Journey in Life: 10/04/16

Tuesday, October 4, 2016

Lương sếp ở Nhật Bản: Chi phiếu

Các giám đốc ở Nhật Bản thấy khó đòi hỏi thêm.

Để khích lệ tinh thần đồng đội giữa các nhân viên trung thành, tận tụy,
các giám đốc người Nhật thường sống trong những ngôi nhà khiêm tốn và đi tàu điện ngầm đến nơi làm việc. Sự chênh lệch trong mức lương của bản thân họ và của người lao động cũng rất thấp theo tiêu chuẩn quốc tế (xem biểu đồ). Đối với họ, thông tin về việc công ty viễn thông và internet SoftBank trả cho Nikesh Arora-cựu chủ tịch gốc Ấn Độ 31,5 tỷ yên (tương đương 300 triệu USD) trong hai năm quả là khó hiểu. Giám đốc tại các công ty lớn nhất nhận được bình quân 100 triệu yên (tương đương một triệu USD) mỗi năm.

Các chuyên gia về quản trị doanh nghiệp thường quen với việc giải quyết những khoản lương vượt mức cho giám đốc điều hành. Nhưng ở Nhật Bản, họ đang suy nghĩ xem mức lương tối thiểu là bao nhiêu. Thu nhập của giám đốc các công ty niêm yết ở Nhật chỉ bằng khoảng một phần mười so với thu nhập của những người đồng sự tại Mỹ. Những giám đốc người nước ngoài tại Tokyo, chẳng hạn như ông Arora, hoặc Carlos Ghosn của hãng xe Nissan, đều gần như đứng đầu thế giới khi so sánh mức lương, nhưng rất hiếm khi những giám đốc điều hành là người Nhật được trả lương cao.

Mức lương thấp chắc chắn góp phần tạo nên một kiểu làm việc thận trọng, trong đó nhiều công ty chỉ thích giữ một đống tiền mặt – các công ty phi tài chính hiện nắm giữ hơn 9,5 nghìn tỷ USD tài sản tài chính, bao gồm tiền mặt – hơn là mạo hiểm đầu tư vào các dự án mới. Những công ty Nhật Bản có giám đốc được trả lương cao hơn cho kết quả kinh doanh tốt hơn nhiều so với các công ty khác, theo một nghiên cứu mới đây của ngân hàng đầu tư Goldman Sachs.

Không chỉ có quá ít hỗ trợ tài chính để đầu tư lớn, những giám đốc còn phải chịu những trách nhiệm xã hội nếu dự án không thu được kết quả. Nếu một dự án thất bại, điều đó đồng nghĩa với việc mất danh dự, bị buộc phải cắt giảm nhân viên hoặc mất đi đặc quyền có được kỳ nghỉ hưu an nhàn mà vẫn được trả lương như một cố vấn.

Các công ty Nhật Bản gần đây đã bắt đầu thu được lợi nhuận cao hơn, một phần là nhờ một bộ luật quản trị doanh nghiệp mới được Thủ tướng Shinzo Abe phê duyệt vào tháng 6 năm 2015. Chính phủ đã khéo léo đưa vào bộ luật mới một đề nghị: các doanh nghiệp cần nâng cao điều kiện trong các thỏa thuận về lương (cho giám đốc), điều sẽ đem lại kết quả lâu dài. Khoản tiền thưởng khích lệ chỉ chiếm 14% trong tổng lương tại Nhật Bản, so với 33% ở Đức và 69% ở Mỹ, theo hãng tư vấn về nhân lực Towers Watson. Theo đó, hai gã khổng lồ của Nhật Shiseido, một công ty mỹ phẩm, và Obayashi, một công ty xây dựng, bắt đầu dành cho giám đốc điều hành của hãng những lợi ích từ cổ phần gắn liền với hoạt động doanh nghiệp.

Nhưng những tác động không mong muốn của một bộ luật chưa được soạn thảo kỹ lưỡng vào năm 2010 đã cản trở nhiều thay đổi cần thiết về tiền lương. Vào điểm thời đó, các thanh tra chứng khoán lần đầu tiên yêu cầu các công ty niêm yết công khai tên tất cả các giám đốc có mức lương trên 100 triệu yên. Mục tiêu ban đầu là để tăng tính minh bạch cho các nhà đầu tư (trước đây, các công ty chỉ công khai tổng số tiền phải trả cho hoạt động điều hành cho các cổ đông biết). Hầu như không có ai có mức lương đáp ứng được ngưỡng đề ra đó. Năm 2014, chỉ có giám đốc điều hành ở 9% trong tổng số các công ty niêm yết được nêu tên.

