Journey in Life: 05/09/15

Search This Blog

Saturday, May 9, 2015

"Thin-skinned" nghĩa là gì?

'Thin-skinned' (da mỏng) nghĩa là dễ mếch lòng, dễ chạm tự ái (sensitive to criticism or insults / hypersensitive, easily offended, easily hurt, touchy, defensive), đối nghĩa với "mặt dày".

Ví dụ
The Curmudgeon: thin-skinned artists.

National Post View: The thin-skinned blue line.

Hillary Clinton can't afford to be thin-skinned on sexism.

He sees thin-skinned public officials (quan chức) using their authority (thẩm quyền) to silence (làm câm lặng, bịt miệng) citizens when they don't like what they're saying.

Phạm Hạnh

"Dish it out but can’t take it" nghĩa là gì?

'Dish it out but can’t take it' nghĩa là chê bai xa xả trong khi chính mình cũng không chịu được cái lối chê bai ấy (someone easily criticizes other people but does not like it when other people criticize him or her).

Ví dụ
'He can dish it out but he can't take it': David Cameron accuses Ed Balls of being a bully (kẻ hay bắt nạt, kẻ côn đồ) in benefits rise row.

He likes to dish it out but can't take it - that's some chump (thằng đần) shit. All of the energy put into making excuses afterward is just sad. Man the fuck up!

You may be wondering how it is that I, who have written derisive (chế giễu) and destructive reviews of books I considered not good, who have taken pains to make public, in as amusing a way as possible, the inferior qualities of this or that author, can be so terribly thin-skinned (dễ mếch lòng, dễ chạm tự ái). Is it the case, you ask shrewdly, that I can dish it out but can’t take it?

Phạm Hạnh

"Dish out" nghĩa là gì?

Former schoolteacher Michael Greller caddied for Jordan Spieth as he secured his maiden Major title. Photograph: Getty.

'Dish out' = dispense freely: nghĩa là vung ra (tiền bạc, lời khen, lời chê bai, lời khuyên v.v...)

Ví dụ
Taste of Tribeca chefs dish out cooking tips.

Mystery writers dish out their favorite recipes.

Conservative fathers dish out ‘Dadly Virtues’.

Former schoolteacher caddy helps Spieth dish out golfing lesson.

Could a computer not do an equally good job dishing out standardised guidance on how much they should invest respectively in shares, bonds and other assets?

Phạm Hạnh

"Throw everything against the wall to see what sticks" nghĩa là gì?

Photo by Alex Holyoake on Unsplash.

'Throw everything against the wall to see what sticks' nghĩa là thử các cách khác nhau xem cách nào thành công; cụm từ này là biến thể của câu 'throw enough mud at the wall, some of it will stick' = ném thật nhiều bùn vào tường, thể nào cũng có miếng dính lên tường, trong nghĩa cứ nói dối mãi rồi cũng có người tin, như điển tích "Tăng Sâm giết người" của Trung Hoa.

Ví dụ
Google is known for throwing things against the wall to see what sticks, but the company also wants to be clear that it's not all skateboarding* and keg stands**.

The trend is for notebook and tablet manufacturers to throw everything against the wall to see what sticks. As a result, the hybrid market is booming, and we've seen a slew of tablets that do a great impression of a notebook, and vice versa.

All that is needed, blockchain boosters argue, is a “killer app” to find a use for the breakthrough, in the same way that web browsers made the internet useful. Some still think that a currency is the most promising application, but plenty of engineers are throwing other ideas against the wall to see what sticks.

Phạm Hạnh

Bài trước: "HENRYs" nghĩa là gì?

* Something you should do for fun, not for your image!
** A keg stand is a drinking game where the participant does a handstand on a keg of beer and attempts to drink as much as possible at once or to drink for as long as possible: trò chơi uống bia mà một người chống 2 tay lên thùng bia và uống càng nhiều càng tốt hoặc càng lâu càng tốt. 

Cả 2 từ này ý nói, Google đầu tư có mục đích chứ không phải toàn dự án cho vui.

"HENRYs" nghĩa là gì?

HENRY = high earner, not rich yet, có nghĩa là người có thu nhập cao, nhưng chưa giàu.

Ví dụ
Meet the HENRYs, High-Earners-Not-Rich-Yet consumers with household incomes between $100k and $250k. HENRYs are the new face of the mass-market customer, since the traditional middle-class ($50k-$99.9k) have lost so much discretionary (tùy nghi sử dụng, linh hoạt) spending power in the recent recession (suy thoái).

There are only two things I like about April 15: occasional (dịp đặc biệt) cherry blossoms and the fact that on April 16 I always write a contract (ký hợp đồng) with a certain type of buyer who, having just become a HENRY (high earner, not rich yet), has gotten terrible news from his or her accountant. Seems Uncle Sam wants a larger piece of their larger income, which first sparks the idea of shelter as tax-shelter (mánh lới trốn thuế).

SoFi has carved out (tạo ra) a niche (thị trường ngách) pitching credit to what the industry calls HENRYs: High Earners, Not Rich Yet. It built a franchise refinancing student loans for asset-poor but high-potential graduates of top universities, whom it sees as good credit risks. Those loans run to around $75,000, against the $10,000-$15,000 more typical on other platforms.

