Journey in Life: 05/10/15

Search This Blog

Sunday, May 10, 2015

Samuel Prescott Bush

Samuel Prescott Bush (04/10/1863 - 08/2/1948) là một nhà tư bản công nghiệp Mỹ. Ông là tộc trưởng của gia đình chính trị Bush. Ông là cha của Thượng nghị sĩ Mỹ Prescott Bush, ông nội của cựu Tổng thống Mỹ George H.W. Bush, và là cụ của cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush.

Thiếu thời
Samuel Bush được sinh ra ở nhà thờ Brick, quận Orange, bang New Jersey, là con trai của
Harriet Fay và Mục sư James Smith Bush, một mục sư Giáo hội Giám nhiệm tại nhà thờ Grace ở quận Orange. Ông lớn lên ở New Jersey, San Francisco, và khu Staten Island, nhưng dành phần lớn quãng đời trưởng thành của mình ở Columbus, Ohio. Ông kết hôn với Flora Sheldon ngày 20 tháng 6 năm 1894. Hai người có năm người con: Prescott Bush, Robert (người đã chết khi còn bé), Mary (Mrs. Frank) House, Margaret (Mrs. Stuart) Clement, và James.

Vợ của ông, Flora, đã qua đời ngày 04 tháng 9 năm 1920 ở Narragansett, Rhode Island, khi bà bị một chiếc xe hơi đâm. Sau đó, ông kết hôn với Martha Bell Carter, người Milwaukee, Wisconsin.

Nghề nghiệp
Samuel Bush tốt nghiệp Viện Công nghệ Stevens tại Hoboken, New Jersey năm 1884, nơi ông chơi cho một trong những đội bóng bầu dục đại học chính quy lâu đời nhất. Ông học việc ở Pittsburgh, Cincinnati, Chicago và St. Louis Railroad tại thành phố Logansport, các phân xưởng [sửa chữa, chế tạo máy móc...] ở Indiana, sau đó chuyển đến Dennison, Ohio và Columbus, Ohio, nơi vào năm 1891, ông trở thành thợ cả cơ khí chế tạo (Master Mechanic?), và sau đó vào năm 1894 trở thành Đốc công Lực Chuyển động (Superintendent of Motive Power?). Năm 1899, ông chuyển đến Milwaukee, Wisconsin để giữ vị trí Đốc công Lực Chuyển động cho Chicago, Milwaukee & St. Paul Railroad.

Năm 1901, Samuel Bush trở về Columbus để làm Tổng Giám đốc của Công ty Buckeye Steel Castings, sản xuất phụ tùng đường sắt. Công ty do Frank Rockefeller - em trai của ông trùm dầu mỏ John D. Rockefeller điều hành và trong số các khách hàng của công ty là những tuyến đường sắt do E.H. Harriman kiểm soát. Hai gia đình Bush và Harriman liên kết chặt chẽ với nhau ít nhất là cho đến khi kết thúc Thế chiến II. Năm 1908, Frank Rockefeller nghỉ hưu và Samuel Bush trở thành chủ tịch của Buckeye, ông nắm giữ vị trí này cho đến năm 1927, trở thành một trong những nhà tư bản công nghiệp hàng đầu của thế hệ mình.

Samuel Bush là chủ tịch đầu tiên của Hiệp hội các nhà sản xuất Ohio, và là đồng sáng lập của Câu lạc bộ Scioto Country và Học viện Columbus. Ông là một người đam mê thể thao cuồng nhiệt và là một thợ mộc lành nghề.

Sự xuất chúng về chính trị
Mùa xuân năm 1918, nhà ngân hàng Bernard Baruch được yêu cầu cơ cấu lại Hội đồng Công nghiệp Chiến tranh khi Mỹ chuẩn bị tham chiến trong Thế chiến I, và bổ nhiệm nhiều doanh nhân nổi bật vào các vị trí chủ chốt. Samuel Bush trở thành Trưởng Bộ phận Quân nhu, Vũ khí bộ binh, và Đạn dược, với trách nhiệm quốc gia hỗ trợ chính phủ cho và quan hệ với các công ty sản xuất vũ khí.

Samuel Bush là thành viên của Hội đồng Cục Dự trữ Liên bang chi nhánh Cleveland (cũng như Ngân hàng Huntington National ở Columbus). Năm 1931, ông được bổ nhiệm vào Ủy ban Cứu trợ thất nghiệp của Tổng thống Herbert Hoover, do Walter S. Gifford, khi đó là Chủ tịch của AT&T làm chủ tịch. Ông từng được giới thiệu để làm thành viên trong hội đồng quản trị của Tập đoàn Tài chính Tái thiết, nhưng Hoover cảm thấy ông không nổi tiếng trên toàn quốc.

Mất
Samuel Bush qua đời ngày 08 tháng 2 năm 1948, hưởng thọ 84 tuổi, ở Columbus; ông được chôn cất tại Nghĩa trang Green Lawn, Columbus, Ohio.

Sơn Phạm
Wikipedia English

Bài trước: James Smith Bush

James Smith Bush

Mục sư James Smith Bush (15/6/1825 - 11/11/1889) là một luật sư, mục sư Giáo hội Giám nhiệm (Episcopal*), người viết sách truyền giáo (giáo nghi), và là tổ phụ của gia đình chính trị Bush. Ông là cha của ông trùm tư bản công nghiệp Samuel Prescott Bush, ông nội của cựu Thượng nghị sĩ Mỹ Prescott Bush, cụ của cựu Tổng thống Mỹ George H.W. Bush và là kị của cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush.

Tiểu sử

James Smith Bush được sinh ra ở Rochester, New York với cha là Obadiah Newcomb Bush và mẹ là Harriet Smith (1800-1867). Năm 1851, hai năm sau Cơn sốt vàng California, cha của ông trên đường trở về đoàn tụ gia đình và dự định đưa cả nhà về phía tây, đã bị chết trên tàu và được thả hài cốt trên biển.

