Journey in Life: 06/30/14

Monday, June 30, 2014

Ông bà Hà Hường tới chơi nhà





Bài trước: Bà Tuyn tới chơi nhà

Sáp nhập ngân hàng địa phương: xu thế tất yếu ở Nhật Bản

Quảng cáo của Suruga Bank ở cầu Nihonbashi. Ảnh chụp 1:44 chiều 2/9/2009.

Các ngân hàng Nhật Bản vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính lần này một cách bình yên vô sự (unscathed) phần lớn do họ đã tránh xa (steer clear of) các loại tài sản độc hại (toxic assets) đã khiến các ngân hàng Mỹ và Châu Âu gặp khó khăn. Tuy nhiên Cục Dịch vụ Tài chính (Financial Services Agency) – cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng Nhật Bản – không ‘ngủ quên trên vòng nguyệt quế’ (rest on its laurels). Khi truy tìm các nguy cơ bất ổn trong tương lai, cơ quan này đặc biệt chú ý (home in on) tới hơn 100 ngân hàng địa phương. Các ngân hàng này nắm giữ tổng cộng xấp xỉ 40% các khoản vay, tương đương với 5 tập đoàn tài chính lớn nhất Nhật Bản, bao gồm Mizuho, Mitsubishi UFJ và Sumitomo Mitsui.

Nhìn thoáng qua, sự lưu tâm của Cục Dịch vụ Tài chính Nhật Bản dường như đặt nhầm chỗ. Các ngân hàng địa phương thường có quan hệ mật thiết với các công ty trong vùng, đồng thời cũng là ngân hàng chủ chốt tại thị trường địa phương đó. Điều này giúp cho nhiều ngân hàng địa phương có được tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (net interest margin - chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn) cao hơn đôi chút so với các ngân hàng thuộc các thành phố lớn. Một số ngân hàng, như Suruga Bank của thành phố Numazu, tỉnh Shizuoka trở thành những nhà cho vay sáng tạo. Suruga thu được tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cao gần hai lần so với các ngân hàng địa phương khác bằng cách cung cấp các khoản vay tiêu dùng tới những người khó tìm được nguồn tín dụng ở nơi khác, chủ yếu là các bà nội trợ. Đa số các ngân hàng địa phương không mấy sáng tạo thế nhưng sự bảo thủ của các ngân hàng này cũng đồng nghĩa với việc họ chịu ít rủi ro hơn.

Tuy nhiên, thực tế các ngân hàng địa phương đang bị lung lay. Tỷ lệ lãi suất thấp ở Nhật Bản khiến hoạt động cho vay của các ngân hàng này không mấy sinh lời kể cả khi họ nắm thị phần khống chế. Hơn nữa, dân số già nhanh chóng cũng là vấn đề lớn. Bản báo cáo tháng Năm từ Hội đồng Chính Sách Nhật Bản (Japan Policy Council) – một tổ chức nghiên cứu – khẳng định với chiều hướng hiện nay, khoảng 900 đô thị vùng – (tương đương) một nửa số đô thị hiện nay ở Nhật Bản – sẽ biến mất hoặc không còn hoạt động vào năm 2040, do phụ nữ ở độ tuổi sinh nở di cư đến các thành phố lớn. Sự tăng trưởng không ngừng của Tokyo, Osaka và Nagoya tạo cơ hội cho 5 ngân hàng lớn mở rộng kinh doanh trong nhiều năm tới, dù đó có thể là lấy đi lượng khách hàng cần thiết từ các ngân hàng địa phương. Trong khi các ngân hàng lớn đang thu được lợi nhuận kếch sù (handsome) từ thị trường quốc tế để có thể bù đắp (offset) nhu cầu vay thấp trong nước thì các ngân hàng địa phương lại không có khả năng theo đuổi khách hàng doanh nghiệp khi họ xây dựng nhà máy ở nước ngoài. Tệ hơn nữa, các ngân hàng địa phương yếu kém nhất luôn quản lý lỏng lẻo và ít vốn (thin cushions of capital).