Phạm Hạnh

"The alternative society" nghĩa là gì?

Quá là lập dị. Photo courtesy Anis Bajrektarevic, Google.

'The alternative society' nghĩa là những kẻ thích sống lập dị, cộng đồng khác người, xã hội khác thường.

Ví dụ
Perhaps they can raise a nostalgic (luyến tiếc quá khứ, hoài cổ) cheer for Felix Dennis, who saw the alternative society as an illusion (ảo tưởng), and rejoined the world as it is and always will be.

On February 20 1985 the alternative society was broken up and the demolition team (đội phá dỡ) moved in. Today it is a quiet street with a mix of council and private-owned properties.

The western leftists involved in the student uprisings (biểu tình sinh viên) of the late 1960s were idealistically counting on the DDR. When the wall fell, they thought it marked the start of the revolution (cuộc cách mạng). After sudden and confusing ‘reunification,’ (thống nhất) they complained: ‘But why did you sacrifice (hi sinh) the alternative society?’

Phạm Hạnh

"A mutual admiration society" nghĩa là gì?

Jeb Bush và Pitbull khen lẫn nhau. Photo courtesy newsmax.

'A mutual admiration society' có từ mutual là (tình cảm, hành động) người này đối với người kia lẫn nhau và admiration là sự thán phục, hâm mộ; và vì thế cụm từ này nghĩa là tình huống trong đó hai hay nhiều người công khai khâm phục nhau; sự tâng bốc lẫn nhau.

Ví dụ
It seems the five formed a mutual admiration society.

A mutual admiration society formed in the interview room afterward.

An unlikely mutual admiration society has sprung up between former Florida Gov. Jeb Bush and hard-partying rapper Pitbull. And one of Bush's opponents for the 2016 Republican nomination, Sen. Marco Rubio of Florida, may be getting jealous.

Over time the two started a mutual admiration society. The King even had a secret nickname for Jones: “Sock-dick,” because he believed that Jones stuffed his underwear with a sock (chiếc tất) to get that impressive (ấn tượng) bulge (chỗ lồi).

Phạm Hạnh

"Test the waters" nghĩa là gì?

Photo by Karla Alexander on Unsplash.

'Test the waters' có nghĩa là thử, cố gắng làm một điều gì mới (to try something new), dựa trên nghĩa đen của cụm từ thò chân xuống nước để xem nước có lạnh không (to put your toe into water to see how cold it is), hay ném đá xuống nước để xem sâu bao nhiêu...; dò đá qua sông...

Ví dụ
Chinese students test the waters of free speech (tự do ngôn luận).

The FAA and CNN are teaming up to test the waters with drones (thiết bị bay không người lái).

Are you really going to find an untapped (chưa khai thác) market in there? Test the waters or make costly mistakes before your competitors do!

China could be "testing the waters" to see if it can enforce an air exclusion zone above the Spratly archipelago of the South China Sea, said the air force official, who declined to be identified.

Phạm Hạnh

"Taishi kangyi" nghĩa là gì?

"Taishi kangyi" = "carrying the corpse to protest" (a practice with deep roots in Chinese history), nghĩa là "mang quan tài diễu phố" (để biểu tình).
Since late imperial times, people have employed it when judicial systems failed to provide a reliable channel of redress.

It continues today, when corpses (tử thi) are dragged into all manner of disputes involving medical malpractice (bác sĩ vô trách nhiệm khiến bệnh nhân tử vong), forced housing demolitions (cưỡng chế nhà, "giải phóng" mặt bằng), vendor tussles (công an thuê côn đồ đuổi đánh bán hàng rong) with local law enforcement, and compensation for workplace accidents (tai nạn lao động tại công trường, sập giàn giáo v.v...).

When an accidental death occurs, citizens use the corpse to draw attention (thu hút sự chú ý) and invite sympathy (cảm thông, đồng tình) from the wider public (dân chúng), all in an effort to pressure authorities (gây sức ép với chính quyền) to render (đưa ra) a just outcome (phán quyết công bằng).

Tình yêu thì mù quáng

Love is blind but marriage is a real eye opener.
~ Unknown

Tình yêu thì mù quáng nhưng hôn nhân làm người ta sáng mắt ra...

Previous post: Love your wives well

"To say the least" nghĩa là gì?

'To say the least' nghĩa là nói vừa phải, không quá cường điệu vấn đề, chủ đề nào đó.

Ví dụ
Traffic in Jeddah is nightmarish (ác mộng) to say the least.

Turkey's current steps and reactions (phản ứng) at the latest developments (tiến triển gần đây nhất), to say the least, are not adequate (chưa thích đáng).

Sony's mobile business is struggling (khó khăn, vật lộn), to say the least.

