Journey in Life: October 2016

Monday, October 31, 2016

Tsukiji, chợ cá lớn nhất thế giới: Tạm biệt và cảm ơn

Photo courtesy elminium.

Ngày 5 tháng 1, trong nghi lễ trước bình minh có truyền thống hàng thập kỷ, tiếng chuông nhỏ vang lên báo hiệu bắt đầu cuộc đấu giá đầu tiên của năm tại Tsukiji, khu chợ cá sầm uất của Tokyo. Ngôi sao của buổi đấu giá chính là chú cá ngừ lấp lánh ánh bạc với trọng lượng 200kg, được bán cho một chuỗi nhà hàng sushi với giá 14 triệu yên Nhật (tương đương 118.000 USD). Nhưng vụ đấu giá lại có bầu không khí đượm buồn với sự hoài niệm, thậm chí là cay đắng. Giờ này sang năm, khu chợ bán buôn này, chợ cá sôi động nhất của thế giới, sẽ biến mất.

Nằm giữa sông Sumida và khu mua sắm Ginza, Tsukiji đang cố gắng cựa quậy giữa những khoảng trống còn lại. Chừng 60.000 người làm việc dưới tấm mái dột của khu chợ, và hàng trăm xe nâng hàng, vận chuyển tất cả mọi thứ từ nhím biển cho đến thịt cá voi, chao đảo trên nền đất gập ghềnh. Chính quyền thành phố, chủ sở hữu của khu chợ, muốn chuyển nó đi.

Ý tưởng đó đã không được ủng hộ. Các tiểu thương tức giận vì bị xua đến một khu vực mới toanh và nghèo nàn ở phía nam. Khu chợ mới đang được xây dựng trên một bến tàu, đất ở đây bị ô nhiễm do nguồn nước thải độc hại từ một nhà máy sản xuất gas cũ. Công cuộc thu dọn và các cuộc đàm phán đã trì hoãn việc di chuyển trong hơn một thập kỷ.

Cú đánh cuối cùng vào chợ cá chính là việc Tokyo giành được quyền đăng cai tổ chức Thế vận hội 2020. Một trục giao thông mới sẽ cắt ngang qua Tsukiji, đưa các khách tham quan đến các địa điểm thi đấu. Theo Yutaka Maeyasui, người phụ trách kế hoạch di chuyển khu chợ, một phần của nó sẽ trở thành trung tâm báo chí phục vụ thế vận hội. “Chúng tôi không còn nhiều thời gian nữa,” ông nói và nhìn quanh cái văn phòng lụp xụp của mình. Khu vực này đã trở nên chật chội, cũ kỹ và đông đúc. Một trận động đất có thể kéo sụp tất cả.

Nhiều con thuyền neo đậu phía dưới văn phòng của ông Maeyasui đều thuộc về những gia đình bắt đầu kinh doanh ở đây từ khi khu chợ mở cửa vào những năm 1930, sau khi thảm họa động đất Kanto năm 1923 san phẳng một khu chợ khác được dựng lên trước đó. Chieko Oyoshi, chủ một cửa hàng kinh doanh cá ngừ được truyền lại từ thời ông nội, nói: "Bạn sẽ không tìm được bất kỳ ai ở đây ủng hộ việc di dời.” Các chuỗi siêu thị lớn và các khách mua buôn đã nuốt trọn những mối hàng của bà và liên hệ trực tiếp với các cảng cá và các trang trại cung cấp cho Tsukiji. Hành động này sẽ giết chết bất kỳ cơ sở buôn bán nào còn sót lại, bà than thở.

Là một trong những mối liên kết cuối cùng với thời quá khứ trọng thương của thành phố nên Tsukiji dường như vẫn không thay đổi nhiều trong nhiều thập kỳ đã qua. Những người đàn ông vẫn có thói quen liếm qua đầu bút chì trước khi đặt bút viết. Một cái máy vi tính mới sẽ chết vì cô đơn không ai ngó ngàng tới. Một trong số ít các thiết bị hiện đại ở đây là chiếc đồng hồ kỹ thuật số đếm ngược từng ngày cho đến tháng 11, khi hầu hết các hoạt động buôn bán sẽ dừng lại, cùng với cảnh sầm uất sôi động của Tsukiji.

Lưu Thúy
The Economist


Sinh nở ở Nhật Bản: Không đau đẻ sao có con

Photo courtesy Ashley Van Haeften.

Vì sao phụ nữ có thai ở Nhật Bản không dùng thuốc giảm đau.

Nhà hộ sinh Mejiro ở một quận phía bắc Tokyo yên tĩnh một cách kỳ lạ: không có tiếng trẻ con khóc, cũng không có tiếng rên la của sản phụ trong cơn đau đẻ. Đó là bởi vì không có ca sinh nào ở đó cả, nữ hộ sinh trưởng Yuko Hoshino giải thích. Chỉ có 4-6 trẻ được sinh ra ở đây mỗi tháng, so với 14-16 trẻ của một vài năm trước đây. Vấn đề không chỉ ở tỷ lệ sinh thấp của Nhật Bản. "Hiện nay, số phụ nữ muốn sinh con tự nhiên càng ít đi," cô nói một cách buồn bã. "Họ thích các bác sĩ ở bệnh viện lớn hơn là những nữ hộ sinh tại nhà trạm xá."

Quan điểm về mang thai và sinh nở ở Nhật Bản đang dần giống với hầu hết các nước giàu, nhưng vẫn tồn tại một số khác biệt. Phụ nữ thường rất mong manh yết ớt trong suốt thai kỳ. Và khi sinh, họ sẽ phải chịu đựng đau đớn khổ sở. Thuốc giảm đau được sử dụng rất dè sẻn, nếu không còn cách nào khác. Theo các bác sĩ, số phụ nữ muốn gây tê ngoài màng cứng (tiêm chất gây mê vào cột sống) ngày càng tăng, nhưng không mấy trung tâm sản khoa, kể cả bệnh viện, cung cấp dịch vụ này, và hầu như không bao giờ thực hiện ngoài giờ làm việc. Dù sao đi nữa, khoản tiền 420.000 yên (tương đương 4.053 USD) mà chương trình bảo hiểm y tế quốc gia chi trả cho một lần sinh nở cũng thường không đủ cho một mũi tiêm như vậy.

Tuy nhiên, đối với hầu hết chị em, chi phí cũng như thời gian phục hồi dài sau một lần gây tê màng cứng đều không phải là vấn đề. Truyền thống Phật giáo ở nước này cho rằng phụ nữ nên vui vẻ chấp nhận những đau đớn của việc sinh nở tự nhiên. Những kinh nghiệm đó là để chuẩn bị giúp họ đối mặt với những thử thách khi làm mẹ và càng thêm gắn bó với em bé. Yoshimi Katsube, 35 tuổi, nói rằng cha mẹ đã chỉ trích cô khi cô thông báo thực hiện gây tê ngoài màng cứng để sinh đứa con đầu lòng. Tuy nhiên, cô dự định sẽ gây tê lần nữa khi sinh đứa con đang mang trong bụng này.

Các ông chồng thường có mặt lúc vợ đi sinh, nhiều hơn trước đây, nhưng vẫn không nhiều người vào tận phòng sinh. "Chồng tôi sẽ đến bệnh viện, nhưng chúng tôi vẫn chưa quyết định liệu anh ấy có nên vào phòng đẻ hay không," Mayuka Yamazaki, người sẽ sinh con đầu lòng vào tháng này nói. "Tôi không chắc liệu tôi có muốn anh ấy nhìn thấy tôi như thế hay không."

