Journey in Life: 06/26/14

Search This Blog

Thursday, June 26, 2014

Nhật Bản và nô lệ tình dục thời chiến

Nhìn lại trong phẫn nộ
Photo: japantrends.

Khi còn là một anh lính quân y trẻ tuổi phục vụ trong thời kì quân đội hoàng gia Nhật Bản chiếm đóng Trung Hoa từ năm 1943 đến năm 1945, ông Masayoshi Matsumoto được lệnh tham gia kiểm tra những phụ nữ Triều Tiên xem có mắc các bệnh hoa liễu (venereal disease) hay không. Ông nói những người phụ nữ này được chuyển tới tiền tuyến để phục vụ lính Nhật. Trong khi đó, ở những vùng nông thôn xa xôi không có nhà thổ quân sự, phụ nữ địa phương bị dồn bắt (round up) và đưa vào các nhà thổ tạm bợ (makeshift brothel). Ông Matsumoto kể họ bị đối xử như nhà vệ sinh công cộng – binh lính xếp hàng chờ đến lượt cưỡng bức họ. ‘Họ không dám kháng cự vì biết điều gì sẽ xảy ra nếu chống lại,’ ông tiếp lời.

Những gì ông Matsumoto mắt thấy tai nghe xảy ra cách đây đã bảy thập kỷ, thế nhưng tranh cãi xoay quanh những người mà phía Nhật gọi là ‘phụ nữ giải khuây’ (comfort women) – hàng nghìn phụ nữ châu Á (phần đông đến từ Triều Tiên, ngoài ra còn có Miến Điện, Trung Hoa, Indonesia, Philippines, Đài Loan và các nơi khác) bị lùa tới những nhà thổ quân sự thời chiến của Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai vẫn còn nhức nhối (fester). Hàn Quốc và Nhật Bản – những đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở châu Á – đến nay vẫn gần như không thể đối thoại, điều khiến Tổng thống Mỹ Barack Obama phiền lòng, bởi bất đồng về vấn đề lịch sử này.

Các chính trị gia bảo thủ ở Nhật đã nhiều lần gây phẫn nộ (inflame) dư luận Hàn Quốc khi tuyên bố những người phụ nữ đó là gái mại dâm tự nguyện “giải khuây” cho binh lính ở mặt trận. Tuy nhiên, Tổng thống Obama tuyên bố rõ ràng (made it crystal clear) rằng ông không nghĩ như vậy. Trong khi né tránh (steer clear) chủ đề này khi đến Tokyo trong chuyến công du châu Á vào tháng trước, Tổng thống Obama lại gần như ngay lập tức lên án chế độ nô lệ tình dục (sexual enslavement) trong chuyến thăm hai ngày ở Seoul, coi đây là điều ‘khủng khiếp, vi phạm nghiêm trọng (egregious) nhân quyền, đáng căm phẫn’ ngay cả trong thời chiến.

Tổng thống Obama cũng kêu gọi 'một sự đánh giá chính xác và rõ ràng về những gì đã xảy ra'. Tuyên bố của ông khiến chính phủ Nhật Bản ngạc nhiên. Phó Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản - ông Katsunobu Kato thừa nhận ‘những nỗi khổ đau không đo đếm được’ của các nạn nhân nhưng cho rằng vấn đề ‘không nên bị biến thành một chủ đề chính trị hay ngoại giao’.

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đương nhiên biết rõ rằng đây là điều không thể. Hồi tháng Ba, ông đã có những động thái hạ nhiệt các tranh cãi (take some of the sting out) khi tuyên bố chính phủ của ông sẽ không xét lại lời xin lỗi từng được một quan chức nội các đưa ra vào năm 1993 – lần đầu tiên thừa nhận vai trò của quân đội Nhật Bản trong việc thiết lập các nhà thổ thời chiến. (Chính phủ trước đó đã phủ nhận sự tồn tại các nhà thổ này). Vào ngày 16 tháng Tư, và thêm một lần nữa vào tuần này, các quan chức ngoại giao cao cấp Nhật Bản và Hàn Quốc đã gặp gỡ để bàn về cách thức Nhật Bản có thể đền bù thỏa đáng hơn (more fully make amends). Hàn Quốc yêu cầu một lời xin lỗi chính thức và các khoản bồi thường xứng đáng. Nhưng họ cũng tỏ ra cảnh giác về mức độ chân thành của Nhật Bản. Như lời một quan chức cao cấp trong chính phủ Hàn Quốc: Chính phủ của ông Abe đã cam kết sẽ ‘xem xét’ cuộc điều tra dẫn đến lời xin lỗi năm 1993, một động thái rõ ràng không mang nhiều ý nghĩa, chủ yếu nhằm xoa dịu (sop) phe bảo thủ vốn từ lâu đã chỉ ra các mâu thuẫn trong lời khai (testimony) của các nạn nhân Hàn Quốc.