In June 2005, everything changed. Iran held a presidential election. The process was suspicious (đáng ngờ), to say the least. The Council of Guardians, a handful of senior Islamic clerics (giáo sĩ), decided who was on the ballot. The clerics used the Basij Corps, a militia-like unit of the Iranian Revolutionary Guard Corps (Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran), to manage turnout (cử tri đi bầu) and influence the vote. Tehran Mayor Mahmoud Ahmadinejad was declared the winner. Not surprisingly (chẳng có gì đáng ngạc nhiên), he had strong support from the Basij.

Especially given the disappointing results, and after Armistice Day (ngày đình chiến), rumors (tin đồn) circulated constantly (không ngừng) about who might succeed Kelly. One persistent theory was that Trump would select Nick Ayers, Pence’s Chief of Staff (chánh văn phòng). It was unusual, to say the least, to move from working for the VP to working for the President, but Jim Baker had gone from being George H. W. Bush’s campaign manager in 1980 to being Reagan’s White House Chief of Staff. Ayers’s political skills made him a logical choice, if Kelly decided to leave, for a President looking toward a reelection campaign, but the real question was whether Ayers wanted it.

Phạm Hạnh

Thế lực Canh Nông Nhật Bản

by Nguyễn Xuân Nghĩa, shared via Dainamax Tribune.
- Nói về bối cảnh, kinh tế Nhật đã sa sút trong hơn hai chục năm qua vì nhiều yếu tố, kể cả nạn lão hóa dân số trong một xã hội xơ cứng. Sau khi tái đắc cử cuối năm 2012 và còn thắng lớn trong cuộc bầu cử cuối năm ngoái, Thủ tướng Shinzo Abe đã tiến hành kế hoạch cải cách rộng lớn về kinh tế xã hội, thường được gọi là "kinh tế của ông Abe" hay "Abenomics". Kế hoạch ấy gồm có ba bước táo bạo, được gọi là "ba mũi tên" của Abe. Đó là thứ nhất, kích thích kinh tế bằng biện pháp ngân sách; thứ hai là để ngân hàng trung ương ào ạt bơm tiền qua biện pháp nâng mức lưu hoạt có định lượng và thật ra còn định phẩm nữa khi ào ạt mua trái phiếu.

- Hai chương trình ấy tương đối thành công và phần nào cải thiện được nền kinh tế nên mới tạo cái trớn để ông Abe tung ra mũi tên thứ ba, là cải cách cơ cấu từ căn bản nhằm khuyến khích đầu tư, tăng sức cạnh tranh nhờ năng suất, nâng mức tham gia vào thị trường lao động, kể cả phụ nữ. Đấy mới là chương trình khó khăn nhất vì gặp cản trở từ nhiều thế lực kinh tế, xã hội và chính trị. Khi quyết định tham gia Hiệp ước Xuyên Thái bình dương TPP, ông Abe cũng mong rằng lợi ích và cả sự cam kết của Nhật với các nền kinh tế khác sẽ giúp ông vượt qua những chướng ngại này.

- Từ bối cảnh ấy, chúng ta mới hiểu ra tầm quan trọng của Hiệp định TPP khi Nhật phải giải phóng khu vực nông nghiệp, cho nhập khẩu nông sản và lương thực, và đụng vào quyền lợi của các thế lực chính trị cấu kết với nông gia để bảo vệ khu vực canh nông của họ.

- Nước Nhật khá tiên tiến thật ra có khu vực nông nghiệp lạc hậu và sa sút từ hơn hai chục năm qua. Nông nghiệp Nhật chỉ đóng góp có 1% vào tổng sản lượng, sử dụng lực lao động bị lão hóa với tuổi thọ bình quân tại nông thôn là 66 tuổi, mà hơn 70% nông gia lại chỉ canh tác bán thời chứ không toàn thời, với năng suất thấp trên các nông trại nhỏ, có diện tích trung bình khoảng hai mẫu tây thôi. Nhưng thành phần này lại có thế lực chính trị rất mạnh, nhất là trong đảng Tự do Dân chủ, thường gọi tắt là đảng LDP, là đảng cầm quyền khá lâu từ sau Thế chiến II.

- Nhờ thế lực đó, họ bảo vệ năm ngành sản xuất là gạo, mì, bò gà, sữa và đường bằng hàng rào quan thuế rất cao. Như thuế quan về gạo Nhật lên tới 778%, là loại cao nhất thế giới, và dân Nhật gặp cảnh "gạo châu củi quế" trong nghĩa đen để nâng đỡ nông gia cao niên ở nhà. Chẳng những vậy, các thế lực chính trị hậu thuẫn nông gia còn trợ cấp việc không trồng lúa và để nhiều thửa ruộng trống nhằm bảo vệ lợi tức của nông dân nhờ giá cao.

- Trước hết, nhỏ và yếu nhất là hệ thống thư lại trong Bộ Nông Lâm Ngư Nghiệp. Thành phần này cấu kết với doanh gia và chính trị để có thể cản trở hay trì hoãn chính sách của các Tổng bộ trưởng chỉ cầm quyền trong từng giai đoạn ngắn hạn. Đây là hiện tượng khá phổ biến trong và ngoài lĩnh vực canh nông. Nhưng Nhật Bản còn có thế lực nông nghiệp mạnh hơn tất cả các nước dân chủ Âu-Mỹ, có lẽ cũng mạnh như các tập đoàn kinh tế nhà nước của các nước độc tài như Trung Quốc hay Việt Nam.