Ở hầu hết các nước, kiến thức về những gì phụ nữ cần làm trong thai kỳ đều dựa vào văn hóa quốc gia đó lẫn kiến thức khoa học. Ví dụ, phụ nữ mang thai ở Pháp sẽ uống rượu vang và ăn pa-tê nhưng phụ nữ Mỹ lại coi đây là cách nhanh nhất để giết chết đứa trẻ. Phụ nữ mang thai sẽ tránh ăn cá sống, nhưng ở Nhật Bản lại không như vậy. Tuy nhiên, nỗi ám ảnh lớn nhất với họ lại là nhiệt độ cơ thể. Trong khi các bà mẹ phương Tây được khuyên không nên để thân nhiệt quá cao, thì ở Nhật Bản, phụ nữ mang thai được nhắc nhở về việc giữ ấm. Họ vui vẻ tắm suối nước nóng nhưng tránh ăn kem và uống nước lạnh. Nhà hàng đem chăn mỏng cho phụ nữ mang thai, ngay cả trong những ngày nóng đỉnh điểm của mùa hè.

Và lời tư vấn tiêu chuẩn cho phụ nữ mang thai ở Nhật Bản còn đáng lo ngại hơn. Tỷ lệ trẻ sơ sinh thiếu cân tại Nhật rất cao và vẫn đang tăng lên, trẻ chỉ nặng trung bình 2,5 kg hoặc ít hơn lúc mới sinh. Năm 2015, có 9% trẻ sơ sinh bị thiếu cân. Zentaro Yamagata thuộc khoa Y, Đại học Yamanashi cho rằng một lý do là vì phụ nữ không tăng đủ cân trong thai kỳ. Các bác sĩ khuyên thai phụ đừng tăng quá 6-10kg, trong khi ở Anh con số này là 11-16kg.

Chính phủ có thể cân nhắc điều này nếu muốn tăng tỷ lệ sinh của mỗi phụ nữ từ 1,5 con hiện nay lên 1,8 để làm chậm quá trình giảm dân số. Nguyên nhân của sự suy giảm dân số tại Nhật Bản thì có rất nhiều và ở một mức độ nào đó, không hề dễ giải quyết. Nhưng để việc mang thai sinh nở trở thành một trải nghiệm bớt đáng sợ đi thì cũng không có hại gì.

Đào Hằng
The Economist

Saturday, October 29, 2016

Cung thiếu nhi Hải Dương


ngày mai là em được 41 tuần,

Address: Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Trãi, tp. Hải Dương, Hải Dương
Phone: 0320 3859 498
Hours: Open today · 6AM–10PM

Bất bình đẳng toàn cầu: tin tốt và tin xấu

John Cassidy, ngày 06 tháng 1 năm 2014

Trong khi phần lớn giới nghiên cứu kinh tế dành kỳ nghỉ cuối tuần ở
Philadelphia để thảo luận lý thuyết "Trì trệ trường kỳ" của Larry Summers và các vấn đề khác trong cuộc họp thường niên của Hiệp hội Kinh tế Mỹ, tôi đọc cuốn sách mới của Angus Deaton, "Cuộc đào thoát vĩ đại: Sức khỏe, của cải, và nguồn gốc bất bình đẳng." Chương 1 bắt đầu như sau:

Cuộc sống giờ đây tốt hơn gần như mọi thời kỳ khác trong lịch sử. Nhiều người giàu có hơn và càng ít người phải sống trong nghèo đói cùng cực. Tuổi thọ cao hơn và các bậc cha mẹ không còn phải chứng kiến một phần tư số con cái của mình chết yểu.

Nhà kinh tế học Deaton tại đại học Princeton, người nổi tiếng với cách làm việc tỉ mỉ cẩn trọng, đã dành nhiều thập kỷ nghiên cứu về y tế, bất bình đẳng và phát triển kinh tế. Trong suốt ba mươi hay bốn mươi năm qua, ông nhắc, mức tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của nhiều quốc gia đang phát triển, đặc biệt là Trung Hoa và Ấn Độ, đã đưa nhiều người, rất

Friday, October 28, 2016

Tâm An_tuần 4/10


Bài trước: Lợi ích tuyệt vời của nước dừa tươi

Chỉ cần được thấy em cười vui


thấy em bình yên là mọi buồn đau, mọi lo toan cuộc sống như dần tan biến...

em được 40 tuần 5 ngày,

Bài trước: Chúc em tỉnh thức

"Sphenopalatine ganglioneuralgia" nghĩa là gì?

Có não đâu mà sợ đóng băng ;). Photo courtesy Tambako The Jaguar.

'Sphenopalatine ganglioneuralgia', từ này phức tạp thế thôi, thực ra tiếng Anh thông dụng là brain freeze (tê não, não đóng băng :), ice-cream headache, cold-stimulus headache, trigeminal headache; nghĩa là nhức đầu khi ăn kem, một hình thức đau hay nhức đầu ngắn thường liên kết với việc tiêu thụ (đặc biệt là tiêu thụ nhanh) đồ uống hay thức ăn lạnh chẳng hạn như kem. Nó được gây ra khi vật lạnh chạm vào vòm miệng, và được cho là kết quả từ một phản ứng thần kinh gây ra co thắt và sưng mạch máu nhanh chóng hoặc một cơn "đau xuất chiếu" từ vòm miệng vào đầu. Tốc độ ăn đồ lạnh thực phẩm được nghiên cứu như là một nhân tố tác động. Cơn nhức đầu khi ăn kem khác với mẫn cảm ngà răng, một loại đau xảy ra trong tình huống tương tự. Vậy nên, mục từ hôm nay là tên khoa học của triệu chứng, đọc méo cả mồm, chắc do nhà khoa học ăn kem lạnh quá nên líu hết cả lưỡi, méo luôn... :)

Ví dụ
Brain freeze is thought to be caused by cold solids or liquids passing over the upper palate (vòm miệng) of the mouth or back wall of the pharynx (hầu, họng). Known scientifically as sphenopalatine ganglioneuralgia, it normally occurs when the weather is particularly warm and the individual consumes the cold food too quickly.

The technical name of brain freeze is sphenopalatine ganglioneuralgia, which means nerve pain in the top of the mouth. This is why many people think that if you hold your tongue to the roof of your mouth, the sensation will go away.

When you drink a Slurpee, the blood vessels (mạch máu) near the back of your throat (cổ họng) first rapidly constrict (siết lại, co khít lại) from the coldness and then dilate (giãn nở) when the blood vessels become warmer again. The dilating blood vessels then pull the tissues (mô) around the vessels and the brain such as the meninges (màng não), triggering the trigeminal (dây thần kinh sọ V) nerve (otherwise known as the fifth nerve), which innervates (phân bố các dây thần kinh) much of your face, including your forehead (trán). Nerves can’t always distinguish the location of the original trigger, a phenomenon called “referred pain.” Referred pain is why people may feel pain on the shoulders or back when the cause of the pain is at the heart (e.g., angina (bệnh viêm họng, angina pectoris = chứng đau thắt ngực) or a heart attack). It is also the reason why you feel the sphenopalatine ganglioneuralgia in your forehead and not the back of your throat. Neuralgia (chứng đau dây thần kinh) is another word for nerve pain. Ganglion (hạch) is a collection of nerves. Sphenopalatine describes the location of the ganglion.

