Journey in Life: 09/25/15

Search This Blog

Friday, September 25, 2015

Các quỹ đầu cơ hoạt động như thế nào?

by Thu Hương, shared via Trí thức trẻ.
-----
Các quỹ đầu cơ có lịch sử từ những năm 1940, khi một người đàn ông có tên Alfred Winslow Jones sáng tạo ra một cấu trúc đầu tư cho phép ông đặt cược vào cả hai kịch bản lên giá và xuống giá, đồng thời có thể thu được một khoản phí nhỏ.

Tháng 2 vừa qua, trên thị trường nổi lên thông tin gần một nửa các ông chủ quỹ đầu cơ giàu có nhất ở Anh đã ủng hộ tổng cộng 10 triệu bảng (tương đương 14,8 triệu USD) cho đảng Bảo thủ kể từ năm 2010. Đảng đối lập với đảng này là Lao động ngay lập tức cho rằng đây là chiêu trò trốn thuế của những “người bạn quỹ đầu cơ”.

Đầu tháng 3, chính đảng Lao động cũng bị cho là đã nhận được gần 600.000 bảng từ một quỹ đầu cơ hào phóng suốt từ năm 2012 đến nay. Từ xưa đến nay, các ông chủ quỹ đầu cơ vốn nổi tiếng với các kỹ năng đầu tư và những khối tài sản kếch xù. Tuy nhiên, làm cách nào mà họ có thể chi phối thị trường tài chính và thực sự thì các quỹ đầu cơ hoạt động như thế nào?

Các quỹ đầu cơ có lịch sử từ những năm 1940, khi một người đàn ông có tên Alfred Winslow Jones sáng tạo ra một cấu trúc đầu tư cho phép ông đặt cược vào cả hai kịch bản lên giá và xuống giá, đồng thời có thể thu được một khoản phí nhỏ.

Loại hình đầu tư này phát triển mạnh mẽ trong những năm 1990, khi chiến lược của George Soros đối với đồng bảng Anh buộc nước Anh phải bãi bỏ cơ chế tỷ giá hối đoái ERM. Cũng chính vì vụ này mà ông có biệt danh “người phá vỡ NHTW Anh”.

Các ông trùm quỹ đầu cơ “vi mô” khác như Julian Robertson và Michael Steinhardt cũng đạt được những thành tựu tương tự và được coi là “huyền thoại” trên thị trường. Gần đây hơn, chiến thuật đặt cược vào các chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp dưới chuẩn đã giúp John Paulson trở thành tỷ phú. Tuy nhiên, ngành này cũng có nhiều trường hợp tai tiếng mà điển hình là Bernie Madoff, người đã vào tù vì mô hình lừa đảo Ponzi.

Các quỹ đầu cơ nắm trong tay một lượng tiền rất lớn được điều khiển bởi một nhóm các nhà đầu tư chuyên nghiệp sử dụng các chiến thuật và công cụ đầu tư phức tạp. Ban đầu, mục tiêu của họ là đem về lợi suất dương trên tất cả các thị trường bằng cách bán (đặt cược rằng giá sẽ giảm) hay mua (dựa vào giá tăng) các loại tài sản.

Ví dụ, một quỹ đầu cơ có thể đặt cược vào “gã khổng lồ” dầu khí BP bằng cách mua vào cổ phiếu của hãng này, đồng thời thực hiện chiến lược bán khống trên thị trường. Với chiến thuật này, đặt cược vào một công ty cụ thể đã được phòng vệ trong khi quỹ cũng được bảo vệ trước nguy cơ thị trường sụt giảm trên diện rộng.

Trên thực tế, hiện nay các quỹ đầu cơ thường cố gắng khai thác những chênh lệch giá khá nhỏ trên thị trường. Chiến thuật này mang lại lợi nhuận khá lớn nếu khoản đầu tư sử dụng tỷ lệ đòn bẩy cao. Đồng thời, phương pháp tiếp cận này có thể được áp dụng trên tất cả các loại thị trường, từ cổ phiếu tới trái phiếu, tiền tệ hay cả những lĩnh vực đặc biệt như các vụ M&A.