Các bằng chứng đầu tiên xuất hiện khi một số phụ nữ, sau nhiều thập niên ô nhục, đã phá vỡ sự im lặng vào đầu thập niên 1990. Giờ đây chỉ còn 55 người phụ nữ giải khuây Hàn Quốc còn sống. Cách để thoát khỏi bế tắc (impasse) lịch sử này có lẽ là chuyển trách nhiệm chứng minh (shift the probe) sang thủ phạm (perpetrator). Nhiều năm qua, các cựu binh Nhật từng tham gia Chiến tranh Thế giới thứ Hai đã nhiều lần lên tiếng về vấn đề nô lệ tình dục. Ông Matsumoto, từng đóng quân ở tỉnh Shanxi (Sơn Tây), Trung Hoa là người gần đây nhất và có lẽ cũng là người cuối cùng bước ra ánh sáng. Ông gọi những nỗ lực phủ nhận thời kì phụ nữ giải khuây là ‘nhục nhã’: ‘Tôi đã chứng kiến tận mắt (with my own eyes) những điều này. Những ai không nghiêm túc nhìn lại những gì đã xảy ra trong quá khứ sẽ lặp lại lịch sử.’ Ở tuổi 92, ông nói sức khỏe đang sa sút và thời gian cũng cạn dần. Rất nhiều nhà báo từ Hàn Quốc, Trung Hoa và Nhật Bản đã ‘hành hương’ tới nhà ông ở phía tây Tokyo để nghe chuyện. Tuy nhiên, chính phủ của ông thì vẫn chưa đoái hoài gì.

Đăng Duy
The Economist

Khía cạnh kinh tế của lễ hội âm nhạc Glastonbury

Glastonbury 2013. Photo courtesy Ben K Adams.

Vào ngày 25 tháng Sáu, khoảng 120.000 người sẽ tập trung ở Worthy Farm, Somerset để tham gia lễ hội âm nhạc Glastonbury. Được tổ chức lần đầu năm 1970, lễ hội này chỉ có chưa tới 1.500 người tham dự. Giá vé thời đó là 1 bảng (tương đương 2.40 đôla ngày nay) và nhóm nhạc diễn chính The Kinks thậm chí còn không xuất hiện. Kể từ ngày đó, Glastonbury đã trở nên ngày một chuyên nghiệp và nổi tiếng: dù chưa tiết mục nào được chốt vào thời điểm này nhưng tất cả vé của lễ hội năm nay với giá 210 bảng (355 đôla) một chiếc đã được bán hết sạch trong chưa đầy một tiếng rưỡi. Thành công của lễ hội này là biểu hiện của một xu hướng lớn hơn trong ngành công nghiệp âm nhạc. Đó là các buổi diễn trực tiếp ngày càng trở nên quan trọng hơn. Vì sao vậy?

Vào đầu thiên niên kỉ mới, khoảng 2/3 thu nhập của giới nghệ sỹ đến từ các bản thu âm trong khi 1/3 còn lại bao gồm nguồn thu từ biểu diễn trực tiếp, sản phẩm ăn theo và hợp đồng quảng cáo. Ngày nay, tình thế đã đảo ngược. Nhạc số - cả hợp pháp lẫn bất hợp phát – đã làm giảm lượng đĩa bán ra. Biểu diễn trực tiếp và sản phẩm ăn theo đã thay thế đĩa hát để trở thành nguồn thu nhập chính của các nghệ sỹ ở Anh. Vé xem biểu diễn mang lại lãi cao (juicy markup) trong khi áo thun, poster và những sản phẩm tương tự giúp làm đầy thêm túi tiền của các ban nhạc (boost bands’ coffers). Những tên tuổi như Rolling Stones, nhóm nhạc có tour diễn đầu tiên hơn 50 năm trước, hiện bán vé VIP với giá hơn 1.000 đôla.