- Mạng lưới vận động của họ là một hệ thống phức tạp được xây dựng từ dưới lên, từ hợp tác xã tại địa phương lên tới cấp quận huyện. Trên cùng là một tổ chức có tên là "Toàn quốc Nông nghiệp Hiệp đồng Tổ hợp Trung ương hội", gọi tắt là "Toàn Trung" hay Zenchu theo tiếng Nhật. Hội viên ở dưới có gần 10 triệu người, tức là khoảng 10% của những người ở tuổi đi bầu. Bên trong, có gần năm triệu là hội viên chính thức và hơn bốn triệu là "hội viên hợp tác", tức là những người không sinh sống bằng nghề nông. Mười triệu người đó lập ra gần 700 hợp tác xã dưới cơ sở và từng bước liên kết với nhau đến thượng tầng là tổ chức Toàn Trung hay Zenchu mình vừa nói.

- Từ dưới cơ sở thì họ ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực sinh hoạt ở nông thôn và qua đó thì có thể khuyến khích người dân trong bầu cử và thường thì bầu cho giới dân cử của đảng Tự do Dân chủ, ít ra là cho đến những năm gần đây. Nhưng ngoài bộ máy Zenchu rất có thực lực trên thượng tầng, thế lực nông gia Nhật còn ba tổ chức đáng gọi là kinh tài với nhiều phương tiện có khả năng tác động vào kinh tế.

- Đó là "Nông nghiệp Trung ương khố" hay Ngân hàng Norinchukin, với tài sản 840 tỷ đô la gồm hơn 400 tỷ là tích sản đầu tư. Là ngân hàng lập ra từ năm 1928 để tài trợ các hợp tác xã, tổ chức này là tập đoàn đầu tư loại lớn của Nhật với 300 nhân viên tốt nghiệp Cao học từ những trường có uy tín nhất và có thể tung tiền vận động các giải pháp chính trị có lợi. Tổ chức thứ hai là tập đoàn bảo hiểm lập ra từ 1951, tên là "Toàn quốc Cộng tế Nông nghiệp Hiệp đồng Tổ hợp Vận hợp hội", thường được gọi tắt là Cộng Tế hay ZENKYOREN, nổi tiếng là lấy tiền bảo phí rất thấp. Như mọi doanh nghiệp bảo hiểm, ZENKYOREN cũng là cơ sở đầu tư có ảnh hưởng trong kinh tế.

- Tổ chức thứ ba là Toàn Nông hay ZEN-NOH, từ tên thật là "Toàn quốc Nông nghiệp Hiệp đồng Tổ hợp Vận động hội". Đấy là doanh nghiệp phụ trách tiếp thị phân phối, tiếp liệu và nhập khẩu thuộc loại lớn nhất thế giới các mặt hàng cho canh nông, như thực phẩm cho gia súc hay phân bón. Ngoài việc phân phối đến 70% các loại phân bón hóa học tại Nhật, tổ chức ZEN-NOH còn sản xuất ra nhiều loại nông cơ, nông cụ, nhất là máy cầy máy kéo.

- Với phương tiện dồi dào và hệ thống vận động tỏa tộng, tổ chức Zenchu ở trên có vai trò tư vấn cho Bộ Nông Lâm Ngư Nghiệp về chính sách. Ở dưới thì các cơ sở đưa tiền và người đi tranh cử cho các ứng cử viên ủng hộ chủ trương của họ, đa số là đảng viên đảng Tự do Dân chủ, hoặc chống lại các ứng viên có quan điểm bất lợi cho họ. Nhìn lại thì nếu thế lực công nghiệp và tài chính cấu kết trong hệ thống Keiretsu nổi tiếng của Nhật Bản đang chuyển hướng và thiên về giải pháp tự do thương mại để cạnh tranh trên trường quốc tế qua Hiệp ước TPP thì thế lực nông nghiệp lại muốn cưỡng chống.

- Đấy mới là vấn đề rất đáng theo dõi. Cách nay đúng một năm, Hội đồng Cải cách Cơ chế trong Nội các của Thủ tướng Abe đề nghị nhiều biện pháp tuần tự trong đạo luật về Hợp tác xã Nông nghiệp để giảm trừ ảnh hưởng và tiền tài của thế lực nông nghiệp. Đề nghị thứ nhất là bỏ quy chế đặc biệt của tổ chức Toàn Trung hay Zenchu để trở thành một công ty bất vụ lợi thông thường. Đề nghị thứ hai là bãi bỏ quy chế hợp tác xã của tổ chức Toàn Nông hay ZEN-NOH để thành một công ty cổ phần sẽ bị thuế suất nặng hơn. Đề nghị thứ ba là ra luật lệ ngăn cấm những ai ở ngoài lĩnh vực canh nông được sinh hoạt trong các tổ chức vận động nông nghiệp. Tất nhiên, tổ chức Toàn Trung Zenchu đã mở chiến dịch trong Chính quyền và Hạ viện Nhật để đòi trì hoãn và cho họ có quyền chuyển hướng vào thời điểm mà họ thấy là thuận tiện.