Đại học Yale
James Bush vào Đại học Yale năm 1841 (lớp 1844), người đầu tiên trong truyền thống gia đình lâu đời, khi cháu trai Prescott Bush Sheldon, các chắt George H.W. Bush, Prescott Bush Sheldon, Jr. và William H.T. Bush, chắt gọi bằng kị George W. Bush, và chắt gái gọi bằng ông cố - Barbara đều là cựu sinh viên Đại học Yale. Năm 1883, ông được coi là một trong 300 cựu sinh viên và giảng viên Đại học Yale ủng hộ việc thành lập Hội Wolf's Head. Sau khi tốt nghiệp đại học Yale, ông trở về Rochester và theo học luật, trở thành luật sư vào năm 1847.

Hôn nhân đầu tiên
Người vợ đầu của ông, Sarah Freeman, sống ở thành phố Saratoga Springs. Năm 1851, hai người kết hôn nhưng bà đã chết 18 tháng sau khi sinh con.

Cái chết của vợ thúc đẩy James Bush nghiên cứu thần học với mục sư của nhà thờ Tân giáo địa phương. Năm 1855, được thụ phong thầy trợ tế, ông được bổ nhiệm làm mục sư tại nhà thờ Grace mới được tổ chức ở quận Orange, bang New Jersey.

Hôn nhân thứ hai
Ngày 24 tháng 2 năm 1859, ông kết hôn với Harriet Eleanor [Fay], con gái của ông Samuel Howard và bà Susan [Shellman] Fay, tại nhà thờ Trinity, thành phố New York. Fay được sinh ra ở thành phố Savannah, bang Georgia. Cha của bà là cháu đời thứ thứ sáu của John Fay, tộc trưởng nhập cư, sinh ra ở Anh khoảng năm 1648, ngày 30 tháng 5 năm 1656 lên tàu Speedwell ở Gravesend, và cập bến Boston ngày 27 tháng 6 năm 1656.

Con cái
1. James Freeman, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1860, hạt Essex, bang New Jersey
2. Samuel Prescott, sinh ngày 04 tháng 10 năm 1863, quận Orange, bang New Jersey
3. Harold Montfort, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1871, làng Dansville, thành phố New York
4. Eleanor Howard, sinh ngày 07 tháng 11 năm 1873, khu Staten Island, thành phố New York

Samuel được đặt theo tên ông nội của Harriet Fay, Samuel Prescott Phillips Fay.

Nghề nghiệp
Trong hai năm 1865-1866, được nhà thờ cho nghỉ phép, ông tới San Francisco qua eo biển Magellan trên tàu chiến nhỏ bọc thép USS Monadnock cùng Phó Đề đốc John Rodgers (một giáo dân của ông), với các điểm dừng chân thiện chí quốc tế dọc đường đi. Về mặt chính thức, ông được chỉ định là Trợ lý của Phó Đề đốc, nhưng được coi là "quyền cha tuyên úy", tổ chức các buổi lễ trên tàu và thậm chí điều khiển một đám cưới trên tàu cho một người Mỹ gốc Đức họ gặp ở Montevideo [thủ đô của Uruguay], sự kiện do Bret Harte kể lại trong những bức thư của ông. Trùng hợp, hạm đội chứng kiến trận pháo kích ác liệt từ thành phố không phòng vệ Valparaíso, Chile của Hải quân Tây Ban Nha trong Chiến tranh Quần đảo Chincha, sau khi những nỗ lực hòa giải của Rodgers thất bại.

Trong giai đoạn 1867-1872, ông được gọi về nhà thờ Grace (sau này là Nhà thờ Lớn) ở San Francisco, nhưng gặp rắc rối vì các nghĩa vụ gia đình nên chỉ ở đây năm năm. Thời gian ngắn ngủi này của ông và của nhà phát minh phim cuộn nhiếp ảnh Hannibal Goodwin đã bị Mark Twain châm biếm ở mục hàng tuần của mình ở tờ The Californian.

Năm 1872, ông nhận lời gọi từ Nhà thờ Ascension tại Tây Brighton, khu Staten Island. Năm 1884, trong một lần tranh cãi về cuộc xổ số [để bán hàng vì mục đích từ thiện] của nhà thờ (một chiếc đồng hồ vàng đã được bán đấu giá, nhưng ông coi đó là đánh bạc), ông từ chức.

Năm 1883, ông xuất bản một tuyển tập các bài thuyết giáo được gọi là 'Nói thêm về Kinh Thánh' (More Words About the Bible), đáp lại cuốn sách của đồng nghiệp Heber Newton là 'Công dụng của Kinh Thánh' (Uses of the Bible). Năm 1885, cuốn sách của ông 'Bằng chứng về Đức tin' (Evidence of Faith) được tạp chí The Literary World (Thế giới Văn chương) đánh giá là "rõ ràng, đơn giản và khiêm cung", và được tóm tắt như là một lập luận phản đối những giải thích siêu nhiên về Thiên Chúa. Theo tạp chí này, cả hai tác phẩm của ông phù hợp với phong trào nhà thờ rộng rãi. Nhật báo Boston Advertiser (Nhà quảng cáo Boston) gọi tác phẩm thứ hai là "tuyên bố tuyệt vời nhất về tư tưởng thánh linh không bị ngăn trở" trong những cuốn sách gần đây.

Ông nghỉ hưu từ thị trấn Concord, bang Massachusetts, và năm 1888, rời Giáo hội Giám nhiệm và trở thành người theo thuyết nhất thể (Unitarian). Căng thẳng từ sự ly giáo này khiến ông gặp các vấn đề sức khỏe trong suốt phần còn lại cuộc đời. Ông chuyển đến thành phố Ithaca, bang New York, nơi ông đột ngột qua đời khi đang cào lá vào năm 1889.