Vì chiến thuật của các quỹ đầu cơ đòi hỏi nhiều kỹ năng, các quỹ đầu cơ thường đòi mức phí cao hơn so với quỹ tương hỗ. Thông thường, họ thu mức phí 2% trên số tiền mà họ quản lý, cộng với 20% phí hoạt động được tính toán dựa trên lợi nhuận thu được. Cách tính phí như trên giúp các nhà quản lý quỹ thu được lợi nhuận lớn (ví dụ, Soros được cho là có tài sản trị giá 24 tỷ USD). Mức phí cao cũng không phải là trở ngại đối với sự tăng trưởng của ngành này: số tài sản mà các quỹ đầu cơ quản lý đã tăng từ 40 tỷ USD trong năm 1990 lên gần 3.000 tỷ USD tính đến cuối năm 2014.

Tuy nhiên, mọi thứ đang thay đổi. Các nhà quản lý đang theo dõi các quỹ đầu cơ một cách sát sao, trong khi nhà đầu tư đòi hỏi mức phí thấp hơn. Các quỹ đầu cơ ghét bị so sánh với các loại hình đầu tư khác, tuy nhiên các quỹ này đang hoạt động kém hơn so với một quỹ thông thường gồm 60% là cổ phiếu và 40% là trái phiếu kho bạc. Năm ngoái, trung bình một quỹ đầu cơ đem về lợi suất 3,3% trong khi chỉ số S&P 500 đem về lợi suất lên tới 11,4%. Một số nhà đầu tư định chế (như CalPERS) đã bỏ qua các quỹ đầu cơ vì mức phí quá cao và chiến thuật của họ quá phức tạp.

Tuy nhiên, dù lời tiên đoán về cái chết của các quỹ đầu cơ đã được đưa ra nhiều lần, trong năm 2014, số quỹ mới ra đời vẫn nhiều hơn số quỹ phải đóng cửa.

Thu Hương
The Economist

Vì sao thế giới nghiện vay nợ?

Biên dịch: Lưu Tuấn Anh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp, shared via nghiencuuquocte.net.
-----
NỢ là “không khí cần cho sự sống của thương mại hiện đại”. Những lời này được Daniel Webster, một thượng nghị sĩ Mỹ phát biểu vào năm 1834 khi thị trường trái phiếu của Mỹ vẫn còn trong giai đoạn trứng nước. Ngày nay thế giới đang bị tê liệt bởi quá nhiều nợ. Các khoản vay của các hộ gia đình, các chính phủ, các doanh nghiệp và các công ty tài chính tăng từ 246% GDP năm 2000 lên 286% ngày nay.

Kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu vào năm 2007, tỉ lệ nợ trên GDP của 41 trong 47 nền kinh tế lớn đã tăng lên, theo theo dõi của McKinsey, một công ty tư vấn. Với mỗi một đô la tăng thêm của sản lượng, thế giới lại tạo ra một khoản nợ lớn hơn một đô la. Khi mạng lưới các khoản nợ dày đặc hơn bao giờ hết này co lại quá một mức độ nào đó thì điều đó là không tốt đối với tăng trưởng, làm cho các doanh nghiệp và các hộ gia đình dễ bị tổn thưởng trước những cú sốc và tình trạng vỡ nợ gây thiệt hại lớn. Vì sao thế giới lại nghiện vay nợ đến vậy?

Có hai nguyên nhân cơ bản cho sự thèm khát nợ. Đầu tiên, hệ thống thuế tạo ra những đặc quyền cho những người vay nợ. Các khoản trả lãi vay thế chấp được khấu trừ thuế ở gần một nửa các nước giàu có và một vài quốc gia mới nổi, ví dụ như Ấn Độ. Và trên khắp thế giới, các công ty có thể khẩu trừ chi phí lãi vay khỏi lợi nhuận chịu thuế. Điều đó tạo một động lực để phát hành nợ (ví dụ như trái phiếu doanh nghiệp – NHĐ) thay cho phát hành thêm cổ phiếu. Chỉ một phần tư tổng tài sản của thế giới hiện nay là nằm ở dạng cổ phiếu, thứ vốn có tính linh hoạt cao hơn nhiều so với trái phiếu bởi vì cổ tức chi trả cho các nhà đầu tư có thể bị cắt giảm mà không gây ra tình trạng vỡ nợ.

Nguyên nhân cơ bản thứ hai liên quan đến tâm lý của con người. Con người đánh giá quá cao sự an toàn của các khoản thanh toán cố định mà trái phiếu mang lại: giống như một chiếc áo ngực, nó che giấu sự “lên xuống” của tự nhiên. Họ cũng có xu hướng cho rằng giá cả của tài sản, đặc biệt là giá nhà, sẽ tăng lên. Sử dụng nợ để mua tài sản đang tăng giá sẽ thúc đẩy lợi nhuận.