Cục Dịch vụ Tài chính Nhật Bản cho rằng hợp nhất là giải pháp cần thiết. Chính quyền của Thủ tướng Shinzo Abe cũng đồng tình với quan điểm này. Tháng Năm vừa qua, Đảng Dân chủ Tự do của ông Shinzo Abe đã đề xuất chiến lược tăng trưởng trong đó kêu gọi xem xét toàn bộ tài chính địa phương. Đảng của ông cho rằng các ngân hàng này góp phần duy trì các công ty theo kiểu ‘xác chết biết đi’ (zombie company) thay vì buộc các khách hàng doanh nghiệp của họ phải kiện toàn (shake up) công tác quản lý. Báo cáo trên cũng cho rằng khuynh hướng sợ rủi ro (risk-averse behavior) của các ngân hàng này cũng khiến cho các doanh nghiệp khởi sự (start-up) không thể vay đủ vốn. Tác giả báo cáo trên - ông Yasuhisa Shiozaki còn khẳng định sự thận trọng này khiến bản thân các ngân hàng địa phương cũng chỉ thu được lợi nhuận thấp.

Lãnh đạo cấp cao một ngân hàng địa phương thừa nhận rằng Nhật Bản thực ra có quá nhiều ngân hàng, khiến hạn chế lãi cận biên của chính họ. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng ngân hàng địa phương không phải thủ phạm (culprit) duy nhất, ngoài ra đó là hàng lớp các ngân hàng hợp tác xã nhỏ dưới các ngân hàng địa phương và các đơn vị cho vay nhà nước như Ngân hàng Phát triển Nhật Bản. Tổng cộng các đơn vị cho vay của chính phủ chiếm tới 20% số vốn vay trên toàn quốc.
Ngân hàng Trung ương Nhật Bản. Ảnh chụp từ vỉa hè Bảo tàng Lịch sử Tiền tệ.

Các ngân hàng địa phương thì cho rằng tương lai không như những gì mà Chính phủ và Cục Dịch vụ Tài chính Nhật Bản dự đoán. Ông Isao Kubota, Giám đốc Nishi-Nippon City Bank, một ngân hàng địa phương nổi tiếng ở thành phố miền Nam Nhật Bản Fukuoka cho hay chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản nhằm chấm dứt tình trạng giảm phát đã tiếp tục giữ lãi suất dài hạn ở mức thấp và khiến hoạt động cho vay ít lợi nhuận. Khi mọi thứ trở lại bình thường và lạm phát tăng trở lại, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên chắc chắn sẽ dồi dào hơn (fatten). Nếu kế hoạch khôi phục kinh tế của ông Abe có hiệu quả, cầu về vốn vay và chênh lệch lãi vay thậm chí còn tăng mạnh hơn nữa.

Ryoji Yoshizawa thuộc Standard & Poor’s tại Tokyo cho rằng khó có thể thực hiện sáp nhập trong vài năm tới vì Cục Dịch vụ Tài chính Nhật Bản không thể cưỡng chế thi hành và hầu hết các ngân hàng địa phương vẫn có lãi. Mỗi ngân hàng, thường là ngân hàng được ghi danh duy nhất ở địa phương của mình sẽ tự coi là trung tâm mà nền kinh tế địa phương phải xoay quanh. Một nhà phân tích tại Tokyo còn cho hay các giám đốc ngân hàng được đối xử như vị thánh (near-gods) ở địa phương. Vì vậy, khó có thể bắt họ tự nguyện chia sẻ quyền lực với đối tác sáp nhập trừ khi họ không còn lựa chọn nào khác. Trong những năm gần đây mới chỉ có duy nhất ngân hàng Bank of Fukuoka (trụ sở ở Fukuoka) đã mua hai đối thủ ở hai tỉnh lân cận và trở thành Tập đoàn Tài Chính Fukuoka vào năm 2007.

