Journey in Life: 01/03/16

Sunday, January 3, 2016

Vì sao Vương quốc Anh sao chép mô hình "thị trưởng thành phố" của Mỹ?

Rudy Giuliani speaking at the forum titled "Countering Iran’s Nuclear Terrorist Threats". Photo courtesy Gage Skidmore.

Đối với nhiều người dân New York, người đã đem lại bình yên cho thành phố này là Rudy Giuliani. Ông Guliani là Thị trưởng Thành phố New York từ năm 1994 đến năm 2001, và với tư cách người đứng đầu cơ quan hành pháp của thành phố, ông đã khởi xướng chiến dịch trấn áp tội phạm quyết liệt và được người dân thành phố ủng hộ. Các nhà hoạch định chính sách của Vương quốc Anh đã nhận thấy một thị trưởng đầy quyền lực mang lại sự thay đổi sâu rộng ở các thành phố của Mỹ hiệu quả như thế nào. Đầu những năm 2000, dưới sự điều hành của chính phủ thuộc Đảng Lao động của ông Tony Blair, chính trường Vương quốc Anh đã đón nhận những làn sóng thị trưởng thành phố do dân bầu đầu tiên. Hiện nay, chức danh "thị trưởng thành phố" – đại diện cho những khu vực đô thị lớn hơn như Greater Manchester – nằm hàng đầu trong chương trình nghị sự chính sách quốc gia. Tháng 5 năm 2015, Bộ trưởng Tài chính George Osborne đã thông báo, đối với tất cả các thành phố lớn ở Anh, tham gia vào việc chuyển giao quyền lực và bầu ra một thị trưởng là điều bắt buộc. "Tôi sẽ không áp đặt mô hình này lên bất kì ai," ông nói với một số người dân ở Manchester. "Nhưng tôi cũng sẽ không hài lòng với những gì cho ít hơn thế." Ông và các đồng nghiệp trong Đảng Bảo thủ, cũng như nhiều người khác thuộc đảng đối lập, đều mong Vương quốc Anh “nhập khẩu” mô hình thị trưởng dân bầu kiểu Mỹ này cùng với một loạt các quyền hành pháp được tăng cường. Vì sao vậy?

Các thị trưởng đầu tiên của Anh, nhậm chức ở London vào năm 2000 và ở các thị trấn nhỏ hơn như Hartlepool và Middlesborough vào năm 2001, đóng vai trò không thể thiếu đối với dự án "hiện đại hóa" của Đảng Lao động và cũng được cá nhân ông Tony Blair, Thủ tướng khi đó, nhiệt tình thúc đẩy phát triển. Ông Blair, người kiên định ủng hộ mối quan hệ chặt chẽ giữa hai bờ Đại Tây Dương, chưa bao giờ che giấu sự vay mượn trong hệ thống thị trưởng mới của mình đối với mô hình của Mỹ, dù quyền lực của các thị trưởng Anh, tuy đã có những thay đổi - vẫn thua kém so với những người đồng cấp Mỹ (ví dụ, thị trưởng London có rất ít quyền lực ngoài một số lĩnh vực như vận tải, hoạch định chính sách và một số khía cạnh trong công tác quy hoạch). Chỉ hơn một thập kỉ sau đó, ông Osborne, một học trò nhiệt tình đối với nền chính trị Mỹ không kém gì ông Blair, cũng thể hiện sự ngưỡng mộ của mình với các thị trưởng New York, Chicago và một số thành phố khác. Ngoài việc chính phủ liên bang tại Washington hoạt động không hiệu quả do những ách tắc tại quốc hội thường hạn chế khả năng đạt được mục tiêu của các chính trị gia - hệ thống thị trưởng thành phố của Mỹ có thể đạt hiệu quả nổi bật.