- Trong cả năm, nhiều trận đánh phức tạp ấy dẫn đến sự thỏa hiệp giữa đôi bên trong dự luật về Hợp tác xã Nông nghiệp. Các thế lực nông nghiệp đồng ý là Zenchu sẽ thành công ty bất vụ lợi từ năm 2018 và bị đánh thuế như mọi công ty khác. Zenchu cũng hết được tự tiện trưng thu các ngân khoản miễn thuế từ các hợp tác xã và từ các mạng lưới vận động vào bộ Nông ngư nghiệp. Sổ sách các hợp tác xã ở dưới có thể bị giám sát bởi mọi kế toán viên hữu thệ. Và tổ chức NEN-NOH sẽ là một công ty cổ phần bị đóng thuế và mất độc quyền định giá các sản phẩm mua bán.

- Ngược lại, Chính quyền Abe tạm chấp nhận cho tổ chức Zenchu vẫn kiểm soát hai trung tâm kinh tài giàu nhất là Ngân hàng Norinchukin và tập đoàn bảo hiểm Zenkyoren và gia hạn năm năm cho việc cắt đứt quan hệ giữa những người không phải là nông gia với thế lực nông nghiệp. Sự thỏa hiệp ấy có nghĩa là trong năm năm tới, thế lực nông nghiệp của Nhật vẫn còn rất mạnh và sẽ còn tác động vào chính sách kinh tế Nhật Bản.

- Cho tới nay thì thế lực nông nghiệp Nhật vẫn còn muốn chống hiệp ước TPP nhưng có ảnh hưởng yếu dần trước sự xoay chuyển của cả xã hội Nhật. Về dài là trong năm năm tới, các nông trại của Nhật sẽ thoát dần khỏi sự can thiệp của trung ương ở trên để khai thác thêm đất canh tác và áp dụng kỹ thuật hiện đại hơn. Sau đó thì người ta mới có thể nói đến chuyện cạnh tranh. Từ nay đến đó thì chính trường Nhật vẫn bị các thế lực nông nghiệp chi phối trong một nỗ lực chuyển hướng khá chậm rãi.

Chính sách hỗ trợ nông nghiệp của Mỹ

by Nhật Hạ, shared via Đại Kỷ Nguyên.
Nước Mỹ có ngành nông nghiệp tân tiến, hiện đại nhất thế giới. Lao động nông nghiệp chiếm khoảng 1% trong tổng dân số 322 triệu người. Nếu tính dưới góc độ lực lượng lao động thì lao động ngành nông nghiệp của Mỹ chỉ chiếm 0,7% tổng số lực lượng lao động của toàn nước Mỹ tính đến thời điểm năm 2014 (với 155.421.000 người).

Diện tích nước Mỹ là 9,161,923 km2, trong đó diện tích đất có thể canh tác được chiếm 18,1%. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tháng 02/2014, Mỹ có 2,109,363 tổng số nông trại, trung bình mỗi trại có diện tích 174 héc ta.

Năm 2012, tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp đạt 394.6 tỷ đô la Mỹ, tăng 33% so với năm 2007, trong đó giá trị các sản phẩm trồng trọt là 219.6 tỷ đô la, giá trị sản phẩm chăn nuôi đạt 171.7 tỷ đô la.

Xuất nhập khẩu nông sản, Mỹ là nước dẫn đầu thế giới, ước tính chiếm 18% thị phần thương mại nông sản của toàn cầu.Từ năm 1960 đến năm 2014, Mỹ luôn thặng dư về thương mai các sản phẩm nông nghiệp, ví dụ như xuất khẩu nông sản năm năm 2014 ước tính đạt 149.5 tỷ đô la, chiếm hơn 10% tổng số kim ngạch xuất khẩu tất cả các mặt hàng và thặng dư mậu dịch nông nghiệp lên đến hơn 38.5 tỷ đô la Mỹ.

Chính sách hỗ trợ nông nghiệp của chính phủ Mỹ
Các chính sách ủng hộ việc phát triển nông nghiệp của chính phủ Mỹ đã làm nên sự thành công của ngành nông nghiệp Mỹ. Ngay từ thời kỳ đầu, Chính phủ đã ban hành luật đất đai vào năm 1862 quy định phát không đất đai cho những người đến sống và làm việc trên các mảnh đất trống tại miền Tây nước Mỹ, tạo điều kiện cho một số nông dân được định cư, lập nghiệp dễ dàng.

Vào năm 1914, Quốc hội Mỹ đã lập ra cơ quan Dịch vụ phát triển nông nghiệp, cơ quan này tuyển dụng đội ngũ cán bộ để cố vấn cho các hộ nông dân từ bước sử dụng phân bón cho đến các khâu sau của quy trình sản xuất nông nghiệp. Bộ Nông nghiệp đảm nhiệm tiến hành các nghiên cứu mới, cho ra đời những loại phân bón làm tăng sản lượng hạt, các loại giống lai cho cây trồng khoẻ hơn, các phương pháp chữa trị nhằm bảo vệ và cứu chữa cây trồng vật nuôi chống được bệnh tật, và nhiều phương pháp khác kiểm soát các loài vật gây hại.