Các địa điểm tổ chức hòa nhạc đều được lợi từ sự thay đổi thị trường này nhưng rõ ràng là các lễ hội đặc biệt thành công. Theo Cơ quan quản lý về biểu diễn và phổ biến tác phẩm âm nhạc (Performing Rights Society), năm 2011, các sân khấu lớn (arena) thu về 396 triệu trong thị trường nhạc sống trị giá 1.6 tỉ bảng của Anh. Các lễ hội cũng đạt được con số tương tự. Tuy nhiên, do vé của lễ hội đắt hơn nên chỉ cần 272 sự kiện là có được doanh thu trên so với 1.000 buổi biểu diễn ở các sân khấu lớn. Lễ hội cũng đem lại lợi ích cho các nghệ sỹ: khán giả đông hơn trong khi họ chỉ phải diễn ít hơn so với những lịch đi tour mệt mỏi và tốn kém. Khán giả cũng được lợi, được xem thỏa thích các ban nhạc trong không khí thoải mái hơn hẳn so với ở các sân khấu chật chội (cramped gig venue). (Cũng phải nói đây có thể là một trải nghiệm tốn kém vì không có nhiều lựa chọn để mua đồ ăn, nước uống). Mùa lễ hội ở Anh vì thế đã kéo dài hơn, hiện nay là từ tháng Năm cho tới suốt tháng Chín. Việc chính phủ loại bỏ các quy định về biểu diễn trực tiếp năm 2012 đã thúc đẩy các lễ hội nhỏ do người tổ chức không còn phải hoàn thành hàng đống giấy tờ thủ tục nữa.

Tuy nhiên thành công của các lễ hội cũng tạo ra vấn đề cung cầu của riêng nó. Chris Carey, giám đốc Media Insight Consulting, cơ quan luôn theo sát ngành công nghiệp âm nhạc, nhận xét các lễ hội đều đang phải tranh giành những tên tuổi hàng đầu, mà số lượng những nhóm này thì có hạn. Kết quả là những ‘ban nhạc lão thành’ (doddery “heritage bands”) được đưa trở lại sân khấu. Chi phí cao vút cho sự xuất hiện của các siêu sao khiến cho chẳng còn bao nhiêu tiền để trả cho những nhóm ít tên tuổi hơn. Rất nhiều lễ hội nhỏ đã phải hủy bỏ vào giờ chót vì không bán được vé. Thêm vào đó là sự cạnh tranh ngày một quyết liệt từ châu Âu: rất dễ bắt máy bay giá rẻ để tham gia các lễ hội ở Croatia và Latvia, nơi bia ngập tràn, các ban nhạc chất lượng và thời tiết tốt. Những người tham gia Glastonbury cũng sẽ được đảm bảo ít nhất 2 điều đầu tiên còn về điều thứ ba, có lẽ họ nên mang theo ủng đi mưa (welly, wellington): đúng như truyền thống, giai đoạn thời tiết tốt ở phía nam nước Anh được dự báo sẽ chuyển mưa vào đúng dịp cuối tuần này.

Đăng Duy
The Economist

Hội chợ Thế giới ở Chicago chào mừng ‘Một thế kỷ phát triển’

"Give it to someone straight" nghĩa là gì?

"The game of life is a lot like football. You have to tackle your problems, block your fears, and score your points when you get the opportunity."--Lewis Grizzard. Photo courtesy Rakib Hasan Sumon.

'Give it to someone straight' có nghĩa là nói thẳng thắn và chân thật với một người nào đó, về một vấn đề gì, nhất là khi vấn đề đó không tốt đẹp.

