Journey in Life: 08/29/14

Friday, August 29, 2014

Các nhà từ điển học quyết định thêm từ mới như nào?

Side boob. Photo courtesy Lies Thru a Lens.

Đầu tháng này, Từ điển Oxford đã thêm một số từ mới vào phiên bản trực tuyến của mình. (không nên nhầm với Từ điển tiếng Anh Oxford.) Như thường lệ, Oxford bao gồm các từ mới (coinage) do các bạn trẻ biến cách (inflect) ồn ào trên mạng như 'neckbeard' (a man who is socially inept and physically unappealing, especially one who has an obsessive interest in computing), 'side boob' (the side part of a woman’s breast, as exposed by a revealing item of clothing) và 'mansplaining' ((Of a man) explain (something) to someone, typically a woman, in a manner regarded as condescending or patronizing). Và như thường lệ, các bình luận trên mạng internet có vẻ bối rối (nonplussed) bởi việc một tổ chức đáng kính (như Oxford) thừa nhận tiếng lóng tuổi teen. Vậy, những nhà soạn từ điển (lexicographer) quyết định đưa từ mới vào từ điển như nào?

Một cách ngắn gọn, các nhà soạn từ điển giống một ngư dân, thu thập các từ mới bằng chiếc lưới rộng, hơn là một cảnh sát, loại bỏ "từ xấu", như nhà từ điển học Erin McKean, trước ở Oxford và giờ cộng tác với từ điển trực tuyến Wordnik, nói. Hầu hết các từ điển hiện đại dùng phương pháp mô tả (descriptive), trong đó họ tìm các từ mọi người thực sự sử dụng và ghi lại. Họ không còn theo tập quán (prescriptive) "ban cho" từ "tốt" địa vị chính thức trong khi vẫn loại bỏ tiếng lóng và từ mới (neologism) nữa.

Nhưng điều này cũng không có nghĩa từ điển bao gồm tất cả mọi thứ. Các từ điển bản in phải đánh đổi (trade off) giữa kích thước và chi phí với việc bao gồm đủ từ vựng để từ điển trở nên có ích. Những từ điển như vậy phải bỏ qua rất nhiều từ hiếm hay quá kỹ thuật. Nhưng các nhà soạn từ điển cũng đợi đến khi một từ dường như được sử dụng rộng rãi và lâu dài trước khi thêm vào từ điển. Đưa một từ mới vào quá sớm, và từ đó có thể lỗi mốt (out of fashion) khi mực trên ấn bản đầu tiên chưa kịp khô. Nhưng nếu một từ được dùng trong một thời gian đủ dài trên một khu vực đủ rộng những người nói tiếng Anh, các nhà soạn từ điển sẽ quyết định (make the judgment call) để đưa từ đó vào. Điều này không giống như phê duyệt. Thật vậy, các từ điển nghiêm túc cũng bao gồm các từ bậy (foul language) và khinh miệt chủng tộc (racial slur).

Mạng internet đã thay đổi hoàn toàn công việc soạn từ điển. Rất nhiều từ điển, cả truyền thống lâu đời và các nhà xuất bản mới - được miễn phí trên mạng nên các nhà soạn từ điển phải cạnh tranh để có thêm các tính năng như phát âm, truy cập vào cơ sở dữ liệu lịch sử trích dẫn v.v... Có lẽ chắc chắn, các nhà soạn từ điển trực tuyến sẽ thêm các từ mới nhanh hơn các đồng nghiệp bản in của họ, ít nhất vì họ không phải cân nhắc tính toán về khối lượng. Và đối với một số loại tìm kiếm, một từ điển trực tuyến không theo kịp với ngôn ngữ mới sẽ bị loại hoàn toàn khỏi cạnh tranh bởi các từ điển khác. Ví dụ, Urban Dictionary, từ điển trực tuyến gồm rất nhiều các định nghĩa tục tĩu (scurrilous), đã thêm từ "side boob" ngay từ năm 2005. Áp lực từ các từ điển trực tuyến có lẽ đã khiến Từ điển Collins, một từ điển truyền thống, cho phép người dùng Twitter bầu cho từ mới được đưa vào - và từ chiến thắng là 'adorkable' (adorable in a socially awkward manner). Vì vậy, không ngạc nhiên khi ngay cả Oxford bao gồm một vài từ mới 'cray cray" (crazy, điên khùng) mỗi năm. Một lợi thế cuối cùng của việc soạn từ điển trực tuyến là các từ đưa vào một cách vội vã có thể dễ dàng được gỡ bỏ.