Các nhà hoạch định chính sách của Vương quốc Anh từ thời ông Michael Heseltine vào thập niên 1980, tới thời ông Blair và bây giờ là ông Osborne đều tin rằng những thị trưởng theo phong cách Mỹ có thể giúp giải quyết những vấn đề cố hữu tại các thành phố của Vương quốc Anh. Theo quan điểm của họ, những đấu đá bè phái trong các hội đồng thành phố sẽ kéo lùi sự phát triển của các thành phố tại Vương quốc Anh. Những người ủng hộ mô hình này cho rằng thị trưởng với quyền hành pháp có thể đẩy nhanh quá trình ra quyết định; đồng thời cũng vạch ra trách nhiệm giải trình một cách rõ ràng thông qua các nhiệm vụ do cá nhân trực tiếp đảm nhận. Sự sốt sắng của chính phủ Vương quốc Anh hiện nay đối với cảnh sát trưởng do dân bầu – cũng được nhập khẩu từ Mỹ (vấn đề mà tờ Economist đã chỉ trích) - là kết quả của tư duy tương tự.

Mỹ không phải là mô hình duy nhất cho các nhà hoạch định chính sách của Vương quốc Anh: các thành phố châu Âu, như một số thành phố ở Pháp, Ý và Đức, cũng có các thị trưởng đầy quyền lực. Và ngay tại Vương quốc Anh cũng đã có một tiền lệ: các thị trưởng của quốc gia này vào thế kỉ XIX, như thị trưởng Joseph Chamberlain của Birmingham rất được ca ngợi. Dù mô hình này đã rất phổ biến ở nhiều nơi, song vẫn còn rất nhiều ý kiến chỉ trích: một số cho rằng việc tập trung quyền lực vào tay một người sẽ có nguy cơ tạo ra những "Mussolini cấp thành phố", những người có thể làm cho thành phố phát triển rực rỡ nhưng cũng hoàn toàn có thể khiến thành phố lụn bại. Tuy nhiên, hiện tại, những lo ngại đó có lẽ là vô căn cứ. Ở Vương quốc Anh, quyền lực vẫn tập trung về trung ương nhiều hơn so với Mỹ, và những thị trưởng người Anh vẫn chưa có được quyền lực tài chính như những người đồng cấp Mỹ. Nhưng nếu quá trình phân quyền ở Anh được tiếp tục đẩy mạnh, trong tương lai gần, điều này sẽ không còn đúng nữa.

Minh Thu
The Economist

Vì sao giáo dục tư thục ở Anh đang suy giảm?

King's Library gallery, in the British Museum. Photo courtesy Clyde Poole.

Các trường tư thục ở Anh đang phải vật lộn để thu hút học sinh. Kể từ năm 2008, mặc dù số lượng trẻ em trong độ tuổi đi học ở Anh đã tăng nhưng số lượng trường tư thục hầu như không tăng thêm. Vì thế, tỉ lệ trẻ em tại các trường này đã giảm từ 7,2% xuống còn 6,9%, với số lượng học sinh tuyệt đối giảm trên khắp cả nước, ngoại trừ vùng giàu có phía đông nam (xem biểu đồ). Vì sao các bậc phụ huynh người Anh, vốn nổi tiếng là giàu tham vọng với sự nghiệp học hành của con cái lại ngày càng do dự khi đầu tư vào việc giáo dục cho con em mình?

Nguyên nhân có lẽ phần lớn nằm ở vấn đề chi phí. Một nghiên cứu gần đây cho thấy mức học phí đã tăng lên khoảng 20% trong năm năm qua. Kết quả là, giờ đây, học phí trung bình một năm tại một trường nội trú là hơn 30.000 bảng Anh (tương đương 45.000 USD); trong khi học phí tại các trường ngoại trú chỉ bằng khoảng một nửa con số đó. Điều này có nghĩa rằng các trường nội trú không còn bị mang tiếng vì điều kiện thiếu thốn nữa (thậm chí có trường còn trang bị cả tivi và máy chơi game trong phòng của học sinh). Nhưng điều này cũng khiến việc cho con theo học tại các trường tư thục nằm ngoài khả năng tài chính của nhiều người, đặc biệt là những người có hai con trở lên. Trong khi đó, các trường công lập ngày càng được cải thiện – cùng với tính trưởng giả cũng giảm đi - khiến các trường này trở thành sự lựa chọn hấp dẫn hơn đối với các bậc phụ huynh.