Thế nhưng các ngân hàng địa phương yếu kém cũng sẽ chẳng có lựa chọn nào khác ngoài việc sáp nhập một khi họ kinh doanh không có lãi. Các ngân hàng mạnh nhất, như Tập đoàn Tài chính Fukuoka, hiện đang tăm tia các mục tiêu béo bở nhất (juiciest target). Khi tiến trình sáp nhập bắt đầu, hẳn không một lãnh đạo ngân hàng nào muốn đứng ngoài cuộc chơi.

Phương Thùy
The Economist

Nhà là nơi bình yên nhất

Home*. Photo couretsy Randen Pederson.

A man travels the world over in search of what he needs and returns home to find it.
~ George Moore

"Chúng ta đi khắp thế giới để tìm những thứ chúng ta cần và chỉ lúc về nhà mới nhận ra nó…"

Home is where...
the heart is
wifi connect automatically
bra comes off ;)
you poop most comfortably :D (don't need to close the toilet door)

* But every house where Love abides,
And Friendship is a guest,
Is surely home, and home-sweet-home:
For there the heart can rest. (Van Dyke)

Previous post: Making your passion your career

Netsuke ở Bảo tàng Anh: Nét đẹp trong sự nhỏ bé

Netsuke. Photo courtesy Erich Ferdinand.

Netsuke - những chiếc móc treo (toggle) chạm khắc cầu kì (intricately carved) được dùng để treo vào đai lưng (sash) bộ kimono của đàn ông lại đang trở thành mốt nhưng không phải như một đồ vật thanh nhã để trang trí, mà như các bảo vật được yêu thích vì sự tinh xảo và những điều nó hé lộ về lịch sử Nhật Bản. Được cổ vũ từ danh tiếng của cuốn ‘The Hare with the Amber Eyes’ (Chú thỏ có đôi mắt màu hổ phách), cuốn hồi ký giành nhiều giải thưởng của Edmund de Waal về bộ sưu tập netsuke mà ông được thừa hưởng, viện Bảo tàng Anh đang tổ chức một cuộc triển lãm nhỏ nhưng ấn tượng về các tác phẩm điêu khắc nhỏ bé như một phần trong chuỗi các buổi trưng bày miễn phí nhằm giới thiệu thêm (cast a fresh light) với công chúng về bộ sưu tập này.

Bảo hàng hiện có gần 2.300 chiếc netsuke, phần lớn được các nhà sưu tập trao tặng trong hơn 150 năm qua nhưng chỉ có năm chiếc được trưng bày cùng với loại kimono và phụ kiện tương ứng giống như ở Nhật Bản trong thời kì Edo (1615-1868). Bảo tàng dự định giới thiệu chúng giống như khi được sử dụng với mục đích ban đầu trước khi trở thành các món đồ lưu niệm được giới sưu tập ưa thích khi Nhật Bản kết thúc chính sách bế quan tỏa cảng và văn hóa phương Tây xuất hiện ở đây.

Như hầu hết các món đồ thời trang có lịch sử lâu dài, netsuke được chạm khắc từ gỗ, bạc, ngà voi và đôi khi là sứ, ban đầu có công dụng nhất định. Trong khi kimono của phụ nữ có các túi nhỏ trong tay áo thì đàn ông thuộc mọi đẳng cấp buộc các đồ dùng cá nhân như túi tiền, đồ viết, tẩu và hộp thuốc lá vào một dải lụa. Dải lụa này được giữ bởi một chiếc netsuke gắn vào chiếc đai lưng dày quanh vùng eo của chiếc kimono.

Đầu thế kỉ 18, Edo (Tokyo ngày nay) là một trong những thành phố lớn nhất thế giới. Giao thương phát triển giúp các thương nhân ngày càng có khả năng bắt chước và thậm chí vượt qua (emulate) lối sống và phục trang của những người thuộc tầng lớp trên họ trong trật tự xã hội khắt khe (strict social hierarchy) thời bấy giờ. Luật cấm xa hoa lãng phí (sumptuary laws) ban hành bởi chính quyền quân sự Mạc phủ (shogunate) nhằm ngăn cản sự thăng tiến giai cấp bằng cách giới hạn chi tiêu cá nhân và quy định từng đẳng cấp nào được mặc cái gì. Các tầng lớp dưới (lower echelons) bị cấm không được mặc vải thêu cầu kì và chỉ được mặc đồ bằng lụa tối màu hoặc vải bông với họa tiết đơn giản.