Sơn Phạm
Wikipedia English

Bài trước: Obadiah Newcomb Bush

* Anh giáo thường được đồng nhất với Giáo hội Anh - giáo hội chính thức của xứ Anh Cát Lợi, nhưng trong thực tế Anh giáo có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới. Anh giáo tại một số nơi như Hoa Kỳ, Scotland được biết đến với tên là Giáo hội Giám nhiệm (Episcopal), từ tiếng La-tinh episcopus, có nghĩa là "Giám mục", có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là "người quản lý". Tên gọi này ngụ ý giáo hội được quản trị theo thể chế Giám mục. Mỗi giáo hội cấp quốc gia được đặt dưới quyền lãnh đạo của một Tổng Giám mục, hoặc Giám mục chủ tịch (Presiding Bishop) như trong trường hợp của Giáo hội Giám nhiệm Hoa Kỳ. Giáo hội quốc gia được chia thành các giáo phận, giữa hai cấp bậc này có thể còn có bậc trung gian nữa là giáo tỉnh, thường tương ứng với địa giới hành chính của các tiểu bang hoặc các tỉnh.
-----
Dưới đây là một số câu nổi tiếng trích từ Sách Cầu nguyện chung do Thomas Cranmer biên soạn:
... dù hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn, dù giàu hay nghèo, dù khi bệnh tật, tôi nguyện yêu em (anh), cho đến khi sự chết chia lìa chúng ta.

Xin Chúa nhân lành cứu chúng con khỏi mọi sự mê muội của trái tim, khỏi sự kiêu ngạo, hư danh, và đạo đức giả; khỏi lòng ganh tị, căm ghét, hiểm độc, và mọi điều hà khắc.

Lạy Chúa, xin chiếu sáng chúng con trong bóng tối; bởi ơn thương xót rất lớn của Ngài, xin gìn giữ chúng con khỏi mọi tai ương và hiểm nghèo trong đêm nay.

Chúng con vẫn luôn sai lầm và lạc lối như chiên đi lạc.

Chúng con bỏ dở những điều cần phải làm, mà lại làm những điều chúng con không được phép làm.

Lạy Chúa toàn năng, Đấng tra xét lòng người, thấy rõ mọi tham dục của họ, không điều gì giấu kín khỏi mắt Ngài; Bởi sự soi sáng của Chúa Thánh Linh, xin thanh tẩy ý tưởng và tấm lòng chúng con để chúng con có thể yêu Ngài trọn vẹn, và xứng hiệp mà tôn vinh Danh thánh của Ngài.

Chúng con, những tôi tớ không xứng đáng của Ngài, xin khiêm nhu dâng lời tạ ơn tự đáy lòng vì sự tốt lành và tình yêu bao dung của Ngài dành cho chúng con, và cho mọi người; Chúng con tạ ơn Ngài vì Ngài đã sáng tạo thế giới và bảo tồn nó, cùng mọi ơn phước trên đời này; nhưng trên hết là vì tình yêu vô bờ của Ngài dành cho thế gian qua Giêsu Kitô Chúa chúng con.

Chúng ta đặt thân thể này xuống lòng đất; đất trở về với đất, tro về với tro, bụi về với bụi; với niềm hi vọng chắc chắn và mạnh mẽ rằng người này sẽ sống lại.

Obadiah Newcomb Bush

Obadiah Newcomb Bush (28/1/1797 - 09/2/1851) là một người đào vàng và doanh nhân người Mỹ. Ông là ông tổ và người sáng lập gia đình chính trị Bush.
Tiểu sử
Tổ tiên
Sinh ra ở Penfield, New York, Obadiah là
• con trai của người thợ rèn Timothy Bush the Younger (1761-1850),
• cháu nội của Timothy Bush Sr (1735-1815), nổi tiếng là một đội trưởng dân quân Cách mạng Mỹ và do đó thường được đặt tên là "Timothy Bush", và Lydia Newcomb,
• chắt của Richard Bush và Mary Fairbanks,
• chắt gọi bằng kị của Samuel Bush (1647-1733)
• chắt gọi bằng cố của John Bush (1593-1670), ông tổ cuối cùng ở Cựu Thế giới của ông.

Thiếu thời
Obadiah rời nhà trong cuộc Chiến tranh năm 1812. Ngày 08 tháng 11 năm 1821, ông kết hôn với Harriet Smith (1800-1867) ở Rochester, New York. Họ có bảy người con, trong đó có James Smith Bush.

Nghề nghiệp
Ở Rochester, New York, ông trở thành thầy giáo và là thành viên một ủy ban đề cử ứng cử viên cho công lý hòa bình. Ông và em trai Henry, một nhà sản xuất bếp lò, là những người theo chủ nghĩa bãi nô. Ông là phó chủ tịch của Hiệp hội Phản đối Chế độ Nô lệ Mỹ và ủng hộ Đường sắt Ngầm. Ông kiến nghị Cơ quan lập pháp bang New York ly khai khỏi Liên minh để phản đối chế độ nô lệ, mà sau đó tờ báo Rochester Daily Advertiser buộc tội ông đã khuyến khích tình trạng vô chính phủ.

Năm 1849, ông đến California theo cơn sốt vàng, để vợ và các con ở lại New York. Hai năm sau, khi đang trên đường về nhà đoàn tụ gia đình và đưa họ về phía tây, ông đã chết trên tàu và được thả hài cốt trên biển (sea burial).

Thành Đạt
Wikipedia English

Sách lựa kỹ ta phải coi như bạn...

shared from fb Steven Nguyen.
-----

1. Sách – đó là ải huấn tinh thần của thế hệ này truyền lại cho thế hệ khác, là lời khuyên răn thành khẩn của người già sắp chui vào cỗ áo quan giối giăng lại cho chàng trẻ tuổi mới bước vào đời, là khẩu lệnh của người lính gác đã hết phiên dặn lại cho người đến gác thay mình. Ghécxen

2. Tác giả viết ra sách, xã hội tiếp nhận hoặc phủ nhận nó. Người sáng tạo ra sách là tác giả, còn kẻ tạo ra số phận của nó là xã hội. Huygô

3. Sách lựa kỹ ta phải coi như bạn, như tri kỷ, như địch thủ. Ta đàm đạo, lý luận, tranh luận với nó. Đọc sách chỉ sinh lợi với điều kiện đó. Điđơrô

4. Chấp cánh cho trí tuệ và tâm hồn, sách đã giúp tôi đứng lên khỏi vũng bùn hôi thối. Không có sách thì có lẽ tôi đã bị chìm đắm trong vũng bùn ấy và sặc bởi thô bỉ và thấp hèn. Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới. Gorky

5. Sách là người bạn tốt nhất của tuổi già đồng thời là người chỉ dẫn tốt nhất của tuổi trẻ. X.xmaixơ

6. Có ba cách đọc sách :
• Đọc và không hiểu
• Đọc và hiểu
• Đọc và hiểu được cả những điều tác giả không viết ra. Niagiơnhin