Phạm Hạnh

Đọc ELON MUSK: “Bị điên trở thành tỷ phú”

-----
Hơn 10 ngày miên man trong cuốn sách gần 500 trang, hàng trăm từ như điên rồ; không tưởng; tỷ phú; phá sản; thay đổi thời đại; sứ mệnh cứu nhân loại v.v như xay nghiền tâm trí người đọc. Gấp cuốn sách lại “chọn từ nào cho tay Elon Musk này nhỉ?”

Gia phả mang họ Đức gốc Thụy Sỹ, di cư tới New York rồi tứ tán khắp
nơi. Sinh ra tại Nam Phi 1971, 1988 Musk một mình tới Canada để rồi 3 năm sau đó đặt chân tới Mỹ - nơi đã giúp Musk “thực hiện những điều điên rồ”.

Khó có thể tưởng tượng được với cậu bé 13 tuổi, bằng 167 dòng lệnh đã cho ra đời Game điện tử không gian Blastar giúp cậu kiếm được 500 usd đầu đời. Ở tuổi thiếu niên cậu đã đọc sách triết học, tôn giáo, bách khoa toàn thư… nhưng luôn bị cuốn hút bởi sách khoa học viễn tưởng. Ngất ngất tuyên ngôn “Điều duy nhất có ý nghĩa chính là phấn đấu vì một sự khai sáng chung lớn lao”. Đây có lẽ là lý do chính tạo nên “tâm hồn điên rồ Elon Musk”.

Học ĐH Queen’s Canada, chuyển tiếp qua Mỹ học ĐH Pennsylvania, ĐH Wharton rồi Stanford. 1994 chính thức là công dân Mỹ, gã thường mơ mộng viển vông về Internet, năng lượng tái tạo, không gian. Khi học tại Penn, Musk đã viết 3 bài luận về việc sử dụng năng lượng mặt trời; sao lưu tài liệu sách báo bằng công nghệ điện tử; và một trong những thứ

Thursday, October 27, 2016

Máy bay dân dụng mới của Nhật Bản: Máy in tiền hay máy đốt tiền?

Gov. Inslee toured the Mitsubishi Regional Jet (MRJ) Factory in Japan. Photo courtesy Jay Inslee.

Máy bay phản lực mới của hãng Mitsubishi có phải là một dự án thương mại khả thi?

Thuê một nhóm chơi trống truyền thống Taiko đánh tùng tùng trong nhà chứa máy bay cũng là một cách để tạo ra một chiếc máy bay dân dụng "gây tiếng vang" mới: tiếng ồn. Nhưng Hãng hàng không Mitsubishi Aircraft, công ty được cả thế giới chú ý từ lâu trước khi ra mắt máy bay Mitsubishi Regional Jet (MRJ) --máy bay dân dụng đầu tiên được sản xuất trong nước của Nhật Bản trong vòng 50 năm qua -- vào tuần trước. Với thiết kế hào nhoáng, ít nhất chiếc máy bay cũng khá ưa nhìn. Tuy nhiên, sự ra mắt này đã khiến nhiều nhà phân tích đau đầu tự hỏi liệu MRJ có thể kiếm ra tiền hay không.

Mitsubishi đã nhận được 230 đơn đặt hàng cho loại máy bay mới này. Nhưng các nhà phân tích nhận định rằng công ty có thể cần phải bán thêm 500 chiếc nữa mới có thể đạt tới điểm hòa vốn của dự án. Điều đó có lẽ khó khăn hơn so với nhận định ban đầu. Thị trường máy bay phản lực trong khu vực bị thống trị bởi hãng Embraer của Brazil và Bombardier của Canada, cả hai đều miễn cưỡng nhường thị phần cho đối thủ cạnh tranh mới của họ. Và còn các công ty của hai nước Nga và Trung Hoa cũng đang phát triển máy bay của riêng họ để phục vụ thị trường khu vực, có thể còn rẻ hơn mức giá 40 triệu đô-la Mỹ mà Mitsubishi kỳ vọng bán được MRJ.

Từ lâu hãng Mitsubishi đã sản xuất các phụ tùng cho hãng Boeing và lắp ráp máy bay quân sự của Mỹ theo hợp đồng. Nhưng một số nhà phân tích hoài nghi khả năng Mitsubishi Aircraft tự thiết kế và sản xuất toàn bộ một chiếc máy bay. Nhiều phân tích dựa trên thực tế là hãng này từng chế tạo chiếc máy bay chiến đấu Zero huyền thoại, nhưng đó là câu chuyện của hơn bảy thập kỷ trước. Sau Thế chiến II, Nhật Bản bị cấm tiến hành bất kỳ thứ gì liên quan đến hàng không và phải đến năm 1962 mới phát triển được dòng máy bay NAMC YS-11, dự án cuối cùng đã thất bại do cho chi phí tăng vọt.

Nỗ lực lần hai để chế tạo được một chiếc máy bay của Nhật Bản diễn ra ở thời điểm mà các tập đoàn làm ăn bết bát như Mitsubishi đang phải vật lộn tìm kiếm thị trường tăng trưởng mới. Mitsubishi đã tinh giảm những bộ phận làm ăn thua lỗ và tập trung vào các lĩnh vực có lợi nhuận hơn như sản xuất tua bin cho các nhà máy điện. Hãng ước tính dự án máy bay sẽ bắt đầu có lợi nhuận từ đầu những năm 2020.

Điều đó là khả thi. Không giống với lần trước khi một nhóm hỗn độn các công ty – mỗi công ty có một tính toán riêng -- tham gia chế tạo máy bay, lần này chỉ có một công ty duy nhất chịu trách nhiệm về dự án MRJ. Và rất nhiều uy tín quốc gia đã được đặt vào nó. Chính phủ Nhật Bản đã đóng góp vài tỷ yên cho việc nghiên cứu và phát triển chiếc máy bay này, Toyota là đối tác và All Nippon Airlines là đơn vị đầu tiên đặt hàng. Rất nhiều công ty đều đã và đang đặt rất nhiều kỳ vọng cũng như cầu mong vào dự án. Vì thế, thất bại là điều khó có thể chấp nhận.

Phương Anh
The Economist

Hillary Clinton nói về 'Trật tự thế giới'

Hillary Clinton bình sách 'Trật tự thế giới' của Henry Kissinger, bản tiếng Việt do Sơn Phạm dịch,

Hillary Rodham Clinton,
ngày 4 tháng 9 năm 2014

Ong chúa. Photo courtesy United States Mission.

Khi nhìn vào thế giới ngày nay, chúng ta chỉ thấy hết cuộc khủng hoảng này đến cuộc khủng hoảng khác. Sự hung hăng của Nga ở Ukraine, chủ nghĩa cực đoan và sự hỗn loạn ở Iraq và Syria, một bệnh dịch chết người ở Tây Phi, căng thẳng lãnh thổ leo thang ở biển Đông và biển Hoa Đông, một nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng không đủ mạnh, không đủ sức tạo ra sự thịnh vượng chung — trật tự của thế giới tự do mà Mỹ đã mất nhiều thế hệ để xây dựng và bảo vệ dường như đang phải chịu áp lực từ mọi phía. Không có gì ngạc nhiên khi nhiều người bày tỏ sự hoài nghi và thậm chí lo sợ về vai trò và tương lai của chúng ta trên thế giới.