Sự sụt giảm số lượng này chủ yếu diễn ra ở phân khúc dưới của thị trường. Quả thực, một cuốn sách mới xuất bản gần đây cho rằng đây là thời kì vàng son đối với các trường tư lớn nhất nước Anh, với tiêu chuẩn chăm sóc, cơ sở vật chất và giáo dục cao hơn bao giờ hết. Do đó, họ có thể thu hút học sinh từ khắp nơi trên thế giới. Thậm chí một số trường còn thành lập các chi nhánh ở những nơi xa xôi như Kazakhstan và Qatar. Nhưng những trường ở các tỉnh nhỏ, đặc biệt là những trường nằm cách xa các sân bay của London, lại kém hấp dẫn hơn đối với các sinh viên nước ngoài. Một số đã đóng cửa, số khác tiến hành sáp nhập và số còn lại tập trung vào dạy ít học sinh hơn và thu nhiều tiền hơn. Điều thú vị là có ít nhất 19 trường tư thục đã trở thành trường công lập như là các học viện (cũng không thu học phí nhưng có quyền tự quyết lớn hơn các trường công điển hình khác).

Giáo dục tư thục ngày càng không được ưa chuộng không chỉ là hiện tượng ở riêng nước Anh: các phụ huynh ở Mỹ cũng đang quay lưng với các trường thu học phí. Hệ quả là ở cả hai nước này, các nguồn lực của nhà nước phải chịu ngày càng nhiều áp lực. Và việc giảm số lượng học sinh tại các trường tư thục có thể là một lí do vì sao chính phủ đang ngày càng phải chi nhiều hơn cho những người giàu. Sự suy giảm của các trường tư thục, điều mà những người theo phe cánh tả mong đợi từ lâu, có thể dẫn đến những hậu quả không lường trước được.

Minh Thu
The Economist

Vì sao quốc hữu hóa không còn được ưa chuộng ở Vương quốc Anh?

Re-worked Old'un 9 - 34095 Wimbledon. Photo courtesy Barry Lewis.

Sau gần nửa thế kỉ trầm lắng, quốc hữu hóa dường như đang quay trở lại ở Vương quốc Anh. Vài tuần sau khi được bầu làm lãnh đạo của đảng Lao động, ông Jeremy Corbyn công bố chính sách chính thức đầu tiên: tái quốc hữu hóa mạng lưới đường sắt. Trong khi chính sách này được công chúng ủng hộ, các nhà hoạch định chính sách lại ủng hộ tư nhân hóa hơn quốc hữu hóa trong hơn bốn thập kỉ qua. Trong những năm 1970, các ngành công nghiệp tổng cộng đóng góp hơn 10% GDP đều nằm trong tay nhà nước, từ dịch vụ công cho tới phân phối sữa. Tuy nhiên, dưới thời thủ tướng Edward Heath và Margaret Thatcher, Vương quốc Anh đã đi đầu trong việc chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang khu vực tư nhân. Trong những năm 1990 và 2000, đảng Lao động tiếp tục chủ trương của bà Thatcher, bán cổ phần trong hệ thống kiểm soát không lưu và ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân của Vương quốc Anh, thậm chí cố gắng làm điều tương tự với Royal Mint – xưởng đúc tiền của Hoàng gia. Ngày 25 tháng 11, Bộ trưởng Tài chính Vương quốc Anh George Osborne cho biết ông sẽ mở rộng chương trình bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước này với quy mô còn lớn hơn so với những năm 1980. Vì sao quốc hữu hóa vẫn không được ủng hộ?