Ba xu thế toàn cầu mạnh mẽ đã phóng đại ảnh hưởng của thuế và tâm lý. Đầu tiên, các nhà xuất khẩu lớn như Trung Quốc đã tích lũy những khoản dự trữ ngoại tệ lớn vốn phải được đầu tư ra nước ngoài. Họ ưa chuộng trái phiếu bởi vì mua nhiều cổ phiếu ở các công ty nước ngoài có thể gây nên tranh cãi. Khoảng 75% sự gia tăng sở hữu của người nước ngoài đối với chứng khoán Mỹ trong giai đoạn 2004-08 là nằm ở dạng trái phiếu, chủ yếu là thế chấp và chứng khoán doanh nghiệp.

Thứ hai, sự bất bình đẳng không giúp giảm nợ. Người giàu phải quay vòng khoản tiết kiệm của họ vào hệ thống tài chính. Những người cần vốn thì thường nghèo và thực tế nợ là cách duy nhất để rót tiền cho họ – bạn không thể mua cổ phiếu của một hộ gia đình “dưới chuẩn”.

Chất xúc tác thứ ba là ngành tài chính. Động lực của nó là tạo ra các khoản nợ cho người khác nhằm sinh ra các khoản phí. Các khoản đảm bảo quá lớn không thể để sụp đổ cũng tạo cho các ngân hàng một động lực để vay nợ trên bảng cân đối kế toán của mình.

Không có cách nào dễ dàng làm cho thế giới từ bỏ nợ. Tuy nhiên điểm khởi đầu là cải cách thuế. Các đặc quyền cho nợ phản ánh quyết định được đưa ra hơn một thế kỉ trước bởi các chính trị gia, những người không thể tưởng tượng được mức độ nợ nần ngày nay. Anh chấp nhận tiền trả lãi được khấu trừ thuế cho các công ty vào năm 1853. Miễn thuế đối với nợ ở Châu Âu, Mỹ và Anh tương đương khoảng 2-5% GDP vào năm 2008 – nhiều hơn cả ngân sách chi tiêu cho quốc phòng. Bởi vì lãi suất là rất thấp, trợ cấp hiện nay đã giảm xuống còn 1-2%. Bây giờ chính là thời điểm thích hợp để các chính phủ hành động. Khi lãi suất tăng trở lại lần nữa, giá trị của các khoản trợ cấp sẽ tăng lên, và động lực để vay nợ sẽ lớn hơn.

Tuấn Anh
The Economist

Vì sao các thành phố Trung Hoa ngập lụt?

Photo courtesy Ernie.

Tối ngày 7 Tháng 8, khi giờ cao điểm thứ Sáu bắt đầu, một cơn bão ngắn đã làm ngập một số khu vực ở Bắc Kinh. Mưa trong ba giờ đã làm ngập nhiều tuyến đường và giao thông bị tê liệt. Nhiều hình ảnh hành khách ướt sũng lê bước trên đường nước ngập sâu đến đầu gối đã sớm được đăng trên các phương tiện truyền thông xã hội. Bắc Kinh, thành phố Trung Hoa bụi bặm và không giáp biển, "giờ đây có vẻ đẹp biển khơi," một mircoblogger mỉa mai nhận xét. Người dân thành phố Trung Hoa đang dần trở nên quá quen thuộc với những sự việc như này. Kể từ năm 2008, số lượng các thành phố Trung Hoa bị ảnh hưởng bởi lũ lụt đã tăng hơn gấp đôi, trong khi đó các con sông chính của nước này chủ yếu vẫn ổn định. Năm 2013, tính chung có hơn 200 thành phố đã bị ngập. Vì sao quá nhiều thành phố Trung Hoa ngập lụt đến vậy?