Trong cuốn sách mới của mình, "Trật tự thế giới", Henry Kissinger đã nói
về tầm vóc lịch sử của thách thức này. Những phân tích của ông, dù vẫn có một số khác biệt về các chính sách cụ thể, phần lớn đều phù hợp với chiến lược tổng quát trong nỗ lực suốt sáu năm qua của chính quyền ông Obama để xây dựng một cơ chế về an ninh và hợp tác toàn cầu trong thế kỷ 21.

Trong Chiến tranh Lạnh, sự cam kết của cả hai chính đảng để bảo vệ và mở rộng một cộng đồng các quốc gia ủng hộ tự do, kinh tế thị trường và hợp tác cuối cùng đã đem lại thành công cho chúng ta và thế giới. Lời khái quát về tầm nhìn đó của Kissinger vẫn còn đúng đắn cho tới ngày nay: "Một trật tự mang tính hợp tác và không ngừng mở rộng giữa các quốc gia thực hiện các quy tắc và chuẩn mực chung, đón nhận các hệ thống kinh tế tự do, cam kết không xâm phạm lãnh thổ, tôn trọng chủ quyền quốc gia, và áp dụng các hệ thống quản trị dân chủ và có sự tham gia của mọi đối tượng."

Hệ thống này, được giúp sức nhờ sức mạnh quân sự và ngoại giao của Mỹ, cùng với các quốc gia đồng minh, đã giúp chúng ta đánh bại chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản, và mang lại lợi ích to lớn cho

Wednesday, October 26, 2016

"Jet fuel can't melt steel beams" nghĩa là gì?

Photo credit: knowyourmeme.com.

'Jet fuel can't melt steel beams' = xăng máy bay không thể làm tan chảy thép -> thuyết âm mưu cho rằng vụ khủng bố 11/9 không thể do máy bay đâm, nổ và bốc cháy có thể làm sụp tòa nhà (An epitome of all shameless lies associated with the 9/11 event, stemming from a scientifically unexplainable fact that jet fuel from planes which somehow sliced through steel and reinforced concrete buildings, caused the steel structure (which is always encased in concrete for that very reason) to collapse. Questions such as why the "thermal expansion" and "floor stacking" from various idiotic "theories" associated with even more idiotic "investigations", weren't visible on the facades; or how did the heat and all that melting reached its way from the very top of the building where the planes hit, to the bottom of the building where the collapsing began - are still unanswered. Did someone say controlled demolition?), xăng máy bay chỉ cháy tới 427-815 độ C, không thể làm tan chảy thép ở 1.510 độ C,

-> mà chắc chắn là do "nổ mìn có điều khiển" (Bush did 9/11);

Việt Nam có thể có thành ngữ tương tự là "tự sát bằng phát súng từ sau gáy" các bạn nhé ;)

Ví dụ
John: Did you hear about 9/11? Those damn muslim terrorists who invaded our country and destroyed our towers? 
Mike: Oh do you mean the WTC towers demolition excuse in order to start a yet another war to destabilize and destroy the Middle East and grab their oil and resources? 
John: Hm... didn't think about it that way. Are you saying that jet fuel can't melt steel beams?

Phạm Hạnh

Tuesday, October 25, 2016

CUỘC ĐÀO THOÁT VĨ ĐẠI

“Cuộc đào thoát vĩ đại”: Đâu là cái gốc của đói nghèo?
bài giới thiệu sách của Nguyễn Đức Thành, shared via Tia Sáng,

Dù ở cấp độ tư duy cá nhân hay cấp độ chính sách xã hội, trong môn kinh tế học nói riêng hay khoa học xã hội nói chung, chúng ta thường mắc kẹt vào những câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng có ý nghĩa lớn lao: mối quan hệ giữa sự thịnh vượng và bất bình đẳng, giữa thu nhập và sức khỏe, giữa sự thành công và lối sống (của cá nhân hay cả một dân tộc) v.v…
Angus Stewart Deaton, nhà kinh tế đoạt giải Nobel năm 2015.

Trong tác phẩm "Cuộc đào thoát vĩ đại1" mang tính đúc kết sự nghiệp nghiên cứu uyên thâm bền bỉ của mình, nhà kinh tế đoạt giải Nobel (2015), Ngài Angus Stewart Deaton lần đầu tiên cung cấp một phân tích sáng rõ về các mối liên hệ nhằng nhịt giữa các vấn đề này.

Angus Deaton là nhà kinh tế gốc Scotland, mang cả quốc tịch Anh và Mỹ, dành phần lớn thời gian trong sự nghiệp học thuật của mình tại Đại học Princeton, Mỹ. Ông khởi đầu sự nghiệp với mối quan tâm sâu về kinh tế vi mô, nghiên cứu hành vi của đường cầu, và dành nhiều công sức cho việc thiết kế và phân tích các cuộc điều tra hộ gia đình.

Những khám phá về các hành vi của con người trong thực tiễn đã thúc đẩy ông đi tới các vấn đề phát triển căn bản như đói nghèo, ý tế, sức khỏe, bất bình đẳng, tăng trưởng kinh tế, v.v…. Đúng như kinh tế gia bậc thầy Robert Lucas (nhận giải Nobel Kinh tế năm 1995) từng nói, khi anh bắt đầu nghiên cứu về kinh tế phát triển, anh chẳng muốn tìm hiểu về cái gì khác nữa.

Trong cuộc phiêu lưu truy tầm câu trả lời cho những vấn đề phát triển căn bản nhất, như nguồn gốc của sự tăng trưởng, nguồn gốc của bất bình đẳng giữa các cá nhân và xã hội, Deaton đã dấn thân vào cuộc hành trình đi ngược lại toàn bộ quá trình phát triển của loài người, xuyên qua các nền văn minh và thời đại, sử dụng kiến thức liên ngành của nhiều môn khoa học.

Vì thế, tác phẩm này có hàm lượng tri thức được kết tinh và cô đọng cao độ, khiến người đọc, nhất là những người không chuyên, có thể thấy đôi chỗ mệt mỏi và choáng ngợp. Nhưng nỗ lực của bạn đọc sẽ được đền đáp xứng đáng, như bất kỳ một cuộc leo núi nào, khi bạn đứng trên đỉnh núi do mình tự chinh phục và hưởng làn gió mát trong lành tinh khiết chỉ có trên tầng cao khí quyển.

Sự vô nghĩa của thịnh vượng
Ý tưởng chính trong tác phẩm này, như Deaton chỉ ra, là nếp suy nghĩ rằng có thu nhập cao hơn sẽ mang tới sức khỏe tốt hơn, rằng xã hội thịnh vượng, giàu có hơn sẽ tự động mang lại tiến bộ nhân văn tốt hơn, chẳng hạn như một xã hội bình đẳng hơn, biết chia sẻ hơn, là một nếp suy nghĩ còn quá thô sơ.

Lối suy nghĩ này đã đưa tới một loạt chính sách phát triển gây lãng phí, và nhiều khi làm tổn thương con người và xã hội.Theo tác giả, chính tình trạng sức khỏe là yếu tố đầu tiên tạo ra sự khác biệt giữa các cá nhân về tuổi thọ, trí tuệ và khả năng làm việc, và dẫn tới sự thành công khác nhau ở mỗi cá nhân. Có rất nhiều nguyên nhân chi phối sức khỏe cá nhân, như nguồn gốc gia đình, thu nhập, tri thức, yếu tố bẩm sinh, và môi trường xã hội (yếu tố thể chế).