Ví dụ
Everyone in our company waited to hear about possible layoffs (sa thải, mất việc). The manager decided to give it to us straight. She told us directly that the plant (nhà máy) was going to close because labor was cheaper overseas (hải ngoại).

The doctor looked at my knee injury (chấn thương đầu gối). It was really bad, so I wanted to know if I’d be able to play football again. He gave it to me straight: I would have to miss half of the season, but that’s all!

Huyền Trang
VOA

Formosa Hà Tĩnh đòi lập đặc khu Vũng Áng

by Nguyễn Vũ via thesaigontimes.

Formosa đề xuất thành lập đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng (Ban quản lý trực thuộc Văn phòng Chính phủ) nhằm xây dựng cảng nước sâu Sơn Dương và đầu tư các ngành công nghiệp liên quan như gang thép, điện....

Với đặc khu này, Formosa đề xuất một loạt biện pháp ưu đãi như được Chính phủ thiết lập cơ chế bảo hộ ngành thép, được Chính phủ ưu đãi cân đối ngoại tệ trong phạm vi hạng mục kinh doanh, được vay vốn từ các tổ chức tài chính nước ngoài, được miễn thu thuế khấu trừ tại nguồn..., miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu...

“đề nghị được cắt đất để bán lâu dài cho nhân viên” mà Formosa dự kiến số lượng nhân viên cao nhất đạt 15.000 người, nếu tính cả thân nhân của họ là khoảng 60.000 người như một thị trấn gần đặc khu.

Dự án Khu liên hợp gang thép Formosa đang được triển khai xây dựng và dự kiến bắt đầu vận hành giai đoạn 1 vào năm 2015 với tổng công suất khoảng 22,5 triệu tấn thép/năm.

Rắc rối mới trong quan hệ Mỹ - Trung

shared from fb Xê Nho Nvp.

Phải công nhận mấy ông nghị ở Mỹ chơi trò tiểu xảo mang tính biểu diễn cho dân chúng khoái chí là chính nhưng dĩ nhiên nghe rất đã. Ví dụ Ủy ban Phân bổ Ngân sách Hạ viện Mỹ khi thông qua dự luật ngân sách dành cho Bộ Ngoại giao Mỹ đòi kèm theo một điều khoản: Đổi tên đường trước mặt Đại sứ quán Trung Quốc ở Washington DC thành “Quảng trường Lưu Hiểu Ba”.

Cái này còn phải chờ toàn thể Hạ viện thông qua, rồi đưa lên Thượng viện và Tổng thống Obama phê chuẩn.

Nhưng trước mắt mấy ông nghị đã đạt được mục đích: cho Trung Quốc xấu mặt chơi. Lưu Hiểu Ba như cái gai trong mắt nhà cầm quyền Trung Quốc, nhất là sau khi ông này được giải Nobel Hòa bình năm 2010, nay Trung Quốc bắt buộc phải ghi trên thư từ địa chỉ Đại sứ quán của họ nằm ở số 1 Quảng trường Lưu Hiểu Ba – cha ai không tức. Haha.

fb Giang Le: Thực ra việc đổi tên đường trước đại sứ quán Trung Quốc ở Washington DC mới chỉ được House Appropriations Committee (một ủy ban trong hạ viện) bỏ phiếu thuận thôi, còn phải qua full House, Senate, và Obama ký nữa.

Người đưa ra đề nghị này là nghị sĩ Frank Wolf thuộc đảng Cộng hòa, nên chưa rõ Senate do đảng Dân chủ nắm đa số và Tổng thống Obama sẽ phản ứng thế nào. Ông nghị sĩ này "đính kèm" yêu cầu đổi tên vào một dự luật quan trọng hơn phê chuẩn ngân sách cho bộ Ngoại giao Mỹ. Vì đảng Dân chủ cần thông qua ngân sách nên họ buộc phải chấp nhận yêu cầu của Frank Wolf. Politics ở Mỹ là vậy.

Một điều thú vị là năm 1984 Quốc hội Mỹ đã từng đổi tên một đoạn phố trước cổng đại sứ quán Liên Xô thành Andrei Sakharov.

Do not judge by appearances


Previous post: Everything on the Earth has a purpose

Popular Now