thời điểm khác nhau trong lịch sử với giáo lý khác nhau để phù hợp với nhu cầu thay đổi xã hội. Không có tu sỹ trong đạo Baha’i. Những buổi họp địa phương do hội đồng tinh thần địa phương tổ chức. Buổi họp gồm có cầu nguyện, học hỏi giáo lý, thảo luận, những hoạt động xã hội, dự các ngày thánh lễ. 

Quan trọng hơn cả là “Lễ 19 ngày” trong đó có những buổi cầu nguyện, quản trị hội thánh và những hoạt động xã hội liên hệ. Người Baha’i tin rằng mục đích của đời sống là hiểu biết và tôn thờ Thượng Đế, đồng thời xây dựng một nền văn minh tiến bộ không ngừng...

Popular Now