Phụ kiện là một cách lách luật kín đáo (discreet) trước các quy định về ăn mặc (sartorial rules) này. Netsuke đủ nhỏ để giấu trong bàn tay hoặc nhét (tuck into) vào nếp gấp của kimono và đã trở thành một cách khoe của và khoe ‘gu’ ngày một được ưa chuộng. Thiết kế tinh xảo (elaborate design) của nó thể hiện niềm vui có được từ việc phá luật (flouting the rules), sự kết hợp tinh tế giữa nhu cầu thực tế và nghệ thuật điêu khắc với các sắc thái đa dạng từ hài hước, trào phúng (grotesque) đến gợi dục (erotic) và châm biếm (kitsch). Các netsuke được chọn cho lần triển lãm này – một đôi vợ chồng hoàng gia Trung Hoa đang thổi sáo, một con rùa, một con chuột đang ngủ, một con cá vàng tròn trịa (bulbous) và một chú bé đang nhảy – là biểu hiện của sự đa dạng ấy. Tuy vậy, chúng gần như luôn có hình tròn với hai lỗ để xỏ dây và các cạnh trơn để không làm rách bộ kimono.

Trang phục thường bị coi là không quan trọng (dismissed as unimportant) và thời trang chỉ là người em phù phiếm (frivolous younger sibling) của nghệ thuật nhưng bộ kimono màu xám nhạt cùng với các phụ kiện (được trưng bày) có một sự cộng hưởng mạnh mẽ (striking resonance) với hiện tại – nơi sự khác biệt trong trang phục của giới kinh doanh thường được thể hiện qua phụ kiện như giày và đồng hồ. Mục đích sử dụng có thể được dùng làm cái cớ (ostensibly practical purpose) để che chắn người dùng khỏi các cáo buộc xa hoa, lãng phí: chúng là hiện thân của sự theo đuổi cả tính thoải mái và thể hiện cái tôi cá nhân, những điều vốn luôn có ảnh hưởng tới các ăn mặc. Tương tự như vậy, “các vụ nổ nho nhỏ về tính chính xác” (“small explosions of exactitude”) – netsuke theo miêu tả của de Waal có thể ấn tượng và quyến rũ (beguiling) trong từng chi tiết nhưng câu chuyện lớn hơn mà nó kể cũng không kém phần thú vị.

Đăng Duy
The Economist

"Cast in stone" nghĩa là gì?

Tượng ở Bảo tàng ngoài trời Hakone, Nhật Bản. nh chụp 9:31 sáng 26/8/2009.

'Cast in stone' có một từ mới là cast nghĩa là đổ một chất lỏng như kim loại hay thạch cao vào khuôn cho đông cứng lại để đúc một đồ vật. Vì thế cast in stone dùng để chỉ một kế hoạch hay một quyết định cứng nhắc, không thể thay đổi được.

Ví dụ
My boss is very rigid (cứng nhắc). Once he E-mails the agenda (nghị trình) for a meeting, he doesn’t make any changes. It’s cast in stone.

People used to order (gọi đồ ăn thức uống trong nhà hàng) white wine (rượu chát) only with fish and red wine only with meat. Today that practice (thông lệ) is no longer cast in stone. Feel free to drink whatever wine you want with your meal.


Huyền Trang
VOA

Giải cứu nợ xấu: Những bài học từ TARP của Mỹ

bài của Thân Hoàng Dung trên vietstock.

Phần 1: TARP – Quy mô, phạm vi và thực hiện
Phản ứng lại cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ đỉnh điểm vào năm 2008, Quốc hội, Cục Dự trữ Liên bang (Fed), Bộ Tài chính, Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC) đã độc lập và cùng với các cơ quan khác thực hiện một loạt giải pháp để ổn định lại thị trường tài chính, và một trong những trọng tâm là Chương trình Giải cứu Tài sản xấu (TARP, Troubled Asset Relief Program) kéo dài trong hai năm đến ngày 03/10/2010.