Điều này dẫn tới sự khác nhau (bất bình đẳng) ngày càng xa giữa con người. Sự thiết lập xã hội (thể chế) có thể nhằm duy trì sự bất bình đẳng tiếp diễn và liên tục được tái tạo, hoặc làm mềm khuynh hướng này, và qua đó tác động đến sức khỏe của mỗi cá nhân trong cộng đồng đó. Đến lượt nó, bất lợi sức khỏe của cá nhân sẽ giam hãm những người thiệt thòi hơn, kém dinh dưỡng hơn, ít tri thức hơn, trong một địa vị thấp kém hơn, được hưởng ít quyền lợi kinh tế- xã hội hơn và có một cuộc sống ngắn ngủi hơn.

Còn những người có lợi thế và may mắn hơn, tiếp tục được duy trì các đặc quyền trên tầng lớp cao hơn của xã hội. Một xã hội giàu có hơn, như Deaton chỉ ra, không nhất thiết mang lại phúc lợi đồng đều cho các thành viên của mình, và do đó, hố sâu ngăn cách giữa họ sẽ tăng lên nhanh chóng, và kết cục là xét về tổng thể, không nhất định bảo đảm sức khỏe bình quân của toàn xã hội được cải thiện.

Vì vậy, tăng trưởng kinh tế về lâu dài có thể không được duy trì. Chính những phát minh và khám phá mới trong khoa học và y tế đã giúp lan tỏa hiểu biết của con người về dinh dưỡng và điều trị bệnh tật, giúp thúc đẩy các xã hội tiên tiến cải thiện sức khỏe cho người dân của mình, và từ đó lan tỏa ra toàn nhân loại. Đây chính là cuộc Đào thoát Vĩ đại mà con người đã làm được trong hơn hai thế kỷ quá: thoát khỏi bệnh tật, yếu ớt, chết sớm và nhờ đó thoát khỏi đói nghèo.

Mỗi chương của cuốn sách này tập trung vào một chủ đề tương đối độc lập, và đem lại cho độc giả nhiều tri thức mới, đầy thú vị, qua mỗi trang sách. Chúng dẫn ta trở về thời nguyên thủy khi loài người còn săn bắt hái lượm. Vì khả năng bảo quản thức ăn kém nên con người phải chia sẻ toàn bộ thức ăn cho nhau, do dó họ có một xã hội khá quân bình và sức khỏe đồng đều. Rồi tác giả dẫn chúng ta tới xã hội nông nghiệp, một phát kiến lớn lao của nhân loại, nhưng cùng với nó là khả năng tích trữ lương thảo, vở bi kịch đầu tiên về sự bất bình đẳng giữa con người được trình diễn trên một sân khấu vĩ đại.

Tác giả cũng dẫn chúng ta hành trình qua đất nước Ấn Độ nghèo đói, đất nước Trung Quốc đang nỗ lực vươn lên, và nước Mỹ giàu có nhưng hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng mở rộng.

Một ví dụ sinh động và gây ấn tượng mạnh, về cách mà bất bình đẳng có thể kìm hãm tăng trưởng như thế nào, được tác giả phân tích trong trường hợp Ấn Độ. Đó là sự bất bình đẳng nam nữ ở phía Bắc Ấn Độ đã kìm hãm chiều cao của người phụ nữ, do họ được đầu tư về dinh dưỡng kém hơn nhiều so nam giới. Nhưng chính những người phụ nữ đó lại trở thành những người mẹ trong tương lai, sinh ra cả bé trai lẫn gái. Vì thế, các thế hệ tiếp theo, bất kể nam hay nữ, ở Bắc Ấn Độ có thân hình ngày càng nhỏ hơn so với người Nam Ấn Độ, nơi nam-nữ bình đẳng hơn nhiều, và chiều cao của họ cùng được cải thiện theo thời gian.

Viện trợ cũng có thể "giết chết" các nước nghèo
Bởi vì mối quan hệ giữa sự thịnh vượng và bất bình đẳng kết nối với nhau qua mối liên hệ chí tử là tương quan sức khỏe của các cá nhân trong cộng đồng, thể chế trở nên một nhân tố đặc biệt quan trọng. Độc giả sẽ tìm thấy cây cầu thú vị nối cuốn sách này với tác phẩm “Vì sao các quốc gia thất bại” của hai kinh tế gia hàng đầu Daron Acemoglu và James Robinson .

Một lần nữa, thể chế giải thích vì sao, một quốc gia lại như chính nó đang là: hoặc là cùng một lúc đạt được thịnh vượng và công bằng dưới nền dân chủ, hoặc là cùng một lúc cùng quẫn trong đói nghèo và chật vật trong hố sâu phân biệt giàu-nghèo, dưới một chính quyền độc tài tham lam.

Từ đây, tác giả đi tới chương cuối cùng liên quan đến chủ đề viện trợ kinh tế. Ông cho rằng các khoản viện trợ từ các nước giàu có thực ra đa phần làm các nước nghèo tiếp tục bị giam cầm trong cùng quẫn.

Lý do là vì các nước nghèo vốn đã có một thể chế kém, một sự phân phối bất minh và lệch lạc về nguồn lực giữa các thành viên xã hội, nên khi có thêm các khoản viện trợ, các chính phủ cai trị có thêm nguồn lực để duy trì tình trạng hiện thời. Nếu không có các khoản viện trợ này, thì chính phủ phải thỏa hiệp nhiều hơn với người dân để có nguồn lực, và do đó, sẽ phải chấp nhận nhiều cải cách thể chế có lợi hơn cho người dân.

Tuy nhiên, Deaton không phủ nhận toàn bộ các nỗ lực viện trợ từ các nước giàu đến các nước nghèo. Ông cho rằng, nếu các nước giàu hỗ trợ trực tiếp để cải thiện sức khỏe người dân, đặc biệt ở những tầng lớp yếu đuối, thiệt thòi nhất, sẽ giúp giảm bất bình đẳng xã hội, giúp đất nước đó có tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội tốt hơn.

Hình ảnh quan trọng mà Deaton sử dụng trong suốt cuốn sách, về sự Đào thoát khỏi ngục tù của đói nghèo và yếu ớt, một lần nữa được lặp lại. Đó là những người đã thoát khỏi nhà ngục, luôn muốn quay lại cứu những người còn đang bị giam cầm. Nhưng cuộc Đào thoát chỉ có thể thực hiện được khi chính kẻ bị giam cầm mong muốn được thoát ra. Người đã tư do có thể tuồn cho tù nhân một miếng bánh, nhưng là để ăn mà lấy sức trèo tường ra, chứ không phải là ngồi ăn cho qua cơn đói mỗi ngày và thỏa mãn với miếng bánh miễn phí từ người bạn tốt bụng.

Tiếc thay, trong nhiều thập niên, rất ít quốc gia có thể dùng miếng bánh cứu trợ để lấy sức thoát ra khỏi đói nghèo.

"Crackpot theory" nghĩa là gì?

Quá lập dị. Photo courtesy Elvert Barnes.

'Crackpot theory' có từ crackpot là người có suy nghĩ lập dị -> từ này nghĩa là ý tưởng lập dị, kỳ quặc, điên rồ (a statement or idea (not necessarily presented by a crackhead) that is extremely extensive in nature and ridiculous in realilty).

Ví dụ
While the kids these days like to crack jokes (nói chuyện phiếm, chuyện đùa) about jet fuel and steel beams, the JFK assassination is really the classic rock version of an event that attracts every crackpot theory (thuyết âm mưu) imaginable.