Mặc dù vậy, điều này đối với họ vẫn bị coi là đáng xấu hổ. Naohiko Abe của Pay Governance, một tổ chức tư vấn cho các tập đoàn về mức đãi ngộ nhân viên, cho biết ông đã choáng vì các cuộc gọi tới để hỏi xem giám đốc ở các công ty khác được trả bao nhiêu tiền. Ở phương Tây, sự minh bạch như vậy thường có tác dụng nâng mức đãi ngộ cho các giám đốc có lương tương đối thấp. Ở Nhật Bản, một số giám đốc nhanh chóng chấp nhận giảm lương để không bị xuất hiện trong danh sách, ông Abe cho biết. Nói cụ thể hơn, theo Nicholas Benes của Viện BDTI (Board Director Training Institute) Nhật Bản, tổ chức đào tạo và nâng cao năng lực quản trị, quy tắc công khai người có mức lương trên 100 triệu yên vô tình đặt ra một giới hạn về số tiền thưởng có thể trả bằng chi phiếu (lương chủ yếu là tiền mặt).

Tuy nhiên, đã có những thay đổi tích cực. Số giám đốc có lương một triệu, hoặc đủ mức để công khai, đã tăng từ dưới 300 lên trên 500 kể từ năm 2009. Một số người muốn làm nhiều hơn thế. Takeshi Niinami, ông chủ của hãng thức uống khổng lồ Suntory và là một cố vấn chính phủ nổi tiếng, cho rằng các công ty nên tránh việc đặt ra định mức và chỉ cần công khai những nhân viên được trả lương tốt nhất trong công ty của họ. Công khai thu nhập bằng tiền mặt và bằng cổ phần của giám đốc có thể là cách làm hiệu quả nhất trong tình cảnh bát nháo của Nhật Bản.

Minh Thu
The Economist

Các hãng sản xuất ô tô Nhật Bản: Sức sống dồi dào

Photo courtesy JOHN LLOYD.

Các hãng xe nhỏ của Nhật Bản đang thách thức quy luật “mở rộng hay là chết” của ngành công nghiệp này.

Một trong những điều bất ngờ của ngành công nghiệp xe hơi Nhật Bản là năm hãng có quy mô nhỏ tiếp tục phát triển thịnh vượng bên cạnh với ba người khổng lồ là Toyota, Nissan và Honda. Về lý thuyết, những hãng xe hạng hai — Mazda, Mitsubishi, Suzuki và Subaru — đáng lẽ đã sáp nhập với các đối thủ trong hoặc ngoài nước, hoặc bị bỏ lại bên lề cuộc đua từ lâu. Daihatsu đã bị Toyota kiểm soát với 51% cổ phần trong công ty. Các hãng này đều bán được một đến hai triệu xe mỗi năm. Sergio Marchionne, ông chủ của Fiat Chrysler, đã từng nói rằng sáu triệu xe là yêu cầu tối thiểu đối với nhà sản xuất ôtô nếu mong muốn thu được lợi nhuận.

Các công ty hạng hai có vẻ quyết tâm hơn bao giờ hết để bác bỏ quan điểm cho rằng quy mô toàn cầu và khối lượng xe được bán ra lớn là điều không thể thiếu. Suzuki là một công ty tương đối nhỏ và chỉ có một thị trường chủ yếu ngoài Nhật Bản là Ấn Độ. Nhưng cách đây không lâu, công ty này đã rút khỏi liên doanh với Volkswagen của Đức (VW), hãng vốn có thể giúp công ty bán các loại xe nhỏ và giá rẻ tại các thị trường phát triển ở nước ngoài.

Mazda, một công ty thậm chí còn nhỏ hơn, cũng sẵn sàng chia tay với Ford. Nhà sản xuất ôtô Mỹ này bắt đầu bán bớt số cổ phần của mình trong năm 2008 để huy động tiền mặt và tránh phá sản. Hai công ty đã hợp tác kể từ năm 1979. Subaru, thuộc tập đoàn Fuji Heavy Industries, được cho là không thoải mái với 16,5% cổ phần đang nằm trong tay Toyota, hãng xe lớn nhất thế giới. Giải pháp rõ ràng cho các công ty quy mô nhỏ — sáp nhập với ba ông lớn — dường như là một viễn cảnh xa vời.