Sơn Phạm
The Economist

Do you like my laugh?

Sapporo Beer Man. Photo courtesy James Trosh.
One can know a man from his laugh, and if you like a man's laugh before you know anything of him, you may confidently say that he is a good man.
~ Fyodor Dostoyevsky

"Say the word" nghĩa là gì?

Scrap Metal - London Street. Photo courtesy Simon & His Camera.

'Say the word' (shared via VOA) có từ say là nói, và word là chữ hay từ. 'Say the word' là ra dấu hay ra lệnh cho người khác làm một điều gì. Đôi khi thay vì dùng to say, người Mỹ cũng dùng 'to give the word' khi họ muốn ra dấu hiệu cho người khác làm một điều gì.

Ví dụ
It's not far from here, but if you get tired, just say the word and I can carry you!
The minute he says the word, the throne is yours.

Since we broke up (chia tay), my life has been empty (trống trải) without you. You know how much I’ve always loved you. Just say the word and I’ll be back by your side. Call me tonight, please?!

When I give the word, I want all of you to get up out of your seats (ghế ngồi) and quickly head to the exit (lối ra) nearest our classroom. Do not take your books and other belongings (đồ đạc), and do not push anyone on your way out. Is everyone ready? Go!

Những con người làm nên nước Mỹ

shared via bs Hồ Hải.
Bốn vị Tổng thống được tạc tượng, từ trái qua: George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt, Abraham Lincoln. Họ được tạc tượng ở khu Tưởng niệm Quốc gia là một quần thể tác phẩm điêu khắc được tạc vào khối đá granite khổng lồ trên núi Rushmore, gần thành phố Keystone, bang South Dakota, Hoa Kỳ. Toàn thể khu tưởng niệm bao phủ trên diện tích 517 km² và cao 1.745m so với mực nước biển.

Nước Mỹ có được cuộc soán ngôi vị số 1 thế giới từ Vương Quốc Anh là sự góp công lớn không chỉ các chính khách, mà của tất cả mọi con người số 1 nước Mỹ trong tất cả các ngành nghề. Đóng góp đó được hun đúc trong chỉ 5 con người vĩ đại nhất nước Mỹ qua mọi thời đại từ sau ngày nước Mỹ độc lập. Năm con người này được xem là tương đương với 4 vị Tổng thống được xem là nổi tiếng nhất nước Mỹ được khắc ở Khu Tưởng niệm Quốc gia trên núi Rushmore, gần thành phố Keystone, bang South Dakota, Hoa Kỳ. .

Một bộ phim lịch sử Hoa Kỳ gồm 4 tập bắt đầu từ năm 1865 với 5 con người tiên phong vĩ đại làm nên nước Mỹ ngày nay như:
Cornelius Vanderbilt (May 27, 1794 – Jan 4, 1877)
1. Cornelius Vanderbilt, ông cố của Cornelius Vanderbilt là một công dân Hoa Kỳ gốc Hà Lan, có tên họ là, Jan Aertszoon, một nông dân ở làng De Bilt thuộc thành phố Utrecht, của Hà Lan. Ông di cư sang Hoa Kỳ năm 1650, và đổi họ của mình bằng tên làng là Vanderbilt để ngóng tưởng về quê nhà. Đến thế hệ thứ tư thì gia đình Vanderbilot xuất hiện thiên tài Cornelius Vanderbilt - một ông trùm ngành giao thông hàng hải, và là người khai sinh ra ngành đường sắt cho nước Mỹ.

Không có Cornelius Vanderbilt nước Mỹ sẽ không thể có một hệ thống giao thông phân phối vĩ đại nhất hành tinh như ngày nay. Đế chế Cornelius Vanderbilt được xem như là huyết mạch của nền kinh tế Mỹ từ giữa thế kỷ XIX, khi mà cả thế giới còn ngụp lặng trong chủ nghĩa phong kiến, thì Cornelius Vanderbilt đã gây dựng và tài trợ đại học tư nhân lừng danh của mình: Vanderbilt University vào năm 1873. Ngày nay Vanderbilt University luôn nằm trong top 20 của những đại học danh tiếng nước Mỹ, không thua kém bất kỳ Ivy League nào.