Sheldon Greene's new novel, “The Seed Apple,” features a nuclear submarine fleet, a Holocaust survivor and a tribe of California desert Indians descended from King Solomon’s ancient mariners. He based it on the not-entirely-crackpot theory that Judeo-Christian wayfarers made it to the New World before Columbus.

Mr Kaczynski has accused that government, led by the centre-right Civic Platform party, of being too friendly to Germany and Russia, Poland’s historic enemies. More recently he has threatened to oppose the re-election of Donald Tusk, the former Civic Platform prime minister, for a second term as president of the European Council. (His reasons are tied up with the crackpot theory that Civic Platform helped Russia conceal the truth about an aeroplane crash near Smolensk in 2010 that killed Mr Kaczynski’s twin brother Lech, who was Poland’s president at the time.)

Phạm Hạnh

"Skeleton crew" nghĩa là gì?

Photo courtesy Marc Kjerland.

'Skeleton crew' nghĩa là số người/nhân sự tối thiểu để vận hành và duy trì một con tàu, doanh nghiệp v.v... ở điều kiện cơ bản nhất, trong tình huống khẩn cấp, mà vẫn giữ được các chức năng quan trọng (The minimum number of personnel needed to operate and maintain an item at its most simple operating requirements, such as a ship or business, during an emergency or shut down, and at the same time, to keep vital functions operating); đội hình khung.

Ví dụ
Thanks in part to manager Terry Francona's aggressive "bullpenning," the Indians have gone 7-1 this postseason despite having Corey Kluber and a skeleton crew populating the playoff rotation.

Janet, who has worked across the industry over several years, described the process of destroying damning clips to the Guardian, on the condition that her name be changed and the name of the shows she worked on be redacted because those productions were often skeleton-crew operations.

The fuel that powers the Raptor engine is methane and the first mission will establish a processing plant to convert resources (including water) available on Mars into propellant. The second mission of the Interplanetary Transport System will have a skeleton crew and they will travel to our neighboring world to complete the construction of the facility, do some troubleshooting, and according to a response given by Musk during the AMA, build a “rudimentary base.”

Phạm Hạnh

Chính phủ dân túy của Ba Lan: Những thiếu phụ áo đen

Photo credit: The Economist.

Chính phủ Ba Lan thua một trận đánh, nhưng vẫn kìm kẹp dân chủ và được người dân ủng hộ.

Đảng Pháp luật và Công lý (PiS), đảng cầm quyền ở Ba Lan vào năm ngoái, không dễ dàng bị uy hiếp. Nhưng hàng chục ngàn phụ nữ trong bộ đồ đen xuống đường biểu tình tại trung tâm các thành phố trên khắp cả nước vào ngày 03 tháng 10 vừa qua dường như đã khiến họ giật mình. Người dân đang phản đối một dự luật thắt chặt các hạn chế về quyền phá thai ở Ba Lan, điều vốn được coi là bất hợp pháp trong hầu hết các trường hợp. Dự luật này sẽ cấm việc phá thai ngay cả trong trường hợp bị hãm hiếp và loạn luân (nhưng không bị cấm khi cần cứu sống người mẹ).

Ban đầu, rất nhiều nghị sĩ của Đảng PiS ủng hộ dự luật. Tuy nhiên, khi đối mặt với cuộc "biểu tình đen" này, Đảng PiS đã phải nhượng bộ. Ngày 06 tháng 10, Tổng Bí thư Đảng Jaroslaw Kaczynski -- nhân vật quyền lực nhất đất nước mặc dù không giữ chức vụ gì trong chính phủ -- đã lên tiếng rằng đây là "sự hiểu lầm nghiêm trọng". Nhiều người trong số các đại biểu của Đảng PiS trước đó ủng hộ lệnh cấm đã đột ngột thay đổi ý kiến và bỏ phiếu chống.

Kể từ khi lên nắm quyền vào tháng 11, chính phủ Ba Lan đã làm dấy lên làn sóng phản đối ở trong và ngoài nước. Warsaw đã chứng kiến cuộc tuần hành của hàng chục ngàn người biểu tình chống lại những nỗ lực của chính phủ nhằm hạn chế quyền hạn của tòa án hiến pháp và đưa những người ủng hộ Đảng PiS vào cơ quan này. Brussels cũng tức giận về tòa án đó: vào tháng 7, trong một động thái chưa từng có tiền lệ, Ủy ban châu Âu cho biết hành động này của chính phủ đã đe dọa nền pháp trị và ra hạn cho Ba Lan đến cuối tháng 10 phải lùi bước hoặc sẽ có nguy cơ mất đi quyền bỏ phiếu ở Hội đồng Bộ trưởng Liên minh châu Âu.

Dự luật cấm phá thai đánh dấu sự nhượng bộ đầu tiên của chính phủ Ba Lan. Nhưng bước nhượng bộ này không lớn như ta thấy. Cấm phá thai chưa bao giờ là ưu tiên của Đảng PiS. (Dự luật này được đề xuất bởi các nhóm theo Công giáo, không phải các lãnh đạo đảng.) Vì vậy, nhượng bộ không phải là một dấu hiệu của sự suy yếu. Ngược lại: ngoại trừ các thành phố lớn, chủ nghĩa dân tộc và chống chủ nghĩa tinh hoa của Đảng PiS vẫn rất phổ biến. Đảng PiS có thể tiếp tục nắm quyền bất chấp tất cả những tranh cãi — hoặc có lẽ chính nhờ những tranh cãi này.

Từ học trò cưng đến chú hề trong lớp
Ba Lan là một trong những câu chuyện nổi bật nhất về thành công ở Liên minh châu Âu. Kể từ khi gia nhập liên minh vào năm 2004, GDP bình quân đầu người của nước này đã tăng gần gấp đôi. Nhưng không phải tất cả mọi người đều được hưởng lợi ích như nhau. Warsaw đầy rẫy các quán cà phê sành điệu và các tòa nhà văn phòng lấp lánh, nhưng ở những nơi khác tiền lương vẫn bèo bọt và việc làm tốt thì khan hiếm.

"Ba Lan có một chút gì đó giống với nước Ý," Phó Thủ tướng Mateusz Morawiecki cho biết, với hình ảnh "quần đảo thịnh vượng" nằm giữa các vùng suy thoái. Augustow là một thị trấn hẻo lánh ở phía đông bắc, nơi toàn "người về hưu và người sống bằng tiền trợ cấp", cô Agnieszka Witkowska 43 tuổi cho biết, hiện cô đang sống ở Đức nhưng thi thoảng mới về thăm quê. Cô không thể hình dung ra việc hồi hương; vì cô cảm thấy, so với Tây Âu, tiền lương ở Augustow hầu như không đủ sống.

Đảng PiS đã tận dụng sự phân cách này. Theo ông Benjamin Stanley của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Warsaw, giống như Đảng Nước Anh Độc lập của Anh, Đảng PiS đã thu hút những người bị "bỏ lại phía sau". Trong cuộc bầu cử năm ngoái, Đảng PiS nhận số phiếu cao nhất trong số tất cả các nhóm tuổi: mặc dù chỉ giành được 38% phiếu bầu, nhưng lại chiếm đa số ghế trong quốc hội. Những người ủng hộ đảng này là những người dân vùng nông thôn, ít học, trên 50 tuổi và đang vỡ mộng vì nền chính trị chính thống.