Trong thế kỉ 19, những người ủng hộ quốc hữu hóa cho rằng nó làm tăng hiệu quả kinh tế. Lập luận cho rằng sở hữu nhà nước đem lại lợi ích cho người tiêu dùng bằng việc đảm bảo rằng các công ty có đủ vốn đầu tư và lợi nhuận của các công ty này được chuyển cho người tiêu dùng thông qua giá cả thấp hơn. Một công ty lớn duy nhất sẽ gia tăng năng suất thông qua khai thác lợi thế kinh tế nhờ quy mô mà nhiều công ty tư nhân nhỏ không có được. Trong thế kỉ XIX, thậm chí tờ Economist còn ủng hộ việc đưa hệ thống điện báo và bưu điện của Vương quốc Anh vào tay nhà nước. Vì thế, nhà nước bắt đầu tham gia vào nhiều lĩnh vực hơn trong nền kinh tế. Cuối thế kỉ XIX, các công ty dịch vụ công ở Vương quốc Anh đều được chính quyền địa phương mua lại. Trong thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, Đảng Bảo thủ cũng tham gia vào quá trình đó và đã quốc hữu hóa đài BBC, mạng lưới phân phối điện và công ty Tàu điện ngầm London. Sau Thế chiến II, chính phủ của Đảng Lao động tiếp tục vung tay mua sắm, từ các mỏ than cho tới hệ thống đường sắt và các đại lí du lịch.

Quốc hữu hóa hệ thống bưu điện và mạng điện báo đã mang lại những cải thiện quan trọng về hiệu quả, nhưng trong thế kỉ XX, quốc hữu hóa không còn thành công như vậy nữa. Điều này một phần là do sự phát triển của các tổ chức công đoàn và các động thái hướng tới một hệ thống chính trị hoàn toàn dân chủ. Trong thế kỉ XIX, các công ty sau khi được quốc hữu hóa được những giới chức mang tư tưởng kĩ trị quản lý, nhưng tới thế kỉ XX, các chính trị gia để mắt tới bầu cử và bắt đầu động đến các công ty này. Bất kì khi nào các chính trị gia cần cắt giảm thuế để thắng cử, họ thường cắt giảm đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp này cũng thoải mái thổi phồng danh sách người hưởng lương và giúp chính phủ đạt được một nền kinh tế toàn dụng nhân công, và được bảo vệ bởi hệ thống thuế quan và độc quyền được dựng lên để bảo vệ chúng không phải cạnh tranh. Công đoàn bắt đầu yêu cầu tăng lương quá mức và phản đối những cải tiến hiệu quả, vì biết rằng nhà nước là chủ sở hữu sẽ luôn sẵn sàng chi tiền để tránh ồn ào rắc rối trong thời gian bầu cử.

Hậu quả nguy hại nhất của việc làm này là làm chậm sự tăng trưởng chung của nền kinh tế. Trong thời kì hoàng kim của công cuộc quốc hữu hóa, giữa những năm 1940 và những năm 1970, nền kinh tế Vương quốc Anh tăng trưởng chậm hơn hầu hết các đối thủ chính của nó. Nghiên cứu gần đây đã cho thấy, kể từ những năm 1980, nền kinh tế Vương quốc Anh đã tăng trưởng nhanh hơn so với các đối thủ, chủ yếu là do những cải cách về phía cung như việc tư nhân hóa. Khi bị đẩy vào tình thế phải cạnh tranh, các doanh nghiệp nhà nước đã buộc phải đổi mới và trở nên hiệu quả hơn. Trong khi đó, tư nhân hóa cũng là một cách để thu nhỏ hoặc xóa bỏ những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả (các doanh nghiệp nhà nước thường cố kéo dài thời gian hoạt động ngắc ngoải). Do đó, tư nhân hóa đã giúp cho Vương quốc Anh có lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh của mình. Người dân bình thường cũng được hưởng lợi từ quá trình này. Kể từ khi tư nhân hóa được tiến hành vào những năm 1980, giá nhiên liệu trong nước đã giảm 30% theo giá trị thực. Điều này có lợi cho người nghèo, những người phải chi tiêu phần lớn thu nhập của mình vào nhiên liệu. Hiện nay, một số ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành đường sắt, vẫn cần nhiều sự cạnh tranh và cải cách hơn - song lịch sử kinh tế của thế kỉ trước cho thấy bất kì sự quay trở lại nào hướng tới những ngành công nghiệp quốc hữu hóa được nuông chiều cũng sẽ là một sai lầm.