7. Đọc sách mà con mắt không tinh, thế là vùi dập cái khổ tâm của người viết sách. Ngạn ngữ cổ phương đông

8. Tin sách cả, không có sách còn hơn. Mạnh Tử

9. Đọc sách là việc tất yếu. Nó tránh cho ta sự tự mãn, nó giúp ta tìm hiểu kẻ khác, nó bắt ta phán đoán về các khám phá đã qua và suy nghĩ đến những điều phải khám phá nữa. Sênêca

10. Người biết yêu và biết đọc sách là người hạnh phúc. Anh ta sẽ có biết bao người bạn thông minh, tốt bụng và chung thuỷ quanh mình ; đó là những cuốn sách. Pautốpxky

11. Khi xem xét kỹ cuộc đời của những người xuất chúng, bạn sẽ thấy việc tự đọc sách có ý nghĩa to lớn như thế nào đối với sự phát triển của họ. A.Baxtugiép Biumin

12. Một mình một sách còn hơn là ngồi lê đôi mách với bạn ngu ngốc. P.Buaxtơ

13. Hãy nói cho tôi biết bạn thích đọc sách gì, tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là người thế nào. L.Blăng

Lời mẹ dạy con

-----
- Con nghĩ mình là Tào Tháo sao? Nước lớn nghiệp lớn, Đông Ngô ta có bao nhiêu tướng để con bãi chức chứ?

Kẻ làm chủ công, phải biết nhịn những chuyện người thường không nhịn được, rộng lượng nhân từ, thành kính đãi sĩ.

Chu Du rất được binh sĩ nể trọng, con tước binh quyền của ông ta, chỉ sợ các tướng lĩnh trẻ tuổi tâm không phục con. Không có họ giúp đỡ, chức Ngô hầu của con làm được bao lâu?

Dụ ngôn Mười trinh nữ

Mười trinh nữ là dụ ngôn của Chúa Giê-xu được Matthew ghi lại trong sách phúc âm mang tên ông (Matthew 25:1-13). Dụ ngôn thuật lại câu chuyện về năm người nữ đồng trinh do chuẩn bị chu đáo để đón tiếp chàng rể đến dự hôn lễ đã được khen thưởng, trong khi năm người nữ đồng trinh còn lại vì không chịu chuẩn bị đầy đủ đã không được vào dự tiệc cưới. Dụ ngôn ngụ ý về sự tái lâm của Chúa Giê-xu với thông điệp: Hãy sẵn sàng ứng hầu trước mặt Chúa.

Nội dung
“"Bấy giờ, Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn ra đón chú rể. Trong mười cô đó, thì có năm cô dại và năm cô khôn. Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo. Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả. Nửa đêm, có tiếng la lên: "Chú rể kia rồi, ra đón đi!". Bấy giờ, tất cả các trinh nữ ấy đều thức dậy, và sửa soạn đèn. Các cô dại nói với các cô khôn rằng: "Xin các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em tắt mất rồi!". Các cô khôn đáp: "Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn". Đang lúc các cô đi mua, thì chú rể tới, và những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại. Sau cùng, mấy trinh nữ kia cũng đến gọi: "Thưa Ngài, thưa Ngài! mở cửa cho chúng tôi với!". Nhưng Người đáp: "Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!". Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào".”
—Phúc âm Matthew 25:1-13, Bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các giờ kinh Phụng vụ

Bối cảnh
Dụ ngôn sử dụng chất liệu từ phong tục của người Do Thái thời ấy. Chàng trai tìm đến gia đình cô gái để xin kết lập hôn ước; sau đó, chàng trai trở về chuẩn bị chỗ ở cho
người vợ mới trong nhà cha mình. Thời gian xa cách có thể lên đến một năm. Trong khi đó, cô dâu tương lai bận rộn học hỏi những điều cần thiết sẵn sàng cho cuộc sống hôn nhân. Rồi thì chàng rể trở lại, cô dâu và các cô phù dâu được báo trước để chuẩn bị đón tiếp chàng rể. Khi chàng rể đến rước dâu, mọi người vui mừng cùng nhau vào dự tiệc cưới.

Dụ ngôn kể chuyện một nhóm các cô gái đồng trinh được dành cho vinh dự đón tiếp chàng rể trong một hôn lễ. Mỗi người đều mang theo mình một chiếc đèn dầu trong khi chờ đợi chàng rể đến. Năm người khôn mang theo dầu dự trữ trong bình, năm người dại thì không. Do chú rể đến muộn, dầu trong đèn gần cạn, nên năm người dại hỏi xin năm người khôn nhưng bị từ chối, bởi vì không đủ dầu cho cả mười người. Trong khi năm người dại phải đi ra ngoài tìm mua dầu thì chàng rể đến, năm người nữ đồng trinh khôn ngoan đi ra đón tiếp chàng rể và cùng mọi người vào dự tiệc cưới. Năm người dại trở về quá muộn nên bị để lại bên ngoài.

Luận giải
Theo cách giải nghĩa được chấp nhận rộng rãi nhất cho dụ ngôn này, mười người nữ đồng trinh biểu trưng cho hội thánh. Sự trinh tiết biểu trưng cho sự thanh khiết tâm linh. Chú rể biểu trưng cho sự tái lâm của Chúa Giê-xu hoặc cho ngày phán xét.

Đèn và dầu là hai biểu tượng nổi bật trong dụ ngôn. Nhiều nhà luận giải Kinh Thánh xem đèn biểu trưng cho tâm linh con người, và dầu là biểu trưng của Chúa Thánh Linh ngụ cư trong lòng tín hữu. Theo cách luận giải này, sự hiện diện của Thiên Chúa là sự bảo đảm cho nguồn dự trữ tâm linh giúp họ tiếp tục tiến bước dù phải lâm vào những tình huống khó khăn. Tương tự, các cô gái sắp cạn dầu trong bình là biểu trưng cho những người cạn kiệt sức mạnh tinh thần, hoặc đức tin bị lụi tàn trong những lúc gian truân, hoặc suy sụp trước những cám dỗ trong cuộc sống. Họ không sẵn sàng để ứng hầu trước mặt Chúa trong ngày họ lìa đời hoặc trong ngày phán xét sau cùng. Mặt khác, mối quan hệ giữa Chúa Thánh Linh với mỗi tín hữu là sự tương giao có tính cá nhân, không thể san sẻ cho người khác, tương tự như trường hợp như năm người khôn không thể chia sẻ số dầu còn lại cho năm người dại. Thông điệp này của dụ ngôn có thể hiểu là không ai có thể vào thiên đàng bằng đức tin vay mượn.