Kể từ khi lên nắm quyền, Đảng PiS đã cố gắng để làm hài lòng các bên ủng hộ. Phương sách chính của đảng là chương trình "500 +", dành cho đứa con thứ hai và tiếp theo của mỗi hộ gia đình một khoản trợ cấp 500 zlotys (tương đương 128 USD) mà không tính thuế. Đối với nhiều người, đây là một số tiền lớn. Ông Andrzej, một người bán hàng 61 tuổi ở thị trấn Sokolka, vô cùng ủng hộ chính sách này. "Chính phủ trước không cho chúng tôi cái gì cả", ông phàn nàn.

Ông Kaczynski đã cáo buộc rằng chính phủ, do đảng trung hữu Civic Platform lãnh đạo, đang quá thân thiện với Đức và Nga, kẻ thù lịch sử/truyền kiếp của Ba Lan. Gần đây ông đe dọa phản đối việc tái tranh cử của Donald Tusk, cựu thủ tướng xuất thân từ Đảng Civic Platform, vào ghế chủ tịch Hội đồng châu Âu nhiệm kỳ thứ hai. (Lý do của ông bắt nguồn từ thuyết âm mưu rằng Đảng Civic Platform giúp Nga che giấu sự thật về vụ tai nạn máy bay gần Smolensk vào năm 2010 khiến người anh sinh đôi của ông là Kaczynski Lech -- tổng thống Ba Lan vào thời điểm đó -- thiệt mạng.)

Tệ hơn nữa, ông Kaczynski bám vào suy nghĩ rằng những cựu đảng viên cộng sản Ba Lan đã bí mật thâu tóm vận hành đất nước cho đến cuối năm ngoái. Vào hồi tháng 2, một tổ chức trực thuộc chính phủ chịu trách nhiệm lưu trữ tư liệu từ thời Liên Xô cũ của Ba Lan đã nhanh chóng công bố bằng chứng cho thấy Lech Walesa, nguyên lãnh đạo phong trào Đoàn kết đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản, đã làm chỉ điểm cho cảnh sát ngầm. Mục đích là để làm mất uy tín của những anh hùng thời kỳ quá độ hậu cộng sản. Ông Eugeniusz Smolar, một nhà phân tích chính sách đối ngoại cho biết chính phủ đang khuyến khích tinh thần "dân tộc chủ nghĩa, dân chủ phản cách mạng" trong dân chúng.

Đáng lo ngại nhất là những thay đổi đối với tòa án hiến pháp. Trong tháng 12, Đảng PiS đã sa thải năm thẩm phán mà Đảng Civic Platform vội vã bổ nhiệm trước khi từ bỏ quyền lực, thay thế họ bằng người của đảng mình. Đảng PiS cũng đã thay đổi luật và đòi hỏi phải có 2/3 số phiếu ủng hộ cho mọi phán quyết, khiến khó có thể hủy bỏ các luật của Đảng PiS. Bản thân tòa án hiến pháp cũng quyết định rằng những thay đổi này là vi hiến, nhưng chính phủ đã bác bỏ hiệu lực phán quyết của tòa án bằng cách không công bố phán quyết đó. Theo Rafal Trzaskowski, một chính trị gia của Đảng Civic Platform, chính phủ đang tấn công các tổ chức "phân biệt sự khác nhau giữa Ba Lan và Kazakhstan".

Chi ngân sách xã hội của Đảng PiS tăng vọt đã làm dấy lên những lo ngại rằng Ba Lan có thể phá vỡ giới hạn thâm hụt ngân sách 3% của Liên minh châu Âu trong năm tới. Chương trình 500+ sẽ tiêu tốn 22 tỷ zlotys vào năm sau, tương đương khoảng 1,2% GDP. Tháng 9 năm nay, thuế đánh vào các siêu thị (chủ yếu là sở hữu của người nước ngoài) dùng để chi trả cho chương trình này bị Ủy ban châu Âu tuyên bố là bất hợp pháp.

Chính phủ cũng có vẻ thiếu sự chuẩn bị cho cuộc khủng hoảng nhân
khẩu học đang tới. Ba Lan dự kiến sẽ mất 40% dân số trong độ tuổi lao động vào năm 2060, mức giảm lớn nhất so với các nước giàu (xem biểu đồ). Vấn đề này sẽ trầm trọng hơn nếu chính sách 500+ khuyến khích phụ nữ không đi làm. (Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ giới thấp hơn 13,5 điểm phần trăm so với nam giới.) Một đề nghị của chính phủ cho phép giảm tuổi nghỉ hưu sẽ làm cho vấn đề tồi tệ hơn. Trong các cơ quan xếp hạng tín nhiệm, Standard & Poor đã hạ xếp hạng tín dụng của Ba Lan, trong khi Moody xếp Ba Lan vào mức báo động tiêu cực.

Mặc dù không được các nhà phân tích nước ngoài và người theo quan điểm tự do ở Warsaw ủng hộ, Đảng PiS vẫn có khả năng duy trì quyền lực thêm một thời gian nữa. Trong khi phe đối lập đang rơi rụng dần. Trong tám năm nắm quyền, Đảng Civic Platform đã ngày càng mất lòng dân chúng. Bên ủng hộ Đảng PiS cho thấy họ không quan tâm đến những tranh cãi xoay quanh chính phủ: Đảng PiS vẫn đang dẫn trước các đối thủ của mình trong các cuộc thăm dò với 30% ủng hộ, so với 24% ủng hộ cho Đảng Nowoczesna tự do và chỉ 16% cho Đảng Civic Platform.

Sự kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc và tự do tiền bạc của chính phủ được ủng hộ rộng rãi. Chỉ có Đảng Nowoczesna dám phản đối chính sách 500+; trong khi Đảng Civic Platform lại muốn chi hào phóng hơn. Theo chính trị gia Adam Bielan của Đảng PiS, cuộc tranh giành lợi ích dẫn đến một cuộc xung đột giữa "hai Ba Lan khác nhau". Số trí thức thành thị tham gia phản đối các vấn đề hiến pháp còn quá ít ỏi để duy trì một đảng. Mọi bên đều phải cạnh tranh để giành lá phiếu của người lao động phổ thông ở những nơi như Augustow. Hiện nay, chỉ một đảng có thể làm được việc này.

Phương Anh
The Economist

Monday, October 24, 2016

Phải chăng đế chế của Elon Musk sẽ sụp đổ?

kế hoạch của Elon Musk sáp nhập Tesla với SolarCity đang gây tranh cãi ở Phố Wall, 

Jim Chanos - một nhà quản lý quỹ phòng hộ, người nhìn rõ vụ Enron - cho rằng Musk đang gặp khó khăn về tài chính, nên thay vì chinh phục các hành tinh, một số người cho rằng Musk đã và đang trở thành Icarus, bay quá gần mặt trời (và rơi xuống đất chết tốt :).

Đế chế của Musk rất phức tạp, gồm 2 công ty đại chúng (Tesla và SolarCity), và một công ty tư nhân - SpaceX - là công ty duy nhất sinh tiền. Tesla đang có kế hoạch gia tăng sản xuất (ramp up) Model 3, mục tiêu 500.000 chiếc/năm (tất cả các models) vào năm 2018, so với 85.000 hiện nay -> cần số tiền đầu tư rất lớn. Trong khi đó, SolarCity tài chính kém cỏi. Tổng cộng, có lẽ Musk Inc sẽ ngốn 2,3 tỷ USD tiền mặt trong năm 2016, và hiện đã nợ 6 tỷ USD, mà Musk còn thế chấp cổ phiếu Tesla để vay cá nhân từ công ty 500 triệu USD. Trong khi Musk nghĩ rằng tập đoàn của mình là một công ty công nghệ, thì công ty này thiếu tỷ lệ sinh lời cao và vốn đầu tư tối thiểu của các công ty thành công nhất ở Thung lũng Silicon.