Minh Thu
The Economist

Trụ sở Công ty TNHH MTV Vận tải Đường sắt Sài Gòn

shared from Võ Tiến Cường.
-----

Tòa nhà Bureau du Chemin de fer của công ty Hỏa xa Đông Dương mạng phía Nam nay là trụ sở của Cty TNHH MTV Vận tải đường sắt Sài gòn ngự tại 136 đường Hàm Nghi nhìn sang chợ Bến Thành là một trong những toàn nhà có nhiều giá trị lịch sử.

Một trong số đó chính là trường bắn bao cát di động. Được dựng lên từ khoảng 1964 bởi chính phủ thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ. Nơi đây đã từng xử bắn khá nhiều giang hồ hảo hán cũng như biệt động sài gòn.

Nhưng nổi tiếng nhất là vụ xử bắn hoa kiều Tạ Vinh, 34 tuổi, ông trùm đầu cơ gạo sắt thép thời đó. Tết âm lịch 1964 giá gạo tăng vọt lên 7 đồng/kg mà chính phủ không làm sao can thiệp được. Tướng Kỳ triệu tập các hoa kiều chợ lớn tới và chỉ nói ngắn gọn : nếu trong 1 tuần giá gạo không quay trở lại bình thường thì một trong các ông sẽ bị xử bắn. Nhóm hoa kiều coi khinh lời nhắn nhủ này và giá gạo còn tăng tiếp.

Vụ bắt xử Tạ Vinh tại toà án binh đã diễn ra chóng vánh, bắt chấp mọi nỗ lực chạy tiền lo lót của hội doanh nhân hoa kiều chợ Lớn cũng như hội Tam Hoàng VN , Hồng Kong, rạng sáng ngày 14/3/1966, Tạ Vinh đã bị hành quyết tại trường bắn bao cát này. Tất nhiên sau đó việc thao túng thị trường của người Hoa vẫn tiếp tục nhưng không bao giờ có chuyện đẩy giá quá đáng như trước khi có vụ Tạ Vinh.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ sẽ tăng lãi suất như thế nào?

The Marriner S. Eccles Federal Reserve Board Building on Constitution Avenue in Washington D.C. Photo courtesy Josh.

Ngày 16 tháng 12, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ-Fed có thể sẽ tăng mức lãi suất, vượt khỏi hành lang lãi suất 0-0,25% đã được duy trì suốt sáu năm qua. Lần cuối cùng Fed nâng lãi suất từ định mức nới rộng gần bằng 0 là vào năm 1947. Nhưng lần tăng lãi suất này khộng chỉ đơn thuần để chấm dứt mức lãi suất gần 0. Fed cũng sẽ sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ mới để điều chỉnh lãi suất. Vậy thì, Fed sẽ tăng lãi suất như thế nào?