Vào năm 1929, tổng thống Herbert Hoover thành lập ban nông nghiệp liên bang nhằm bảo đảm sự ổn định kinh tế cho nông dân. Năm 1933, Tổng thống Franklin D. Roosevelt cho phép thực hiện một hệ thống trợ giá cho nông dân một mức giá gần bằng giá lúc thị trường ở điều kiện ổn định bình thường. Đồng thời, trong khoảng thời gian từ 1933 đến 1996, chính phủ cho nông dân vay tiền canh tác, nông dân có quyền trả nợ theo giá quy định trong hợp đồng. Cụ thể là vào những thời điểm sản xuất dư thừa, nông dân bán sản phẩm cho chính phủ, còn vào lúc giá nông phẩm cao, nông dân có quyền bán sản phẩm cho các công ty kinh doanh lương thực để tăng lợi tức.

Ngoài ra, chính phủ còn đề ra chính sách bảo tồn, dưỡng đất dự trữ. Sự can thiệp với quy mô lớn vào ngành nông nghiệp Mỹ được kéo dài cho đến tận cuối những năm 1990. Sau đó, chính sách trợ giá nông nghiệp chỉ duy trì ở mức thấp, chính phủ tập trung vào chương trình dự trữ chiến lược, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, để phục vụ hiệu quả cho ngành nông nghiệp Mỹ.

Hiện nay, chính phủ đang chú trọng đến xuất khẩu nông sản, và đặc biệt quan tâm đến tính vững bền của lực lượng lao động nông nghiệp. Thượng viện vừa thông qua dự luật di dân nhằm mục đích bảo đảm có đủ số công nhân cần thiết cho nền nông nghiệp, đặc biệt là vào mùa gặt hái, chăn nuôi gia súc, và sản xuất nông phẩm cần thiết cho xuất khẩu. Đạo luật này cũng mở đường cho những người làm việc trong ngành nông nghiệp Mỹ mà chưa có giấy tờ hợp lệ được phép nhập cư vào Mỹ.

Chính nhờ các chính sách hỗ trợ một cách hiệu quả này đã mang lại cho ngành nông nghiệp Mỹ một kết quả tốt đẹp như ngày hôm nay.

Bầu cử tại Anh quốc

by Nguyễn Xuân Nghĩa, shared via Dainamax Tribune.
Và sự rạn nứt rồi suy sụp của Âu Châu

Tiến trình Bầu cử
Từ năm năm nay, Vương quốc Anh thống nhất United Kingdom mới lại có một cuộc bầu cử và lần này có khi chúng ta sẽ… thiếu chữ để trình bày sự việc cho có ngọn ngành.
Lần trước, vào năm 2010, thì lần đầu tiên kể từ sau Thế chiến II vào năm 1945, cuộc bầu cử đã dẫn đến hình thái "chính phủ liên hiệp" giữa đảng Bảo Thủ Conservative Party, hay Tory, và đảng Tự Do Dân Chủ Liberal Democrats thuộc xu hướng trung hữu. Lần này, tình trạng gọi là liên hiệp ấy lại trở thành rắc rối hơn. Vì vậy, xin nhớ lại vài chi tiết:

Thứ nhất là qua thể chế Đại nghị, Parlementarism, cử tri không trực tiếp bầu ra người lãnh đạo chính phủ là Thủ tướng. Tại 650 ngàn địa phương, cử tri Anh đi bầu ra sáu vạn ứng viên và mỗi ứng viên sẽ đề cử người làm Dân biểu tại Hạ viện. Các dân biểu này mới chọn ra người sẽ làm Thủ tướng để lập chính phủ. Người cầm đầu chính đảng có nhiều dân biểu nhất sẽ giữ vai trò Thủ tướng và tìm nhân sự thành lập Nội các (Chính phủ).

Thứ hai, trong cuộc bầu cử lần này, đương kim Thủ tướng David Cameron là người lãnh đạo đảng Bảo Thủ có nhiều hy vọng tồn tại vì đảng Bảo Thủ có thể được nghiều ghế dân biểu nhất. Nhưng vẫn chưa đủ đa số hơn 50% của một Hạ viện có 650 dân biểu – tức là phải chiếm được 326 ghế. Vì thế, đảng Bảo Thủ phải liên kết với bên ngoài để có đa số. Việc liên kết ấy là đàm phán và mặc cả để trễ nhất là 20 ngày sau sẽ trình lên Quốc trưởng là Nữ hoàng Elizabeth II một danh sách Nội các để bà công bố cho cả nước qua một thông điệp chính thức.