Câu trả lời ngắn gọn là tốc độ mở rộng đô thị của nước này đã phát triển nhanh hơn nhiều so với cơ sở hạ tầng thoát nước. Chính phủ đã bắt đầu nhận ra vấn đề ngập lụt vào cuối những năm 1990, sau một trận lụt lớn dọc theo sông Dương Tử đã cướp đi hàng ngàn mạng người. Nhưng các nhà hoạch định chính sách ở Bắc Kinh lại coi đây là một vấn đề nông thôn. Họ đổ tiền vào việc xây dựng các đập thủy điện khổng lồ, trong khi hệ thống thoát nước đô thị hầu như bị bỏ quên. Theo Zhou Yuwen, giáo sư xây dựng tại trường Đại học Công nghệ Bắc Kinh, hầu hết cống rãnh ở nước này không thể đối phó được với mức lượng mưa mà 100% sẽ xảy ra trong bất kỳ năm nào. Nói cách khác, chắc chắn chỉ những trận mưa bình thường cũng khiến các thành phố bị tràn ngập - hàng năm. Tệ hơn nữa, các thành phố ở Trung Hoa đã mở rộng nhanh chóng, một số trực tiếp vào cả những vùng đất thấp gần sông dễ bị lũ lụt (flood plain). Để phát triển, người ta lấp cả sông và hồ. Kể từ năm 1998, diện tích đất đô thị ở Trung Hoa đã tăng hơn gấp đôi, đạt tổng cộng 50.000 km vuông vào cuối năm ngoái, và gần như tất cả số đó rải bê tông và nhựa đường.

Quy hoạch độ thị “hăng máu” ở Trung Hoa càng khiến tất cả điều này trở nên trầm trọng hơn. Ví dụ, khi các nhà quy hoạch ở Bắc Kinh thiết kế các con đường của thành phố một vài thập kỷ trước đây, họ đã chọn cầu chui thay vì đường vượt trên cao vì lý do thẩm mỹ, và chi phí cũng rẻ hơn. Cuối cùng, chúng cũng trở thành nguyên nhân cụ thể của nỗi đau ướt sũng này. Bắc Kinh có 149 hầm như vậy ở các quận thành thị. Với hệ thống cống và bơm không đầy đủ, thậm chí chỉ một trận mưa lớn duy nhất cũng có thể biến chúng thành những bể bơi, và khiến giao thông phải ngừng trệ.

Vấn đề ngập lụt đô thị không chỉ riêng Trung Hoa, nhưng tốc độ đô thị hóa chóng mặt của nước này đã gây nên những thiệt hại lớn gấp nhiều lần. Với tình trạng biến đổi khí hậu trong thời gian không xa, nhiều thành phố ở nước này sẽ phải rất vất vả đối phó với tần suất gia tăng các điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Một nghiên cứu toàn cầu về thiệt hại lũ lụt, công bố trên tạp chí Nature Climate Change năm 2013, xếp hạng các đô thị ở phía Nam Quảng Châu là dễ bị tổn thương nhất trong số 136 thành phố ven biển lớn trên thế giới, tính theo thiệt hại tiềm ẩn. Nếu không có những biện pháp dự tính cho tương lai, đến năm 2050, thành phố sẽ có thể bị tàn phá gần 13,2 tỷ USD mỗi năm. Điều này thật khó chịu, và cũng thật nghịch lý, khi các thành phố Trung Hoa cũng đang rất cần nước. Hơn 400 trong số 600 các thành phố lớn nhất của nước này phải đối mặt với tình trạng thiếu nước thường xuyên.

Đoàn Khải
The Economist

Vì sao các doanh nghiệp Mỹ lần lượt "rời bỏ quê hương"?

by Tuệ Minh, shared via infonet.vn.
-----
Photo credit: The Economist.


Ngày càng có nhiều doanh nghiệp Mỹ tìm cách sáp nhập với các công ty nước ngoài và rút trụ sở sang một nước thứ ba. Nguyên nhân gì ẩn sau sự ra đi này?

Các công ty Mỹ đang tiến hành chuyển dịch. Ngày 6/8 vừa qua, công ty CF, một nhà sản xuất phân bón và tập đoàn Coca-Cola đồng loạt công bố kế hoạch chuyển trụ sở sang Anh sau khi chính thức hợp nhất với các công ty không thuộc Mỹ.

Năm ngày sau, Terex, chuyên sản xuất các loại cần trục, tuyên bố sáp nhập, chuyển toàn bộ trụ sở hợp pháp của công ty từ Westport, bang Connecticut tới thị trấn nhỏ bé Hyvinkää của Phần Lan. Vậy lý do gì khiến hàng loạt công ty Mỹ dịch chuyển ra nước ngoài như vậy?