Dụ ngôn Người bạn giữa đêm khuya

Dụ ngôn Người bạn quấy rầy (hay Dụ ngôn Người bạn giữa đêm khuya) là một dụ ngôn của Chúa Giêsu trong Tân Ước, văn bản được ghi chép trong Phúc âm Luca 11:5-8.

Nôi dung
“Người còn nói với các ông: "Ai trong anh em có một người bạn, và nửa đêm đến nhà người bạn ấy mà nói: "Bạn ơi, cho tôi vay ba cái bánh, vì tôi có anh bạn lỡ đường ghé lại nhà, và tôi không có gì dọn cho anh ta ăn cả"; mà người kia từ trong nhà lại đáp: "Xin anh đừng quấy rầy tôi: cửa đã đóng rồi, các cháu lại ngủ cùng giường với tôi, tôi không thể dậy lấy bánh cho anh được."? Thầy nói cho anh em biết: dẫu người kia không dậy để cho người này vì tình bạn, thì cũng sẽ dậy để cho người này tất cả những gì anh ta cần, vì anh ta cứ lì ra đó.”
—Luca 11:5-8, Bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các giờ kinh Phụng vụ

Diễn giải
Bối cảnh mô tả trong dụ ngôn này cho thấy một người nông dân đang ngủ trong ngôi nhà nhỏ lúc giữa đêm khuya, cả vợ chồng, con cái cùng ngủ chung giường. Và có một người bạn tìm đến vay ba cái bánh làm thức ăn cho người khách vừa ghé nhà người ấy nghỉ.

Dụ ngôn này xuất hiện trong Phúc âm Luca ngay sau khi Chúa Giêsu dạy cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha, và do đó, có thể được coi nó là sự tiếp nối của Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ cách cầu nguyện, nội dung đoạn này rất gần với đoạn Tân Ước ngay sau đó:

“Thế nên Thầy bảo anh em: anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.”
—Luca 11:9-10, Bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các giờ kinh Phụng vụ

Câu hỏi mở ra dụ ngôn ("Ai trong anh em có một người bạn,...?" có thể diễn tả như "Hãy thử tưởng tượng xem,...?") như để nhấn mạnh câu trả lời: "Không!", vì thực tế là không có người nào sẽ từ chối giúp đỡ bạn bè mình trong trường hợp như vậy. Tuy nhiên, Chúa Giêsu còn chỉ ra rằng, chính vì "tình bạn" là động lực để người chủ nhà này giúp đỡ cho bạn mình, cũng như câu 9-13, dụ ngôn này của Chúa Giêsu nêu lên cho các môn đệ một động lực để cầu nguyện đó là "tình yêu của Thiên Chúa". Dụ ngôn Quan tòa bất chính cũng có ý nghĩa tương tự.

Dụ ngôn Tên mắc nợ không biết thương xót

Dụ ngôn Tên mắc nợ không biết thương xót hay "tên đầy tớ không biết thương xót" là một dụ ngôn của Chúa Giêsu được ghi chép trong Tân Ước, đề cập đến lòng bao dung tha thứ của Thiên Chúa đối với con người, và vấn nạn không biết tha thứ xảy ra ở phần lớn con người.

Tường thuật
“ Bấy giờ, ông Phêrô đến gần Đức Giêsu mà hỏi rằng: "Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?" Đức Giêsu đáp:

"Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy".

Vì thế, Nước Trời cũng giống như chuyện một ông vua kia muốn đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách. Khi nhà vua vừa bắt đầu, thì người ta dẫn đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn nén vàng. Y không có gì để trả, nên tôn chủ ra lệnh bán y cùng tất cả vợ con tài sản mà trả nợ.

Bấy giờ, tên đầy tớ ấy sấp mình xuống bái lạy: "Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết". Tôn chủ của tên đầy tớ ấy liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ. Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: "Trả nợ cho tao!"

Bấy giờ, người đồng bạn sấp mình xuống năn nỉ: "Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh". Nhưng y không chịu, cứ tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ. Thấy sự việc xảy ra như vậy, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bày với tôn chủ đầu đuôi câu chuyện.

Bấy giờ, tôn chủ cho đòi y đến và bảo: "Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?" Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông.

Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình".

—Matthew 18:21-35, Bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các giờ kinh Phụng vụ

Luận giải
Dụ ngôn tương tự được chép trong Phúc âm Luca 17:3-4. Một nén vàng trong dụ ngôn này có giá trị tương đương 6.000 quan tiền. Vì vậy, khoản nợ mười ngàn nén vàng là một khoản nợ rất lớn.

Khoản nợ này tượng trưng cho những tội lỗi mà con người đã phạm. Thiên Chúa luôn bao dung, tha thứ cho người mắc rất nhiều tội (như ông vua tha cho người nợ rất nhiều tiền) và ngài đòi hỏi người ấy cũng phải tha thứ cho những người anh em lỗi phạm đến mình. Tuy nhiên, bản chất thường thấy ở con người là không biết tha thứ cho nhau, dù là những điều nhỏ nhất. Ví như tên mắc nợ đáng lẽ ra phải tha cho người bạn mắc nợ mình chỉ có một trăm quan tiền, trong khi y đã được tha khoản nợ đến mười ngàn nén vàng từ tôn chủ. Nhưng y đã không làm như thế nên phải chịu hậu quả. Thiên Chúa cũng sẽ ra tay trừng phạt những kẻ đã được ngài tha thứ mà lại không tha thứ cho anh em mình giống như vậy.