Tuy nhiên Musk Inc cũng sẽ không hết tiền ngay lập tức, nó có 5 tỷ USD tiền mặt và thấu chi ngân hàng chưa sử dụng đến, và Musk có lịch sử dài cả thập kỷ defy the odds. Nhưng nếu tập đoàn tiếp tục đầu tư mạnh tay, nó sẽ đối mặt với thiếu hụt vốn lớn. -> có thể phải gọi thêm vốn chủ sở hữu, mà Musk do dự không muốn làm việc này, vì nếu thế sẽ làm loãng cổ phiếu của Musk ở 2 công ty kia xuống dưới 20% -> lựa chọn khác là thu hẹp quy mô đầu tư, nhưng như thế lại đánh vào giá cổ phiểu 'bong bóng' của Tesla (dựa trên một tương lai màu hồng). Các nhà đầu tư đưa ra dự báo tài chính điển hình là công ty tăng trưởng doanh thu nhanh như Google, Amazon và Apple trong thời kỳ đỉnh cao giữa những năm 2000.

-> Musk vừa muốn huy động tiền mặt vừa muốn giữ quyền kiểm soát đồng thời giá cổ phiếu vẫn phải cao -> có vẻ là tam giác bất khả thi (impossible trinity: tam nan kinh tế)

-> kết luận là: sẽ die sớm thôi, và nhiều nhà đầu tư sẽ "thâm tím mặt mày" đấy.

Nếu chỉ còn một nghề để sống

Nghề viết lách hay nghề thư ký đây? Photo courtesy Jude Freeman.

To depend upon a profession is a less odious form of slavery than to depend upon a father.
~ Virginia Woolf

Dựa vào một nghề để sống là một dạng nô lệ còn ít đáng ghét hơn là lệ thuộc vào bố.

Logo chưa sẵn sàng: Một bước lùi nữa cho kỳ thế vận hội khổ sở của Tokyo

Tokyo Tower Special Lightup. Photo courtesy t-mizo.

Rào nào cũng ngã

Có lẽ điều duy nhất còn lại có thể làm suy sụp tinh thần của Olympic Tokyo 2020 là một trận động đất ngay bên dưới đường đua 400m. Tất cả vận rủi khác đã xảy ra rồi. Ngày 01 tháng 9 là ngày đánh dấu sự cố mới nhất. Nhật Bản quyết định bỏ logo mới của thế vận hội do Kenjiro Sano, một nghệ sĩ đồ họa trẻ thiết kế vì những cáo buộc về việc đạo ý tưởng. Hai tháng trước đó, chính phủ đã công bố bản vẽ chi tiết hoành tráng của sân vận động do kiến trúc sư người Anh gốc Iraq Zaha Hadid thực hiện. Bản thiết kế này đã giúp Tokyo trúng thầu, sau khi chi phí xây dựng đội lên tới 2,1 tỷ USD, gần gấp đôi so với ước tính ban đầu.

Sẽ không tốn nhiều thời gian để thiết kế một logo khác, nhưng việc xây dựng sân vận động Tokyo (thiết kế vẫn chưa được duyệt) hiện đã chậm tiến độ một năm. Việc xây dựng bắt đầu vào năm 2016 và sẽ không kịp hoàn thành cho một giải thể thao định kỳ khác, giải Vô địch bóng bầu dục thế giới vào năm 2019. Trưởng ban phụ trách các vấn đề Olympic của Nhật Bản, Toshiaki Endo, thừa nhận rằng kế hoạch xây dựng các công trình cho thế vận hội có thể sẽ được công bố vào phút chót và chậm so với hạn chót của Ủy ban Olympic Quốc tế vào tháng 1 năm 2020.

Chính Olivier Debie, nhà thiết kế người Bỉ đã đệ đơn lên Ủy ban Olympic Quốc tế để ngăn việc sử dụng logo của Sano ngay sau khi nó được công bố vào tháng 7. Cư dân mạng tại Nhật Bản đã nhanh chóng chỉ ra những điểm giống nhau đến kinh ngạc giữa thiết kế này và thiết kế cho một nhà hát tại Liege (Bỉ) của Debie. Nhưng Sano vẫn khẳng định thiết kế này không hề đạo ý tưởng, và lý do chính thức cho quyết định của Ủy ban trong tuần này là để giành lại sự ủng hộ của công chúng. Ban đầu, Ủy ban tổ chức Olympic của Nhật Bản đã bảo vệ logo đó bằng cách công bố những phác thảo ban đầu của Sano, tuy nhiên chúng lại quá giống một thiết kế khác (một áp phích quảng cáo cho triển lãm về huyền thoại thiết kế phông chữ quá cố người Đức Jan Tschichold). Ông Sano cũng từng phải đối mặt với những cáo buộc đã sử dụng một số yếu tố trong logo bảo tàng quốc gia Costa Rica cho thiết kế của một vườn thú ở thành phố Nagoya, Nhật Bản.

Nhưng ít nhất không ai có thể buộc tội nữ kiến trúc sư Hadid vì vay mượn ý tưởng thiết kế khác thường cho sân vận động Olympic, mà các kiến trúc sư Nhật Bản đã từng có rất nhiều so sánh giống một chiếc mũ bảo hiểm xe đạp hay một con rùa khổng lồ "mắc cạn trên chuỗi đảo Nhật Bản”. Hadid từ đó đã trả đũa ban tổ chức Olympic xui xẻo của Nhật Bản. Bà cho biết lý do khiến chi phí đội lên quá cao chỉ đơn giản là do ban tổ chức đã có một yêu cầu ngược đời để các nhà thầu phải nộp dự toán sau, chứ không phải là trước khi hứa hẹn đảm bảo công việc. Chi phí xây dựng không chỉ tăng vọt ở Tokyo mà còn trên khắp Nhật Bản, vì vậy cuộc thi thiết kế có mục đích quan trọng là giảm chi phí xây dựng.

Đây đều là những tin xấu cho Thủ tướng Shinzo Abe, người đã hứa tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngày hội thể thao này và giúp Tokyo giành quyền đăng quang hai năm trước, sau đó hòa cùng với niềm hân hoan chiến thắng của thành phố trước hai đối thủ là Istanbul và Madrid. Nhưng ít nhất vẫn còn một chính trị gia, ông Yoichi Masuzoe - Thị trưởng Tokyo - là đang có những bước chuẩn bị xuất sắc cho kỳ Olympic. Đối với những cáo buộc về việc đạo ý tưởng, ông tuyên bố rằng ông cảm thấy bị Sano phản bội ngay trước khi biết tin logo sẽ bị loại. Ông thậm chí còn từng chống đối chính phủ và từ chối chi tiền thuế của người dân Tokyo cho thiết kế đồ sộ vượt quá ngân sách của kiến trúc sư Hadid. Ông nói, lời lẽ trấn an của chính phủ khi đó giống như cách quân đội của hoàng gia Nhật Bản khẳng định họ đang giành chiến thắng trong Thế chiến II, dù thực tế mọi thứ đang trên bờ vực sụp đổ. Liệu ông có phải là người tiếp nhiệm?

Bích Nhàn
The Economist