Thực tế rằng các công ty nhỏ đang liên tục ăn nên làm ra sau nhiều năm thua lỗ giúp ta hiểu vấn đề trên. Đồng nội địa yếu đi có nghĩa là họ gần như đang in được tiền, theo Max Warburton thuộc công ty nghiên cứu chứng khoán Sanford C. Bernstein. Subaru và Mazda, hai hãng xuất khẩu nhiều nhất trong nhóm năm hãng này, đang có doanh số kỷ lục tại thị trường Bắc Mỹ, doanh số của Subaru còn vượt qua cả VW. Các doanh nghiệp quy mô nhỏ của Nhật cũng được nhiều lợi nhuận hơn so với hầu hết các doanh nghiệp trong ngành.

Nhưng điều đó có thể không kéo dài. Những năm dài khó khăn trước đó nghĩa là các công ty nhỏ thiếu tiền để đầu tư mạnh vào công nghệ mới. Nhưng họ đang có cách thông minh để biến những điểm yếu thành thế mạnh. Ngành công nghiệp ô tô khâm phục quyết định của Mazda một vài năm trước khi không phát triển các cơ cấu truyền động dùng điện một phần hoặc toàn phần tốn kém để đi tiên phong với công nghệ "SkyActiv" giúp cải thiện đáng kể hiệu quả của động cơ xăng và diesel.

SkyActiv có kỹ thuật chế tạo hiệu quả đặc trưng của Nhật Bản, và chính là những gì thị trường bây giờ muốn, ông Warburton nói. Trong những năm tới, tuy nhiên, việc đáp ứng tiêu chuẩn khí thải chặt chẽ hơn sẽ đòi hỏi chi tiêu vốn nhiều hơn. Nó cũng có thể gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ khi đầu tư vào các công nghệ hỗ trợ xe tự lái, nếu nó trở nên phổ biến.

Một lời giải thích nữa cho sức chịu đựng của các công ty nhỏ là sự hỗ trợ ngầm của chính phủ Nhật Bản. Trong trường hợp của Suzuki, Mitsubishi và Daihatsu, sự hỗ trợ này có thể thấy trong các hình thức giảm thuế lâu dài cho kei (loại ô tô giá rẻ, cỡ nhỏ với động cơ dưới 660cc). Được phụ nữ và người già ưa thích, những chiếc xe nhỏ này chiếm khoảng hai phần năm doanh số xe được bán mới tại Nhật Bản. Nissan và Honda cũng sản xuất xe kei, nhưng ba công ty nhỏ dựa vào chúng nhiều hơn.

Chính phủ hiện nay dường như đã chú ý đến những lời cảnh báo của các nhà sản xuất ôtô lớn nhất, chuyển hướng sự chú ý và nguồn vốn cho xe kei sang phát triển các mô hình có tiềm năng xuất khẩu. Một quyết định được ban hành hồi đầu năm nay nhằm tăng thuế đối với loại xe này báo hiệu điềm xấu cho các nhà sản xuất. Trong khi Subaru và Mazda thành công bên ngoài thị trường Nhật Bản, và Suzuki đang khiến các hãng khác ghen tị với việc bán xe nhỏ thu lợi lớn, công ty yếu nhất trong những hãng xe hạng hai có thể sẽ sớm phải đối mặt với những khó khăn mới.

Tất cả các hãng sản xuất ô tô của Nhật Bản đều gặp phải một vấn đề chung là thị trường nội địa suy giảm và phần lớn là không có lợi nhuận, ông John Harris, một nhà tư vấn nói. Tuy nhiên đối với Mitsubishi, có lẽ là công ty yếu nhất trong nhóm năm, vấn đề sẽ bớt khó khăn hơn với sự hỗ trợ của tập đoàn công nghiệp mẹ và Daihatsu sẽ tiếp tục được hưởng sự bảo hộ của Toyota. Với mức độ bảo vệ như vậy, không ai ngạc nhiên khi chưa công ty sản xuất ôtô quy mô nhỏ nào phải rời đường đua.

Minh Thu
The Economist