Dụ ngôn Hai người mắc nợ

Dụ ngôn Hai người mắc nợ là một dụ ngôn của Chúa Giêsu xuất hiện trong Phúc âm Luca 7:36-50. Chúa Giêsu sử dụng câu chuyện về hai người mắc nợ này để giải thích cho người Pharisee lý do tại sao mà ngài cho phép một người phụ nữ tội lỗi chạm vào cơ thể mình, vì theo quan điểm Do Thái giáo, người ta không tiếp xúc, nói chuyện hay đụng chạm với người tội lỗi vì sợ bị ô uế. Mặc dù dụ ngôn này cũng đề cập đến hai người mắc nợ, nhưng đừng nhầm lẫn với dụ ngôn Tên mắc nợ không biết thương xót.

Tường thuật
“Có người thuộc nhóm Pharisêu mời Đức Giêsu dùng bữa với mình. Đức Giêsu đến nhà người Pharisêu ấy và vào bàn ăn. Và kìa một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết
được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.

Thấy vậy, ông Pharisêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: "Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi!". Đức Giêsu lên tiếng bảo ông: "Này ông Simon, tôi có điều muốn nói với ông!". Ông ấy thưa: "Dạ, xin Thầy cứ nói".

Đức Giêsu nói: "Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người nợ năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nhiều hơn". Ông Simon đáp: "tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn". Đức Giêsu bảo: "Ông xét đúng lắm". Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Simon: "Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn chào tôi được một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ôliu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít".

Rồi Đức Giêsu nói với người phụ nữ: "Tội của chị đã được tha rồi". Bấy giờ những người đồng bàn liền nghĩ bụng: "Ông này là ai mà lại tha được cả tội?" Nhưng Đức Giêsu nói với người phụ nữ: "Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an".
”—Luca 7:36-50, Bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các giờ kinh Phụng vụ

Một đồng quan trong dụ ngôn này là mang giá trị tiền lương của một ngày công. Theo truyền thống Giáo hội Công giáo Rôma, người phụ nữ tội lỗi trong dụ ngôn được cho là Maria Mađalêna, mặc dù giáo hội Chính Thống giáo và Tin Lành không đồng ý với quan điểm này.

Luận giải
Không có ý trực tiếp tấn công, nhưng Chúa Giêsu đã giải nghĩa cho ông Simon và những người đồng bàn tiệc về dụ ngôn này nhằm thể hiện mối quan tâm của Thiên Chúa trước những người tội lỗi ăn năn hối cải. Thiên Chúa luôn tha thứ cho những ai lầm lỗi trở về với ngài. Nhưng tự bản thân người tội lỗi sẽ cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa dành cho họ qua câu kết luận dụ ngôn: "kẻ được tha nhiều thì yêu mến nhiều".

Dụ ngôn Người Samaria nhân lành

Người Sa-ma-ri nhân lành hay Người Samari nhân đức là một dụ ngôn được Lu-ca ghi lại trong sách Phúc âm mang tên ông. Nhiều người tin rằng đây là dụ ngôn của Chúa Giê-xu được thuật lại nhằm chuyển tải thông điệp khuyến khích lòng nhân ái dành cho mọi người, và tinh thần của Luật pháp là quan trọng hơn văn tự. Trong dụ ngôn này, Chúa Giê-xu mở rộng định nghĩa về người lân cận vượt quá quan niệm thông thường.

Dụ ngôn
Phúc âm Lu-ca 10: 25-37:
Khi ấy, có một luật gia đứng dậy hỏi để thử Chúa Giê-xu: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời?" Ngài đáp: "Trong luật pháp có chép điều gì? Ngươi
đọc và hiểu thế nào?" Người ấy thưa: "Ngươi phải hết lòng, hết sức lực, hết tâm trí mà kính yêu Chúa là Thiên Chúa ngươi; và yêu thương người lân cận như chính mình." Chúa Giê-xu phán: "Ngươi đáp phải lắm. Hãy làm điều đó thì ngươi sẽ sống."

Nhưng người ấy muốn chứng tỏ mình là công chính nên thưa với Chúa Giê-xu: "Ai là người lân cận tôi?" Chúa Giê-xu đáp: "Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô rơi vào tay bọn cướp. Chúng lột hết quần áo và đánh đập rồi bỏ đi, để mặc người đó dở sống dở chết. Bấy giờ, có một thầy tế lễ tình cờ đi xuống đường đó, thấy nạn nhân thì tránh qua bên kia đường. Tương tự như thế, một người Lê-vi cũng đến nơi, thấy rồi cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần thấy nạn nhân thì động lòng thương liền áp lại, lấy dầu và rượu xức vào vết thương, băng bó lại, rồi đỡ nạn nhân lên con vật của mình và đưa đến quán trọ để săn sóc. Ngày hôm sau, ông lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán và nói: 'Hãy săn sóc người này, nếu tốn hơn nữa, khi trở về tôi sẽ hoàn lại.'

Theo ngươi nghĩ, trong ba người đó, ai là người lân cận với kẻ bị cướp?" Luật gia thưa: "Ấy là người đã bày tỏ lòng thương đối với nạn nhân." Chúa Giê-xu phán: "Hãy đi, làm theo như vậy."

Bối cảnh
Điều quan trọng cần lưu ý ở đây là người dân xứ Sa-ma-ri vào thời ấy bị đố kỵ và khinh miệt như là dân bội giáo trong mắt của người Do Thái, là những người đang quây quần lắng nghe Chúa Giê-xu kể câu chuyện này. Như thế, qua dụ ngôn, Chúa Giê-xu chọn cho mình chủ đề chống phân biệt chủng tộc và đề cao tinh thần hoà hợp giữa các dân tộc. Lúc ấy, cộng đồng người Sa-ma-ri đang bị thu hẹp dần đến mức gần như tuyệt chủng, dẫn đến hệ quả ngày càng ít người gặp gỡ hay tiếp xúc với người Samaria, hoặc ngay cả nghe nói về họ. Hầu như không còn ai lưu ý đến sự tồn tại của họ.