Trong hơn 30 năm qua, các công ty, đặc biệt là công ty của Mỹ, đang dần hợp nhất với các doanh nghiệp nước ngoài hoặc thâu tóm toàn bộ đối tác với mục đích dịch chuyển các cơ sở đóng thuế ra nước ngoài.

Hoạt động này bắt đầu từ năm 1982 khi công ty xây dựng McDermott “chơi trội” bằng cách chuyển trụ sở từ New Orleans sang Panama, nơi có công ty con của McDermott. Kể từ đó, hình thức được gọi là “chuyển đổi doanh nghiệp” này đã thu hút rất nhiều các công ty Mỹ tham gia nhằm gia tăng doanh thu ở nước ngoài với mục đích giảm tải các hóa đơn thuế trong nước.

Sự chuyển đổi này có thể không ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày của công ty, tuy nhiên bằng việc thay đổi quốc gia đánh thuế, nó có thể tạo ra một lối thoát cho các doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là nước Mỹ sẽ bị giảm đáng kể doanh thu, vì vậy chính phủ Hoa Kỳ đang cố gắng ngăn các công ty “vượt biên” và mang lợi nhuận đi cùng.

Để tiến hành chuyển đổi doanh nghiệp thành công, công thức nghe có vẻ đơn giản. Khi công ty A (có trụ sở ở Mỹ) thu nạp công ty B (trụ sở ở Ireland), các nhà quản lý của doanh nghiệp hợp nhất A+B cần phải chọn một nơi làm địa điểm cố định.

Nếu họ chọn Mỹ, họ sẽ phải đóng một khoản thuế sáp nhập tương đối cao, lên đến 39%, trên tổng số toàn bộ lợi nhuận ở nước ngoài mà công ty này đưa về nước và mức thu đó được Sở thuế lợi tức Mỹ đánh ở mức toàn cầu.

Nếu họ chọn Ireland, họ sẽ chỉ phải trả mức thuế thấp hơn rất nhiều, là 12,5% tổng lợi nhuận kiếm được ở đất nước này, tuy nhiên, điều đáng nói là mức thuế này chỉ áp dụng cho phần lãi của công ty con ở nước ngoài vì Ireland, cũng giống như hầu hết các nước khác, đánh thuế dựa trên nền tảng lãnh thổ. Điều đó có nghĩa là, công ty này vẫn phải trả khoản thuế 39% nếu lợi nhuận làm ra từ Mỹ, 20% nếu có doanh thu từ Anh hoặc 0% nếu kiếm tiền ở Bermuda.

Lựa chọn thứ ba là tìm một nước trung lập, như Vương quốc Anh hay Hà Lan, vốn có tỉ suất đánh thuế thấp nhất. Một vài công ty toàn cầu đã lựa chọn ở lại Mỹ chủ yếu vì người tiêu dùng trong nước. Năm ngoái, ông chủ của Walgreen đã hủy bỏ kế hoạch tịnh tiến sang châu Âu sau khi bị khách hàng kêu gọi tẩy chay. Sở thuế lợi tức Mỹ cũng đã thành công trong việc thắt chặt một số luật lệ bắt đầu từ tháng 9 tới, điều này sẽ khiến cho các công ty Mỹ gặp khó khăn hơn nếu muốn chuyển dịch ra nước ngoài.

Tuy nhiên nếu chỉ đơn thuần gây khó dễ cho các doanh nghiệp bằng luật pháp thì chưa phải là cách giải quyết thỏa đáng. Ngược lại, nó còn khiến các công ty Mỹ như bị “cắt gân chân” và khó có thể cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài. Điều này đã thực sự xảy ra khi các tài sản Mỹ, trị giá tới 315 tỷ USD đã bị các nhà đầu tư nước ngoài hâu tóm trong năm qua. Nếu như mã thuế của Mỹ vẫn đứng ngoài trật tự còn lại của thế giới thì các công ty của nước này vẫn sẽ tìm mọi cách để “bơi” đến một vùng đất hứa hẹn hơn, dù cho Sở thuế lợi tức có thích điều đó hay không.

Tuệ Minh
The Economist

Vì sao thịt lợn rất quan trọng ở Trung Hoa?

CHINA has a seemingly insatiable appetite for pork. More than half of all the pigs in the entire world live there. Why are pigs so important to China?


nhu cầu người dân cao -> trợ cấp, ổn định giá -> ổn định chính trị...
mua công ty sản xuất xúc xích lớn nhất Mỹ,
mua đất ở nước ngoài với diện tích lớn hơn cả Bồ Đào Nha để nuôi lợn -> ở Việt Nam? 