Thứ ba, trong cuộc bầu cử này, vấn đề chính không là mức bội chi ngân sách quá lớn hay tình trạng èo uột của kinh tế quốc dân, dù sao vẫn là khá nhất Âu Châu. Cả năm chính đảng là Bảo Thủ, Lao Động, Tự Do Dân Chủ, đảng Quốc gia Scottish (SNP) và đảng UKIP (United Kingdom Independence Party), đều đồng ý là nên tiết giảm khả năng vay mượn của Nhà nước, tức là hạn chế dần ội chi ngân sách. Vì thế bất cứ chính phủ liên hiệp nào cũng có thể đề nghị giảm chi, với khác biệt nhỏ là mức bội chi cao hay thấp.

Nhưng kỳ này, người ta chờ đợi là đảng Bảo Thủ có thể đề nghị trưng cầu dân ý để quyết định xem là nước Anh có muốn ở trong Liên hiệp Âu châu không. Bên cạnh, có chủ trương hoài nghi và chống hội nhập vào Liên Âu, đảng UKIP theo xu hướng quốc gia cực hữu sẽ là bài toán mới. Sau cùng, người ta cũng chờ đợi xem đảng Quốc gia Scottish SNP có còn muốn xứ Scotland ở lại trong Vương quốc Anh Thống nhất UK hay không.

Chúng ta có thể thấy ra chuyện hợp-tan của nước Anh.

Thứ tư và nếu nhìn từ giác độ của Liên Âu cùng Hoa Kỳ thì sau cuộc bầu cử, nước Anh có còn là một đồng minh hay đối tác chiến lược không? Cụ thể là nước Anh có còn chia sẻ gánh nặng chung của Liên Âu hay có cùng Hoa Kỳ và Minh ước NATO đảm đương các chiến dịch quân sự không?

Vì những đặc tính ấy, cuộc bầu cử mới đáng quan tâm theo dõi. Bài này được soạn thảo tiếp theo một hồ sơ trước, trình bày vào đầu Tháng Chín năm ngoái, dưới tiêu đề: "Vương Quốc Anh Thống Nhất Hết Thống Nhất? - Một khi xứ Scotland quyết định ly khai khỏi Vương quốc Anh".

British và England
Nếu truyền thông Việt ngữ của chúng ta có hiểu thì vẫn thiếu chữ diễn tả một sự thể phức tạp.

Về chính trị, nước Anh như ta vẫn gọi có lẽ là từ chữ England phiên âm qua Hán-Việt, là sự kết hợp từ lịch sử của hai khu vực địa dư và bốn thực thể chính trị: 1) Great Britain (hải đảo lớn nhất, bên trong có ba quốc gia là England, Scotland, Wales) với 2) Northern Ireland là góc Đông Bắc của đảo Ireland. Với dân số hơn 64 triệu, Vương quốc Anh là cường quốc Âu Châu, xưa kia là Đế quốc từng cai trị một phần ba thế giới. Ngày nay, ngay trong đảo Great Britain, xứ Scotland (tên Hán Việt xa xưa là Tô Cách Lan) bỗng đòi ly khai để thành quốc gia độc lập với dân số hơn năm triệu. Lý do ban đầu của Scotland có thể là vì tính toán kinh tế nhỏ nhoi, nhưng hậu quả sẽ vượt qua chính trị, trở thành nguy cơ phân hóa.

Từ lịch sử, sau khi ký Hiệp ước Thống nhất năm 1707, ba vương quốc nhỏ là England, Scotland và Wales đã nhập làm một. Nhưng bên trong, một số dân tại Scotland (gọi là Scots) vẫn ấm ức rằng mình bị vương quốc England sát nhập. Tới cuối thể kỷ 20, vào năm 1999, giới dân cử Scotland tranh đấu để Quốc hội của Vương quốc Thống nhất UK tại điện Westminster trong thủ đô London phải cho Scotland một quy chế đặc biệt là Quốc hội Scotland tại điện Holyrood trong thủ phủ Edinburgh được có một số thẩm quyền địa phương.

Điều nhỏ nhặt ấy chưa đáng quan tâm vì nước Anh và cả thế giới đang có nhiều chấn động mới sau khi Liên Xô tan rã...

Đầu năm 2011, một chính đảng Scotland là đảng SNP ra tranh cử tại địa phương với chủ trương là tổ chức trưng cầu dân ý để quyết định về quyền độc lập. Chuyện bất ngờ là đảng này lại thắng lớn trong Quốc hội Scotland. Nguyên do sâu xa là nhiều người Scotland không mấy hài lòng về quyền lợi kinh tế của họ và đòi hỏi nhiều hơn.

Một cách cụ thể, họ nghĩ là dân Scotland phải có phần hơn với tài nguyên năng lượng, là dầu thô tại Bắc Hải North Sea và khí đốt trong hải phận Scotland, sẽ quản lý việc khai thác hữu hiệu hơn. Và nhờ đó lập ra một qũy an sinh cho dân cư được hưởng sau này, tương tự như quỹ phúc lợi của xứ Norway, Na Uy.