TARP ra đời dựa trên đạo luật “Ổn định khẩn cấp nền kinh tế” (Emergency Economic Stabilization Act – EESA) vào tháng 10/2008. Đạo luật này cho phép Bộ Tài chính Mỹ sử dụng tối đa 700 tỷ USD từ ngân sách liên bang để mua hoặc bảo hiểm những tài sản tài chính có mức độ rủi ro cao của các tổ chức tài chính trong nước.

Sau đó, Đạo luật Dodd-Frank (Đạo luật cải cách Wall Street và bảo vệ người tiêu dùng) ra đời ngày 21/07/2010 đã hạn chế hoạt động của TARP và giảm số tiền tổng thể xuống còn 475 tỷ USD.

Ý tưởng và thực hiện trên thực tế
Ý tưởng chính ban đầu của chương trình TARP là mua lại các tài sản liên quan đến thế chấp bị tổn hại (mortgage-related toxic assets) để làm sạch bảng cân đối kế toán của các tổ chức tài chính, giúp giảm bớt bất ổn và quan ngại đang lan rộng trên thị trường.

Ngay khi ra đời, chương trình này đã gặp phải sự phản đối đầu tiên bởi định nghĩa tài sản xấu/tổn hại hay tổ chức tài chính là quá rộng lớn và mơ hồ.

Trên thực tế, TARP đã được triển khai dưới một loạt các chương trình khác chứ không chỉ dừng lại đơn thuần ở khái niệm mua lại những tài sản liên quan đến thế chấp bị tổn hại. Những chương trình này có thể được phân loại vào bốn chương trình lớn, bao gồm: hỗ trợ ngân hàng, thị trường tín dụng, bất động sản và các chương trình khác như trong bảng dưới đây.

Hỗ trợ ngân hàng (Bank Support Programs)
• Capital Purchase Program (CPP): Chương này không mua các chứng khoán phái sinh dựa trên khoản thế chấp (MBS, Mortgage Backed Securities) mà là mua cổ phần ưu đãi ở các ngân hàng. Mục đích là cấp vốn cho các ngân hàng để vượt qua ảnh hưởng tiêu cực từ các tài sản xấu, và các tài sản này vẫn còn nguyên trên bảng cân đối kế toán. Số dư giải ngân đến giữa tháng 5/2012 là 11.6 tỷ USD, hiện chương trình đã đóng.

• Targeted Investment Program (TIP): Mua cổ phần ưu đãi đặc biệt ở ngân hàng Citigroup và Bank of America. Chương trình này đã đóng và đã hoàn trả lại số tiền giải cứu.

• Asset Guarantee Program (AGP): Chương trình hỗ trợ đặc biệt cho Citigroup và Bank of America. Đã hủy và không giải ngân.

• Community Development Capital Initiative (CDCI): Mua cổ phiếu (ưu đãi) với cổ tức thấp ở các ngân hàng cho vay các doanh nghiệp nhỏ, nhằm tăng mức độ tiếp cận vốn của khối doanh nghiệp này. Chương trình hiện đã đóng với số dư giải ngân chỉ 0.57 tỷ USD.

Thị trường tín dụng (Credit Market Programs)
• Public-Private Investment Program (PPIP): Cung cấp tín dụng và đảm bảo cho các nhà đầu tư tư nhân mua chứng khoán có liên quan đến thế chấp (mortgage-related securities) của các ngân hàng. Chương trình hiện vẫn đang thực hiện, số dư giải ngân 18 tỷ USD, trong tổng số tối đa 21.9 tỷ USD.

• Term Asset-Backed Securities Loan Facility (TALF): Chương trình do Fed điều hành để hỗ trợ thị trường chứng khoán phái sinh dựa trên tài sản đảm bảo (ABS, Asset Backed Securities). Số dư giải ngân 0.1 tỷ USD trong tổng số ngân sách 4.2 tỷ USD. Dự báo sẽ không giải ngân thêm.