John Davison Rockefeller, Sr.
(July 8, 1839 – May 23, 1937)
2. John Davison Rockefeller, Sr.(cha): Ông là người nổi tiếng nhất của gia đình Rockefeller và là nhà đồng sáng lập ra Tập đoàn Standard Oil. Ông trùm dầu hỏa và là người cùng đứng chung với Cornelius Vanderbilt vào hàng ngũ những người giàu có nhất nước Mỹ. Ngành dầu khí Hoa Kỳ có được ngày nay là từ ông và gia đình Rockefeller - một gia tộc Đức di dân đến Hoa Kỳ. Bốn mươi năm cuối đời, John Davisson Rockefeller Sr. chỉ dành cho việc làm từ thiện cùng với ông trùm Andrew Carnegie.

Ông Rockefeller cũng là nhà tài trợ và khai sinh ra các đại học Hoa Kỳ như, Rockefeller University và University of Chicago lừng danh thế giới luôn nằm top 10 của Hoa Kỳ và thế giới, và University of Chicago cũng là trường đại học danh tiếng của Mỹ đầu tiên có nhà khoa học nhận giải Nobel đầu tiên năm 1907, khi giải này mới ra đời. Ngoài ra ông còn là nhà sáng lập ra Central Philippine University để giúp đỡ cho đất nước Phi Luật Tân khốn khổ. Việc gia đình Rockefeller chăm lo giáo dục và làm từ thiện là do tác động lớn của Andrew Carnegie, mà chúng ta sẽ biết sau đây.


Andrew Carnegie (Nov 25, 1835 – Aug 11, 1919)
3. Andrew Carnegie: Có thể nói không ngoa là, Andrew Carnegie là cha đẻ ngành công nghệ thép Hoa Kỳ. Nhưng cái vĩ đại nhất của Andrew Carnegie là, ông chính là cha đẻ của lòng nhân từ, tấm gương chói lọi của nhân loại nói chung, và Hoa Kỳ nói riêng, được xem là người khai sinh ra những tổ chức từ thiện cho nước Mỹ từ thế kỳ XIX, và cho toàn cầu sau này. Carnegie sinh ra ở Dunfermline, Scotland vào năm 1835, khi lên 13, ông cùng mẹ di cư sang Hoa Kỳ trong hoàn cảnh rất nghèo, và mồ côi cha. Bắt đầu bằng một chân điện tín viên trong bưu điện, và tìm hiểu đầu tư tài chính vào ngành hỏa xa, ông đã nổi lên như một ngôi sao sáng khi thành lập Công ty thép Carnegie, ở Pittsburgh, để phục vụ cho công nghiệp, mà sau đó ông bán cho J.P Morgan vào năm 1901 với giá 487 triệu USD (tương đương với khoảng 13.6 tỷ đô la vào năm 2013), rồi cùng với J.P Morgan, ông thành lập Tổng công ty thép Hoa Kỳ, và bao nhiêu đầu tư ở các ngành khác.

Vào năm 1889, khi ông ở tuổi 54, ông nổi tiếng với bài diễn văn: "The Gospel of Wealth" - Nguyên lý của Sự Thịnh Vượng. Trong bài phát biểu này, ông kêu gọi những nhà giàu của Hoa Kỳ hãy làm từ thiện. Từ thiện là gốc rễ của sự thịnh vượng cho cả nhân cách của mỗi người dân Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, mà còn là nguyên lý cho một Hoa Kỳ sẽ là cường quốc số 1 thế giới trong tương lai. 90% tài sản của ông đã hiến cho các tổ chức từ thiện, công trình quốc gia và trường đại học nổi tiếng của ông gầy dựng năm 1900 từ một trường kỹ thuật phục vụ cho công nghệ thép của ông, Carnegie Technical School, mà sau đó, 1912 trở thành Carnegie Mellon University danh tiếng toàn cầu, luôn nằm trong top 30 của các đại học Hoa Kỳ.

Andrew Carnegie được mệnh danh là: Người cứu rổi tinh thần cho nước Mỹ - "Save my Soul".