Vì sao đồng tiền vàng của Nhà nước Hồi giáo không thể thay thế hệ thống ngân hàng toàn cầu?

Photo credit: The Economist.

Từ lâu, những người ủng hộ bản vị vàng đã bị những nhà kinh tế chính thống coi là những kẻ lập dị đeo cà vạt. Điều này không còn đúng. Gia nhập hàng ngũ những người thích kim bản vị (gold bug) hiện là một nhóm các cá nhân mà gần như chắc chắn họ sẽ không bao giờ đeo cà vạt: tổ chức gọi là Nhà nước Hồi giáo. Ngày 29 tháng 8, al-Hayat, nhánh truyển thông nước ngoài của tổ chức, công bố một đoạn video 55 phút lên án 'hệ thống ngân hàng với dự trữ một phần' (the fractional reserve banking system), và ủng hộ "sự trở lại của công cụ đo lường tài sản trên thế giới tối thượng": vàng.

"Sự nổi dậy của Khilafah: Ngày trở lại của đồng vàng Dinar", tạo thành một câu chào hàng kì lạ cho đồng tiền vàng mới của Nhà nước Hồi giáo. Bao gồm rất nhiều chủ đề khiến "tối tăm mặt mũi", từ tầm quan trọng của vàng như một phương tiện trao đổi đến "sự trỗi dậy đen tối của tiền giấy, ra đời từ ý tưởng ma quỷ của các ngân hàng", tổ chức này lập luận rằng nước Mỹ đã có thể tránh được lạm phát phi mã và duy trì bá quyền quân sự phần lớn nhờ vào hệ thống đô-la dầu mỏ (petrodollar). Nhà nước Hồi giáo hy vọng với sự ra đời của đồng dinar, tất cả dầu sẽ được trả bằng vàng thay vì được định giá bằng đô-la, qua đó "khai án tử đối với tiền giấy áp bức này" và đánh gục nước Mỹ (...to her knees). Các biểu đồ cho thấy cung tiền tăng dần của nước Mỹ và sự phá giá của đồng đô-la là bằng chứng về sự nguy hiểm của việc in tiền. Đoạn video cũng đăng hình các nhà phân tích tài chính ủng hộ vàng. Ngay cả Ron Paul, một cựu ứng cử viên tổng thống theo trường phái tự do chủ nghĩa, xuất hiện và lên cáo lạm phát như kẻ cắp.

Kế hoạch này của Nhà nước Hồi giáo có ba vấn đề gần như hiển nhiên. Đầu tiên, đồng tiền có màu vàng của nó không khác gì các phiên bản khác của tiêu chuẩn vàng. Giá trị của đồng Dinar sẽ được quyết định bởi cung và cầu đối với vàng, phơi bày nó trước những rủi ro biến động giá vàng. Một sự sụt giảm cung vàng sẽ như một chính sách thắt chặt tiền tệ; và có thể gây ra suy thoái. Thứ hai, một đồng tiền do một tổ chức khủng bố chống lưng hiển nhiên có vấn đề về độ tin cậy: bên cạnh thực tế rằng nó không thể được kinh doanh hợp pháp, rất ít người có lẽ sẽ sử dụng đồng tiền này để mua bán dầu nếu nó chỉ có sẵn ở dạng đồng xu, hoặc các hình thức khác mà dựa vào lòng tin đối với Nhà nước Hồi giáo.

Cuối cùng, để kết thúc hệ thống đô-la dầu mỏ đòi hỏi tổ chức Nhà nước Hồi giáo đầu tiên phải nắm giữ một lượng sản xuất dầu lớn hơn nhiều ở Trung Đông và sau đó thuyết phục các nước đồng ý mua bán với tổ chức này. Ngay cả khi Nhà nước Hồi giáo đã thành công trong việc trở thành một nước xuất khẩu dầu lớn, sức mạnh của đồng USD còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác chứ không chỉ là việc sử dụng nó trong buôn bán dầu mỏ. Chủ nghĩa tư bản Mỹ có vẻ sẽ vẫn an toàn trong một khoảng thời gian sắp tới.

