Journey in Life: 11/06/14

Search This Blog

Thursday, November 6, 2014

Căn bệnh Hà Lan là gì?

Huntington Beach Trip - Aug 2014 - Sunset over the oil rig. Photo courtesy Pete Markham.

Năm nay, đồng rúp của Nga bị mất giá 25%, điều này nghe có vẻ khủng khiếp và thực sự khiến nước Nga gặp nhiều vấn đề. Tuy nhiên, một số nhà kinh tế cho rằng, đồng rúp yếu lại có thể là tốt đối với Nga vì "căn bệnh Hà Lan" gần đây của nước này. Chính xác thì "căn bệnh Hà Lan" là gì vậy?

Tạp chí The Economist đặt ra (coin) thuật ngữ này năm 1977 để mô tả những tai ương (woe) của nền kinh tế Hà Lan khi trữ lượng khí đốt lớn được phát hiện năm 1959. Xuất khẩu của Hà Lan tăng vọt. Tuy nhiên, tạp chí nhận thấy có sự tương phản giữa 'sức khỏe bên ngoài và bệnh tật (ailment) bên trong'. Từ năm 1970 tới 1977, tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 1,1% đến 5,1%. Đầu tư của doanh nghiệp giảm mạnh (tumble). Tạp chí giải thích nguyên nhân là do giá trị cao của đồng tiền Hà Lan lúc đó - đồng guilder. Xuất khẩu khí đốt dẫn đến nguồn ngoại tệ chảy vào (influx), làm tăng cầu đối với đồng guilder và do đó khiến nó tăng giá. Điều đó khiến các khu vực khác của nền kinh tế trở nên kém cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Đây cũng không phải vấn đề duy nhất. Khai thác khí đã (và đang) là ngành kinh doanh thâm dụng vốn, tạo ra ít việc làm. Và trong nỗ lực hạn chế đồng guilder tăng giá quá nhanh, Hà Lan buộc phải giữ lãi suất thấp. Điều này khiến đầu tư chạy khỏi (rush out) đất nước, hạn chế (crimp) các tiềm năng kinh tế tương lai.

Kể từ bài báo đó, các nhà kinh tế đã đưa ra các hiệu ứng khác của "căn bệnh Hà Lan". Một nghiên cứu nổi tiếng được công bố năm năm sau đã xác định các nguyên nhân khác mà bùng nổ tài nguyên thiên nhiên gây ra rắc rối kinh tế. Giả sử đồng nội tệ của một nước là cố định. Ngoại tệ chảy vào, được đổi sang nội tệ, và được chi cho các hàng hóa không thể được buôn bán qua biên giới (xây dựng, các loại dịch vụ nhất định v.v...). Khi ngoại tệ được đổi sang nội tệ, cung tiền tăng: nhu cầu trong nước tăng thêm đẩy giá cả lên cao. Theo thuật ngữ (jargon) kinh tế, điều này dẫn đến sự tăng tỷ giá hối đoái "thực": một đơn vị ngoại tệ mua được ít dịch vụ hơn trong nền kinh tế nội địa so với trước. Đất nước mất khả năng cạnh tranh.

Một số nhà kinh tế phản đối rằng căn bệnh Hà Lan không có gì xấu. Không phải là các nền kinh tế nên tập trung sản xuất những gì họ hiệu quả nhất sao? Tuy nhiên, giá cả tài nguyên thiên nhiên (thương phẩm/commodity) luôn biến động (fluctuate): hầu hết các nền kinh tế cần những ngành công nghiệp dự phòng (back-up). Các nước giàu tài nguyên thiên nhiên thường gặp khó khăn (struggle): thực sự, một nghiên cứu cho thấy 97 nước đang phát triển với tỷ lệ xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên trên GDP cao, có tốc độ tăng trưởng thấp thập kỉ 1970 và 1980. Và khi tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt (run out), sẽ hầu như chẳng còn gì để duy trì nền kinh tế. Ví dụ như Nauru, nước từng dựa gần như hoàn toàn vào phosphate (nguyên liệu phân bón được săn lùng). Nước Nga có lí do để lo lắng: xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt chiếm 70% kim ngạch xuất khẩu hàng năm của Nga và 52% ngân sách liên bang. Trừ khi các nước giàu tài nguyên thiên nhiên sử dụng sự thịnh vượng (fortune) của mình để đa dạng hóa nền kinh tế, hoặc có cách hạ tỷ giá thực xuống - căn bệnh Hà Lan thực sự gây tai họa (fatal).

Sơn Phạm
The Economist

"A love-in" nghĩa là gì?

Those without shadows. Photo courtesy Robert Huffstutter.

'A love-in' là một tình huống mà hai hay nhiều người ca ngợi nhau rất nhiều, nhất là khi những lời khen ngợi vượt quá những gì họ xứng đáng.

Ví dụ
The awards ceremony, as usual, was a love-in.

The final word on the stellar (ưu tú, như một ngôi sao) career of Derek Jeter came at Fenway Park on Sunday where baseball's fiercest rivalry (sự kình địch) turned into a love-in with the Boston Red Sox bidding the New York Yankees captain a fond (trìu mến) farewell (lời tạm biệt).

The next time was May 22, 2013, when I was a guest on Ghomeshi’s show during a live broadcast in Victoria. The show was a love-in for the radio star, and as I observed him being fawned (bợ đỡ, nịnh hót) over — both onstage and backstage — it occurred to me that this non-stop adulation (nịnh nọt) had been going on pretty much non-stop for decades. Once again, he was in his element, thriving on the flattery (lời tâng bốc).

Ever get the feeling that modern music is money-grubbing (lang thang kiếm ăn lần hồi), corporate and commodified? I certainly do; which is why Saturday’s show at a packed-out (đông đúc) Jericho Tavern was such a thrill – not only to us in the audience, but those on stage too. The antidote (thuốc giải độc) to all that is wrong with the mainstream music industry, this was live music as it should be: a love-in of serendipitous (khả năng cầu may) delights.

Phạm Hạnh

Popular Now