Suốt trong những ngày sống trên đất, Chúa Giê-xu luôn bị những thầy thông giáo và người Pharisee theo đuổi để cáo buộc ngài là gần gũi với những kẻ thâu thuế và phường tội lỗi, "Các người Pharisee và các thầy thông giáo phàn nàn với môn đồ Ngài rằng: Sao các ông lại ăn uống với phường thu thuế và bọn người tội lỗi?". Do đó, trong dụ ngôn này, Chúa Giê-xu khẳng định những lý lẽ khiến ngài hành động như thế, như được thuật lại trong Phúc âm Lu-ca, "Chúa Giê-xu đáp: Không phải người khỏe mạnh cần thầy thuốc, song là người đau ốm. Ta không đến để gọi người công chính, song gọi kẻ có tội ăn năn".

Người bị kẻ cướp trấn lột trong dụ ngôn là hình ảnh của những người đau ốm, thương tật trong tâm linh. Những người đầu tiên gặp kẻ khốn khổ đang nằm bên đường là thầy tư tế và người Lê-vi - những người có nhiệm vụ chăm sóc và giúp đỡ người khác - lại là những kẻ vội vàng tránh đi: một nghịch lý diễn ra trong dụ ngôn này, những người được xã hội xem là đạo cao đức trọng lại là những kẻ vô trách nhiệm, trong khi một kẻ bị xã hội khinh miệt, là người chịu đưa lưng gánh vác. Có lẽ thầy tư tế tự biện minh rằng nếu cứu giúp người mắc nạn thì buộc phải chạm tay vào thân thể một kẻ bội giáo, như thế, theo cách luận giải luật pháp của họ, sẽ trở nên bất khiết và phải thực hiện nghi lễ thanh tẩy theo đòi hỏi của lề luật Moses. Thầy tư tế thà bỏ đi để giữ mình tinh sạch theo qui định dành cho giới tư tế hơn là cứu một mạng người. Người Lê-vi (chức sắc phụng sự trong đền thờ) cũng hành động tương tự. Một thách thức ẩn giấu trong dụ ngôn này, nếu lời biện minh là đúng: Chúng ta chỉ nên thể hiện lòng nhân ái khi thuận tiện, hay cần phải đi ra để tích cực giúp đỡ người khác?" Gia-cơ 4: 17 bình luận: "Cho nên, kẻ biết làm điều lành mà chẳng làm, thì phạm tội."

Ẩn dụ
Ẩn dụ về lòng nhân ái
Phúc âm Mátthêu kể rằng, khi được một người hỏi: "trong sách Moses, điều răn nào là điều răn lớn nhất?" thì Giê-xu đã trả lời: "Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi"; và ngài nói thêm: "ngươi phải yêu người lân cận như chính mình" (Ma-thi-ơ 22: 34-40).

Thế nào là người lân cận (có bản dịch khác là người láng giềng), trong Dụ ngôn Người Samaria nhân lành này, có thể hiểu Giê-xu giải thích đó là bất cứ người nào mà ta gặp, người lân cận ở đây bao gồm tất cả những người đang cần giúp đỡ, và như thế phải tỏ sự nhân ái, biết quan tâm người khác.

Trong bài giảng trên núi, Giê-xu cũng nhắc nhở "Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!" (Ma-thi-ơ 5:7) và "Các ngươi có nghe lời phán rằng: Hãy yêu người lân cận, và hãy ghét kẻ thù nghịch mình. Song ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu cả kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi" (Ma-thi-ơ 5:44)

Ẩn dụ về sự Sa ngã của Loài người và về sự Cứu rỗi
Theo luận giải của John W. Welch:
"Nội dung của dụ ngôn này là rất thú vị và có ý nghĩa ứng dụng thực tế. Nhưng sâu xa hơn nữa, truyền thống lâu đời của Cơ Đốc giáo xem dụ ngôn này là ẩn dụ về sự sa ngã của loài người và ân sủng cứu rỗi Thiên Chúa dành cho họ. Sự thông hiểu ý nghĩa câu chuyện người Sa-ma-ri nhân lành của hội thánh sơ khai được thể hiện trên những tác phẩm nghệ thuật ở một giáo đường danh tiếng xây dựng từ thế kỷ 11 tại thành phố Chartres ở nước Pháp. Trên một trong những cửa sổ của nhà thờ, phần trên vẽ tranh Adam và Eva lúc bị đuổi khỏi vườn Eden do phạm tội, và ngay bên dưới là tranh vẽ về câu chuyện người Sa-ma-ri nhân lành." Cách luận giải theo biểu tượng này là phổ biến trong thời kỳ Trung Cổ... 

Từ thế kỷ thứ 2, Irenaeus ở Pháp và Clement thành Alexandria đã nhận ra rằng người Samaria nhân lành là biểu tượng cho Chúa Giê-xu đang cứu rỗi loài người sa ngã mang đầy thương tích của tội lỗi. Origin, một môn đệ của Clement, giải thích rằng cách luận giải theo phép ẩn dụ này lưu truyền từ các tín hữu Cơ Đốc thời kỳ hội thánh tiên khởi:

Người đàn ông đang trên đường đi xuống biểu trưng cho Adam. Jerusalem là thiên đàng, Jericho là thế gian. Kẻ cướp là quyền lực thù địch. Thầy tư tế là Luật pháp, người Lê-vi là các tiên tri, người Sa-ma-ri là Chúa Giê-xu. Các vết thương là lòng bội nghịch của con người đối với Thiên Chúa, con lừa là thân thể Chúa, quán trọ, nơi đón tiếp mọi người muốn vào, là hội thánh... Người chủ quán trọ là đầu của hội thánh, là người chăm sóc nạn nhân. Và lời hứa của người Samaria sẽ trở lại biểu trưng cho sự tái lâm của Chúa Giê-xu.

Cách giải thích theo phép ẩn dụ này không chỉ được loan truyền bởi các môn đệ đầu tiên của Chúa Giê-xu, mà còn được lưu truyền suốt thời kỳ sơ khai của Cơ Đốc giáo bởi các giáo phụ như Irenaeus, Clement, và Origen. Trong thế kỷ thứ tư và thứ năm có Chrysostom thành Constantinopolis, Ambrose thành Milan, và Augustine ở Bắc Phi".