Đoàn Khải
The Economist

Ẩn số lạm phát mục tiêu 2% của Fed

by Minh Phương, shared via vinanet.vn.
-----
Lạm phát 2% được coi là mục tiêu thích hợp nhất trong một thời gian dài trong điều hành chính sách tiền tệ của một ngân hàng trung ương.

Cuộc họp chính sách của Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ diễn ra vào ngày 16-17/9 tới. Fed được cho là sẽ quyết định tăng lãi suất lần đầu tiên kể từ năm 2006 sau hàng loạt tín hiệu tích cực của nền kinh tế.

Mục tiêu thị trường lao động của Fed đã đạt được với tỷ lệ thất nghiệp tháng 8 xuống 5,1%, mức độ mà Fed cho rằng kinh tế Mỹ đang ở giai đoạn toàn dụng lao động. Trong khi đó, lạm phát tháng 8 mới chỉ ở mức 0,3%, quá xa mục tiêu 2%. Đó có thể là nguyên nhân khiến Fed trì hoãn nâng lãi suất đặc biệt là trong bối cảnh thị trường toàn cầu biến động mạnh.


Các ngân hàng trung ương có nhiệm vụ điều hành chính sách tiền tệ, hay nói đơn giản là công việc điều tiết lượng tiền ra vào nền kinh tế. Trong suốt một thời gian dài, điều hành chính sách tiền tệ chỉ đơn thuần là ổn định tỷ giá để hỗ trợ thương mại toàn cầu.

Tuy nhiên, dần dần, tỷ giá cho thấy đây không phải là công cụ hoàn hảo cho các nhà hoạch định chính sách. Hút bớt tiền khỏi nền kinh tế để cứu nội tệ và bảo vệ tỷ giá có thể khiến nền kinh tế suy giảm. Chính những chính sách này đã gây ra cuộc Đại suy thoái những năm 1930.

Sau Đại suy thoái, các chính phủ ưu tiên vấn đề thị trường lao động trong nước. Các ngân hàng đánh giá nền kinh tế thông qua mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp – đường cong Phillips.

Tuy nhiên, do tình trạng suy giảm kinh tế những năm 1970, các chuyên gia kinh tế nhận ra rằng mối quan hệ này dần trở nên lỏng lẻo qua thời gian khi người ta bắt đầu phân tích điều gì đang xảy ra và điều chỉnh kỳ vọng lạm phát trong tương lai. Tác động kích thích của tăng trưởng giá nhanh hơn cũng phai nhạt dần khiến nhiều nền kinh tế đồng thời xảy ra tình trạng lạm phát cao và thất nghiệp cao.

Các chuyên gia kinh tế nhận ra rằng, cách tốt nhất một ngân hàng trung ương có thể làm để thúc đẩy tăng trưởng dài hạn đó là làm cho định hướng chính sách trở nên rõ ràng hơn và dễ đoán hơn đối với công chúng.

Để làm được điều này, các ngân hàng trung ương cần lựa chọn một biến số kinh tế để đặt mục tiêu, nói cách khác là một biến số có thể phản ánh sức khỏe nền kinh tế và ngân hàng trung ương có thể kiểm soát được.

Mục tiêu công khai, rõ ràng sẽ giúp ổn định kinh tế (thị trường sẽ dễ đoán định chính sách hơn khi nền kinh tế không đạt được mục tiêu, do đó, tăng chi tiêu và đầu tư sẽ giúp ngân hàng trung ương đưa nền kinh tế trở lại đúng hướng).

Milton Friedman, chuyên gia kinh tế đoạt giải Nobel, cho rằng, các ngân hàng trung ương nên đặt mục tiêu tăng trưởng cung tiền. Các ngân hàng trung ương đã thử áp dụng biện pháp này một thời gian nhưng nhận ra rằng khi tăng trưởng cung tiền đạt mục tiêu, mối quan hệ giữa tăng trưởng cung tiền và sức khỏe nền kinh tế sẽ đổ vỡ giống như từng xảy ra với đường cong Phillips.

Nhiều ngân hàng trung ương sau đó đã đặt mục tiêu lạm phát. Lạm phát là biến số có thể theo dõi, và là chỉ báo đáng tin cậy của nền kinh tế. Ngân hàng trung ương New Zealand là ngân hàng đầu tiên áp dụng mục tiêu lạm phát vào năm 1990. Fed đã theo đuổi mục tiêu lạm phát không chính thức trong một thời gian dài và chỉ đưa thành mục tiêu chính thức vào tháng 1/2012, cụ thể là mục tiêu lạm phát 2%. Lạm phát 2% được coi là mục tiêu thích hợp nhất trong một thời gian dài.