4. John Pierpont "J. P." Morgan: Ông là hiện thân người di dân Do Thái có thiên bẩm về tài
John Pierpont "J. P." Morgan (Apr 17, 1837 – Mar 31, 1913)
chính ngân hàng. Ông là thế hệ đầu tiên - được xem là cha đẻ - của nước Mỹ về ngành tài chính ngân hàng. Tập đoàn J.P Morgan của ông ngày nay vẫn còn hùng mạnh, và là một trong những tập đoàn tài chính tư nhân hàng đầu thế giới. Sinh ra và lớn lên ở Connecticut, Hoa Kỳ. Ông được cha mình chuẩn bị cho việc học tập ở nhiều quốc gia: Hoa Kỳ, Ý, Đức và Anh, để trở thành một ông chủ tài chính ngân hàng. Và ông đã làm được điều đó xuất sắc, khi nhận lại Công ty JS Morgan & Co của cha mình qua đời để lại vào năm 1900.

Từ GS Morgan & Co, ông đã biến nó trở thành Tập đoàn J.P Morgan lừng lẫy toàn cầu ngày nay. Ông được xem là một thế hệ kế thừa cho những thế hệ tài phiệt già nua như Andrew Carnegie đã lỗi thời với câu nói nổi tiếng của người dân Mỹ: "When one ends another begins" - Khi một thế hệ kết thúc thì có thế hệ khác kế thừa - nước Mỹ là thế. Cuối đời, ông cũng nghe theo lời của Andrew Carnegie đi làm từ thiện. Và ông mất ở tuổi 75 tại Ý trong một giấc ngủ.


Henry Ford (Jul 30, 1863 – Apr 7, 1947)
5. Henry Ford: Ông là đứa con mang hai dòng máu Ireland của cha, và Anh quốc của mẹ. Ông được sinh ra tại trang trại ở Greenfield Township, Michigan. Ông được xem là nhà cách mạng về đưa mô hình sản xuất dây chuyền Taylor, và quảng cáo, mở chi nhánh hãng Ford đi khắp nơi, vào ngành công nghiệp xe hơi nói riêng và công nghệ sản xuất, quảng cáo nói chung. Mô hình T ôtô của ông cũng làm một cuộc cách mạng trong sản xuất xe hơi tiện dụng, khi ông đưa ra tay lái xe hơi phải nằm bên tay trái của xe. Với tư tưởng cải cách sản xuất của ông, có thể xem ông là cha đẻ của việc mang những ứng dụng khoa học kỹ thuật tân tiến đến người bình dân trên toàn cầu.

Có ông, với Học thuyết Ford - Fordism - thế giới đã xích lại gần nhau hơn trong khoảng cách giàu nghèo. Vì không chỉ có đưa xe hơi đến người tiêu dùng bình dân với giá rẻ, mà ông còn đưa ra ý tưởng: phải trả lương công nhân cao, và bán cổ đông cho người làm thuê, để họ ý thức được nhà máy, công xưởng chính là của mình. Nó đã góp phần thúc đẩy Hoa Kỳ vươn lên thành siêu cường số 1 thế giới, và con người sống với con người nhân bản hơn.

Sau đây là 4 tập phim:
Bốn tập phim kéo dài khoảng 6 giờ phiêu lưu với lịch sử phát triển nước Mỹ cùng 5 vĩ nhân của nước Mỹ trong các lĩnh vực công nghiệp đến giao thông vận tải, dầu khí, sắt thép và tài chính toàn cầu sẽ cho ta thấy nước Mỹ thật vĩ đại không chỉ là một Tân thế giới về nhân quyền mà còn là vùng đất của mọi ý tưởng và cơ hội.
-----
Rockefeller, Vanderbilt, Carnegie, Astor, Ford and Morgan. Their names are part of history and synonymous with the American dream. These men transformed every industry they touched: oil, rail, steel, shipping, automobiles, and finance. Their efforts transformed a country. Rising from poverty, their paths crossed repeatedly as they elected presidents, set economic policies and influenced major events of their day - from the Civil War to The Great Depression. 12 million historical negatives, many made available for the first time by the Library of Congress, are brought to life to offer an unprecedented view of America's Industrial Age – and the men who built it.

The Men Who Built America
(The Series contains 4 episodes)
Production: History Channel

Episode 1

Episode 2

Episode 3

Episode 4