Khái niệm về chủ quyền ("dân Scotland phải có thẩm quyền về đời sống của mình") trở thành điều hấp dẫn trong khi lãnh đạo của nhiều chính đảng khác tại Scotland và cả Vương quốc UK lại coi thường. Khi ấy, Chính quyền liên hiệp của Thủ tướng David Cameron của đảng Bảo thủ với đảng Tự do và đảng Lao động Anh còn tiến hành chánh sách cải cách nhằm giảm bội chi ngân sách và phúc lợi xã hội để phục hồi kinh tế. Chi tiết ít ai để ý là ngân sách địa phương của Scotland bị thâm hụt nặng vì nguồn thu về năng lượng giám sút mà công chi lại tăng.

Sự xoay chuyển trái chiều, giữa yêu cầu chấn chỉnh của cả Vương quốc UK với đòi hỏi cục bộ của Scotland, đã đào sâu dị biệt về nhận thức và khiến trào lưu ly khai tại Scotland có thêm lực đẩy và gần đây thì đến 45% dân Scots muốn ly khai. Trong lần bầu cử này, đảng SNP có thể chỉ được 12% số phiếu, không nhiều, nhưng lại có số ghế Dân biểu cao hơn thực lực vì cách phân bố ghế dân biểu rất rắc rối của Anh.

Vì thế, ta sẽ có cuộc tranh luận rằng British (của Great Britan) hay English (của England), cái nào mới là hình dung từ chính xác cho nước Anh thật!

Đã vậy, ta lại còn chuyện kia, là vị trí nước Anh (UK hay chỉ còn là England) trong Liên Âu.

Đảng UKIP phản ảnh một trào lưu đáng ngại tại Anh quốc và nhiều nước Âu Châu khác: hoài nghi giá trị của hội nhập và không muốn là thành viên Liên Âu nữa. Trong cuộc bầu cử kỳ này, đảng quốc gia cực hữu UKIP không có hy vọng chiếm đủ ghế Dân biểu để đặt lại vấn đề, nhưng sẽ làm suy yếu thế lực của đảng Bảo Thủ và Thủ tướng Cameron. Một số cử tri Tories có thể bất mãn mà chạy qua đảng UKIP! Khi ấy, Chính phủ liên hiệp của ông Cameron càng khó giải quyết bài toán SNP của dân Scotts!

Viễn ảnh Trường kỳ của Âu châu
Một cách rất sơ lược, Hồ Sơ Người-Việt vừa nhắc đến ba bài toán từ dễ đến khó của nước Anh: 1) kinh tế và nạn bội chi ngân sách; 2) kinh tế và sự thống nhất của UK, có hay không có xứ Scotland; và 3) kinh tế và chính trị, UK có còn ở trong Liên Âu hay không? Ba bài toán ấy của Anh cũng phản ảnh ba bài toán của Âu Châu.

Nhìn trong lịch sử thì xứ England có một chiến lược xin tạm gọi là "ăn trùm" hay mượn sức.

England mượn sức của các nước trong hải đảo như Scotland, Wales và miền Bắc đảo Ireland để có một vương quốc thống nhất hầu không cường quốc Âu Châu nào có thể chi phối khu vực thống trị của mình. Từ đó ta mới có Great Britain và chiến lược British (ấn bản toàn cầu của chiến lược England). Nhờ đế quốc thống nhất và mạnh nhất Âu Châu, nước Anh mở rộng đó mới chinh phục được một phần ba thế giới, kể cả xứ Hoa Kỳ ngày nay hay nhiều nước Á Phi khác.

Chinh phục có nghĩa là quân sự, để khống chế bán đảo Âu Châu (là vùng Tây Âu) rồi Bắc Đại Tây Dương (Hoa Kỳ, Canada) và các vùng xa xôi khác tại Á Châu, Trung Đông và Phi Châu. Chinh phục cũng có nghĩa là kinh tế để làm giàu cho một đế quốc nhỏ bé mà có quyền lợi toàn cầu. Kết quả là đỉnh cao giữa hai Thế chiến I và II.

Đỉnh cao ấy bắt đầu suy sụp dần sau Thế chiến II và dẫn tới việc triệt thoái khỏi Nam Á (Ấn Độ và Pakistan) rồi Đông Nam Á, rồi phía Đông của Kênh đào Suez… Đế quốc Anh nhường đại dương cho Hoa Kỳ rồi chỉ còn là một cường quốc kinh tế hạng nhì.

Ngày nay, tình trạng co cụm ấy tiếp tục với việc Great Britain bị rút ruột và có thể mất Scotland, rồi xa dần các quyết định của Liên Âu. Và Liên Âu cũng đang đi vào tiến trình đó.
Kết luận ở đây là gì?

Cuộc bầu cử tuần này tại Anh quốc không chỉ báo hiệu những đổi thay trong một Đế quốc đã từng thống trị một khu vực không hề thấy mặt trời lặn.

Nó báo hiệu ngày tàn của Âu Châu sau khi gây ảnh hưởng toàn cầu trong năm thế kỷ, từ 1492 đến 1991. Âu Châu sẽ tàn lụi dần và an phận là một anh hùng về già.

Trong việc thay bậc đổi ngôi ấy, những xứ nào sẽ lên thay thế?

Bài trước: Ngày Quân Lực Úc

Popular Now