• Section 7(a) Securities Purchase Program: Mua các chứng khoán do Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ bảo đảm để tăng mức độ tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ. Số dư giải ngân bằng không và chương trình hiện đã đóng.

Các chương trình khác (Other Programs)
• Trợ giúp AIG (Systemically Significant Failing Institution Program): Mua cổ phần ưu đãi tại AIG do là một định chế “quá lớn không thể sụp đổ” (too big to fail), mức tối đa có lúc nắm đến 92% cổ phần. Bộ Tài chính Mỹ đã bắt đầu bán ra số cổ phần này và hiện còn nắm giữ 61% AIG. Chưa rõ kế hoạch thoái vốn. Số dư giải ngân là 30.4 tỷ USD và khó giải ngân thêm.

• Hỗ trợ ngành công nghiệp ô tô: Ban đầu là khoản tín dụng cấp cho General Motors và Chrysler, sau đó chuyển thành mua cổ phần ưu đãi dưới tên công ty chuyên cấp tài chính cho ngành công nghiệp ô tô GMAC (hiện đã đổi tên thành Ally Financial). Chính phủ Mỹ sau đó bán cổ phần ra công chúng và bán cho Fiat, giảm tỷ lệ sở hữu. Số dư giải ngân là 37.1 tỷ USD, không giải ngân thêm.

Các chương trình hỗ trợ bất động sản (Housing Programs)
Tất cả các chương trình này vẫn đang có hiệu lực và số vốn được phép giải ngân còn rất lớn.
• Home Affordable Modification Program (HAMP): Hoàn trả cho các công ty dịch vụ thế chấp nếu giảm chi phí tài chính (lãi vay) cho người mua nhà. Số dư giải ngân 2.85 tỷ USD, trong số vốn tối đa 29.9 tỷ USD.

• Hardest Hit Fund (HHF): Hỗ trợ tài chính cho các công ty tài chính bất động sản của các tiểu bang có tỷ lệ thất nghiệp cao và giá nhà đất sụt giảm mạnh. Số dư giải ngân 0.9 tỷ USD, trong số vốn tối đa 7.6 tỷ USD.

• FHA Short Refinance: Chương trình khuyến khích tái cấp vốn cho các khoản vay thế chấp mà giá trị tài sản đảm bảo thấp hơn số nợ vay, nếu chủ nợ đồng ý xóa một phần nợ thế chấp. Số dư giải ngân 0.06 tỷ USD, trong số vốn tối đa 8.1 tỷ USD.

Quy mô giải ngân: Ngân hàng, ô tô và AIG đứng đầu bảng
Bảng bên dưới cho thấy sự phân bổ kinh phí quỹ TARP tập trung nhiều nhất vào chương trình hỗ trợ ngân hàng với gần 60% ngân quỹ toàn bộ chương trình; tiếp theo là hỗ trợ tài chính cho ngành công nghiệp ô tô và AIG, rồi sau đó mới đến thị trường tín dụng, thị trường bất động sản.
Riêng kinh phí dành cho chương trình thị trường tín dụng (bao gồm cả PPIP) chỉ mới giải ngân được 18.42 tỷ USD, so với con số dự kiến là 26.52 tỷ USD.

Tính đến ngày 15/05/2012, kinh phí giải ngân thực tế cho các chương trình TARP đạt 414.88 tỷ USD, thấp hơn so với con số dự kiến là 470.12 tỷ USD.

Nhiều khả năng dòng vốn từ quỹ TARP trong thời gian tới sẽ tiếp tục chảy vào các chương trình còn nhiều dư địa như bất động sản hay thị trường tín dụng.

Bài viết có sử dụng thông tin từ báo cáo về chương trình TARP của Quốc hội Mỹ.

Phần mềm vẽ đồ thị Toán học hay


Phần mềm Geogebra 3.2 liệu có vẽ được như này không... :))

Hướng dẫn rõ ràng


ngoài tóc trên đầu và râu ở cằm, nếu muốn cạo các phần khác cơ thể, bạn nhớ kéo căng vùng da ở đó nhé... :D

Bài trước: Diaper names