Ảnh hưởng
Dụ ngôn này là một trong những chuyện kể nổi tiếng nhất trong Kinh Thánh và ảnh hưởng của nó sâu rộng đến nỗi trong văn hoá phương Tây ngày nay, thuật ngữ "Người Sa-ma-ri" được dùng để chỉ người rộng lòng nhân ái, sẵn sàng ra tay giúp đỡ những người khốn khó mà không chút ngại ngần. Tại nhiều quốc gia nói tiếng Anh, luật "người Sa-ma-ri nhân lành" ra đời nhằm miễn thuế tính trên khoản tiền một công dân đóng góp cho các quỹ từ thiện.
Ngày nay câu chuyện người Sa-ma-ri nhân lành được kể lại hầu như khắp nơi trên thế giới, thường được cải biên để thích ứng với những dị biệt về văn hoá và điều kiện xã hội tại nơi chốn mà nó được truyền đến.

Dụ ngôn Đồng bạc bị đánh mất

Dụ ngôn Đồng bạc bị đánh mất là một dụ ngôn của Chúa Giêsu được ghi chép trong Tân Ước, văn bản được thể hiện trong Phúc âm Luca 15:8-10. Đây là dụ ngôn thứ hai trong ba dụ ngôn thí dụ về sự mất mát và tìm lại được mà Chúa Giêsu nói với người Pharisêu và các nhà lãnh đạo Do Thái giáo, khi họ cáo buộc ông chào đón và ăn uống với "người tội lỗi". Hai dụ ngôn mất mát-tìm thấy còn lại là: Đứa con hoang đàng và Chiên lạc mất.

Nội dung
“ Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được? Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất. Cũng thế, tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối. ”
—Luca 15:8-10, Bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các giờ kinh Phụng vụ

Diễn giải
Người phụ nữ được mô tả như là một nông dân nghèo, và mười đồng quan tương ứng với mười ngày tiền lương, cũng có khả năng đó là khoản tiết kiệm của gia đình, cũng có thể
là của hồi môn. Mọi suy đoán có vẻ hợp lý với xã hội Do Thái bấy giờ, và đã nói lên tính cấp bách của người phụ nữ khi tìm kiếm đồng bạc bị mất, và niềm vui mừng của bà lớn đến dường nào khi tìm lại được nó.

Cũng giống như Dụ ngôn Mười trinh nữ, đây là một dụ ngôn nói về phụ nữ xuất hiện ngay sau một dụ ngôn về người đàn ông. Trong tiếng Hy Lạp, cụm từ "bạn bè, hàng xóm" là nói đến phụ nữ.

Việc người phụ nữ này mời "bạn bè, hàng xóm" có thể phản ánh về một bữa ăn mừng, y như việc Chúa Giêsu bị cáo buộc ngồi ăn với "người tội lỗi". Hoạt động cần mẫn tìm kiếm đồng bạc của người phụ nữ có thể tượng trưng "hoạt động của Chúa Giêsu hay của Thiên Chúa Cha trông ngóng, tìm kiếm tội nhân quay trở về. Sự vui mừng của người phục nữ và "bạn bè, hàng xóm" tượng trưng cho sự vui mừng của các thiên thần trên trời cùng với Thiên Chúa.

Dụ ngôn Chiên lạc mất

Chiên lạc mất là dụ ngôn của Chúa Giê-su được ghi lại trong Tân Ước ở Phúc âm Matthew (Mátthêu hoặc Ma-thi-ơ) 18:12-14, và Luca 15:3-7. Có những hình ảnh tương đồng được tìm thấy trong Cựu Ước như: Êdêkien 34:6-12 và Thánh Vịnh 119 và 176.

Nội dung
“ Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc. Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất. ”
—Matthew 18:12-14, Bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các giờ kinh Phụng vụ

Chiên lạc mất là dụ ngôn đầu tiên trong một chuỗi ba dụ ngôn của Chúa Giê-su (Luca chương 15) nhằm trả lời những người Pharisee và những nhà lãnh đạo tôn giáo khác khi họ
kết án Chúa Giê-su "đón chào kẻ có tội và ngồi ăn với họ". Đây không chỉ là một lời cáo buộc, mà còn là cách họ dùng để thách thức tính cách và thẩm quyền giáo huấn của Chúa Giê-su. Cả ba dụ ngôn này đều liên quan đến việc đánh mất một điều quý báu rồi tìm lại được.

Nội dung câu chuyện không xa lạ với những người chăn chiên thời ấy. Nếu một con chiên bị lạc, người chăn sẽ để cả bầy ở lại và đi ra tìm kiếm chiên lạc. Khi tìm được rồi, người ấy vui mừng quá đỗi và muốn bạn hữu đến chung vui với mình. Như vậy, trong một thời điểm nào đó, con chiên lạc được xem là quan trọng hơn những con còn lại trong bầy.

Luận giải
Tân Ước thuật lại lời luận giải của Chúa Giê-su, "trên trời cũng vậy, sẽ vui mừng cho một kẻ có tội ăn năn hơn là chín mươi chín kẻ công bình không cần phải ăn năn". Mối quan tâm đặc biệt đến những kẻ lạc mất, những người bị tổn thương, những mảnh đời bất hạnh và bị lãng quên được dàn trải trong suốt những trang sách của Cựu Ước và Tân Ước. Có lẽ những người Pharisee và các nhà lãnh đạo tôn giáo, theo góc nhìn của họ, ngụ ý đến Thánh vịnh 1.1 (Phước cho người nào chẳng theo mưu kế kẻ dữ/ chẳng đứng trong đường tội nhân/ không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng) khi tìm cách kết án Chúa Giê-su, thì ngài chia sẻ quan điểm của Tiên tri Ezekiel.

Chúa Giê-su so sánh kẻ có tội với chiên lạc mất. Đi ra tìm kiếm người ấy là quan trọng hơn nhiều người không lạc mất. Ngày nay, chúng ta thường chứng kiến nhiều người chấp nhận hi sinh mạng sống để cứu người khác, bởi vì số phận những người đang ở trong sự hiểm nghèo là quan trọng hơn số đông đang sống trong bình an. "Kẻ có tội" là những người đang sống trong sự hiểm nghèo của sự chết đời đời, do đó Chúa Giê-xu quan tâm đến họ càng hơn. Bằng cách ấy, Chúa Giê-xu quay sự cáo buộc của người Pharisee về lại chính họ, và biện minh cho hành động của ngài.

Bài trước: Chuyện ở Sài Gòn

Popular Now