Loại lãi suất Fed đang cố gắng điều chỉnh – “lãi suất liên bang” – là lãi suất mà các ngân hàng dùng để tính phí với nhau đối với các khoản vay qua đêm. Có các khoản vay này là do Fed yêu cầu các ngân hàng giữ một số tiền tối thiểu trong tài khoản của họ tại Fed mỗi đêm. Các ngân hàng có số dư tài khoản dồi dào sẽ cho các ngân hàng không đủ số dư theo quy định vay giúp họ đáp ứng yêu cầu của Fed. Trong quá khứ, Fed thực hiện việc điều chỉnh lãi suất của các khoản vay này thông qua mua và bán các khoản nợ chính phủ. Ví dụ, khi Fed bán một trái phiếu chính phủ cho một ngân hàng, họ trừ tài khoản của ngân hàng đó tại Fed (cũng giống như một ngân hàng có thể tính phí cho khách hàng của mình bằng trừ vào tài khoản hiện tại của họ). Điều đó làm cho tiền khan hiếm hơn, nhưng các ngân hàng vẫn phải đáp ứng số dư tối thiểu. Kết quả là, giá của các khoản vay qua đêm tăng lên - và cùng với nó là chi phí tín dụng cho nền kinh tế nói chung.

Nguyên tắc rất đơn giản: vì Fed kiểm soát nguồn cung của các khoản dự trữ, họ cũng có thể kiểm soát giá cả của chúng. Nhưng hiện Fed không thể sử dụng cơ chế này nữa. Đó là do từ năm 2008, theo chính sách nới lỏng định lượng, Fed đã mua 3.800 tỉ USD trái phiếu chính phủ và các loại chứng khoán khác để kích thích nền kinh tế. Khi làm vậy, Fed tạo ra một khối lượng tiền mới khổng lồ, vì thế, hiện nay các ngân hàng có nguồn dự trữ dồi dào. Để tăng lãi suất, Fed sẽ cần đảo ngược tất cả những vụ mua bán này -điều họ không muốn làm cho đến khi lãi suất cao hơn. Vậy thì, họ có thể làm gì? Hiện tại, Fed đang sử dụng hai công cụ để neo lãi suất ở mức giữa 0% và 0,25%. Một là lãi suất họ trả cho các khoản tiền mà ngân hàng gửi tại tài khoản của Fed nhiều hơn mức yêu cầu, được gọi là lãi suất dự trữ dư thừa (IOER). Không ngân hàng nào muốn cho vay ở mức thấp hơn so với IOER, do gửi tiền tại Fed ít rủi ro hơn. Tuy nhiên, một số tổ chức phi ngân hàng (chẳng hạn như các quỹ thị trường tiền tệ) không có tài khoản tại Fed, sẵn sàng cho vay với mức lãi suất thấp hơn IOER. Vì vậy, IOER không phải là mức lãi suất sàn vững chắc. Trên thực tế, Fed hiện đang thiết lập mức trần ở 0,25%. Các quan chức Fed nói rằng, khi được tăng lên, mức trần này sẽ hoạt động như một "nam châm" và kéo lãi suất lên.

Công cụ thứ hai được gọi là thỏa thuận mua lại đảo ngược qua đêm. Công cụ này không hề phức tạp như tên gọi của nó; Fed bán chứng khoán cho nhà đầu tư và đồng ý mua lại chúng sau đó. Trên thực tế, Fed vay mượn từ các nhà đầu tư và đem những chứng khoán đó làm tài sản thế chấp. Điều này cũng tạo ra một mức lãi suất sàn; khiến các nhà đầu tư không muốn cho ngân hàng vay với lãi suất thấp hơn lãi suất của Fed - cơ quan được chính phủ hậu thuẫn. Điều quan trọng là các nhà đầu tư có thể tham gia thỏa thuận mua lại đảo ngược qua đêm cũng chính là những người có thể cắt giảm IOER. Khi Fed nâng cả cả hai loại lãi suất, IOER và lãi suất mua lại đảo ngược qua đêm, lãi suất liên bang cũng sẽ tăng. Liệu biện pháp này có hiệu quả? Từ tháng 9 năm 2013, Fed đã thử nghiệm những công cụ này và thu được kết quả khả quan. Lí thuyết cũng tỏ ra rất đáng tin cậy. Nhưng trước ngày 16 tháng 12, có lẽ không ai biết chắc chắn.

Minh Thu
The Economist