Vì sao là 2%?
Xét về khía cạnh kinh tế, lạm phát cao hơn nghĩa là giá cả đắt đỏ hơn. Lạm phát cao hơn cũng thường biến động hơn và do một số loại giá cả có thể điều chỉnh dễ dàng hơn, nên lạm phát cao hơn có thể phản ánh không chính xác về nền kinh tế. Tuy nhiên, lạm phát thấp không có nghĩa là không có rủi ro. Khi đó, các doanh nghiệp sẽ thấy khó cắt giảm lương trong nhiều hoàn cảnh khác nhau ví dụ như khi kinh tế suy thoái làm giảm nhu cầu nhân công. Tuy nhiên, nếu lạm phát cao, chi phí nhân công thực tế có thể giảm ngay cả khi lương thực tế không giảm do đó doanh nghiệp chịu ít áp lực sa thải nhân công khi kinh tế suy giảm.

Hơn nữa, lạm phát thấp cũng đi liền với lãi suất thấp (do các ngân hàng sẽ tính thêm yếu tố lạm phát khi cho vay dài hạn). Khi lãi suất cực thấp, một ngân hàng trung ương có thể sẽ giảm lãi suất chủ chốt xuống 0% để khắc phục những yếu kém của nền kinh tế. Do ngân hàng trung ương không thể dễ dàng hạ lãi suất xuống dưới 0%, do đó, lạm phát thấp sẽ làm tăng nguy cơ một ngân hàng trung ương sẽ trở nên vô dụng trước một cuộc suy thoái kinh tế mạnh.

Đầu những năm 1990, khi nhiều ngân hàng trung ương quyết định nên chọn loại lãi suất mục tiêu nào, thì họ cho rằng lãi suất cận 0% sẽ hiếm khi trở thành vấn đề với nền kinh tế nếu lạm phát ở mức 2%. Đánh giá này tuy nhiên không đúng. Vài thập kỷ sau đó, hầu hết các nước phát triển đều bế tắc với vấn đề lãi suất cận 0% và lạm phát vẫn thấp hơn mục tiêu. Bất cứ Fed quyết định như thế nào trong tuần này, thì dường như các ngân hàng trung ương cần một lần nữa và sớm thay đổi mục tiêu.

Minh Phương
The Economist

Mô thức giáo dục mới: Dạy con ở nhà

-----
Ở ta bắt đầu nóng chuyện "tự dạy con tại nhà không cần đến trường". Cái này có từ lâu trên thế giới. Ở Nhật cũng có. Nhật còn có "đào tạo từ xa" đối với cả trung học phổ thông. Học sinh tự học ở nhà một năm kiểm tra 10 lần và công nhận tốt nghiệp như chính quy. Định kỳ sẽ có chuyên gia giáo dục tới gia đình thăm và đưa ra lời khuyên đối với việc học tập.

Việc tự dạy con học có ưu điểm là bố mẹ và con có thể tự lựa chọn nội dung, phương pháp học tập phù hợp với khí chất, cá tính, thiên hướng của con, tránh được các phiền nhiễu phi giáo dục, giảm chi phí.... nhưng có cái dở là bố mẹ phải biết hi sinh công việc để dành thời gian cho con.

Một điều nữa nên cẩn thận khi tự dạy con học và con không đến trường là phải đảm bảo quá trình "xã hội hóa" của con được diễn ra bình thường. Tính xã hội chỉ hình thành trong mối quan hệ tương tác với tập thể, cộng đồng và các bạn ở nhiều độ tuổi. Để khắc phục thì các nhóm phụ huynh có cùng nguyện vọng có thể hợp lại để tổ chức các hoạt động cộng đồng.

Có lẽ trong một vài năm nữa ở Việt Nam cũng sẽ có hình thức "Free School" như ở Nhật nơi dung nạp những trẻ không muốn đi học ở các trường bình thường, không thể sống trong xã hội hoặc không tìm thấy hứng thú gì trong cuộc sống.

p/s: Cá nhân tôi cũng thích và cũng sẽ dạy con những gì có thể đặc biệt là việc khám phá thế giới tự nhiên và xã hội địa phương ở xung quanh. Thứ hiện tại đang mờ nhạt và rất yếu ở Việt Nam.

Popular Now