Journey in Life: 12/20/16

Tuesday, December 20, 2016

Cuộc cách mạng đang tới trong ngành giao thông

Từ phụ thuộc vào dầu mỏ sang hoàn toàn dùng điện*: Những thay đổi trong thói quen lái xe và pin cải tiến có thể tác động thế nào lên nhu cầu dầu mỏ.

Bước tiến không ngựa kéo. Photo credit: The Economist.

Vài năm vừa qua không mấy khả quan với những người hy vọng chấm dứt việc lái xe. Ở Mỹ, nơi chiếc xe là một phần quan trọng trong tâm lý cả quốc gia, một thập kỷ trước người ta đột nhiên bắt đầu lái xe ít hơn, điều này chưa từng xảy ra kể từ cú sốc dầu lửa vào những năm 1970. Các học giả bắt đầu hào hứng bàn luận về "cao điểm lái xe" [chơi chữ từ khái niệm peak oil – cao điểm dầu: đỉnh cao cân bằng sản lượng - ND], đưa ra những lý giải như đô thị hóa, thế hệ thời bùng nổ dân số đang dần già đi, thế hệ thiên niên kỷ mới thì ngại đi xe, ứng dụng thuê xe như Uber và thậm chí cả sự phân tâm của việc dùng Facebook.

Tuy nhiên, nguyên nhân có thể đơn giản hơn nhiều: sự kết hợp của giá xăng dầu cao và thu nhập thấp trong bối cảnh khủng hoảng tài chính năm 2008-2009. Kể từ khi giá dầu giảm vào năm 2014, và sự phục hồi của việc làm, tổng quãng đường di chuyển của xe hơi đã tăng trở lại, và doanh số của xe tải và xe SUV, vốn tốn nhiều nhiên liệu hơn xe hơi, đã đạt mức cao kỷ lục.

Độ nhạy đối với giá cả và thu nhập rất quan trọng với nhu cầu dầu mỏ toàn cầu. Hơn một nửa lượng dầu mỏ của thế giới được sử dụng vào giao thông, và trong đó 46% dùng vào xe vận chuyển hành khách. Nhưng phản ứng đối với mức giá thấp hơn đã được bù đắp một phần bởi những cải thiện đáng kể trong hiệu suất nhiên liệu ở Mỹ và ở nhiều nơi khác, nhờ vào các tiêu chuẩn như Mức tiêu hao Nhiên liệu Trung bình dành cho các nhà sản xuất của Mỹ (CAFE), các quy định của Liên minh châu Âu về phát thải CO2 và kể cả ở Trung Quốc từ năm 2012.

Cơ quan năng lượng quốc tế cho biết các biện pháp kể trên đã cắt giảm lượng tiêu thụ dầu mỏ năm 2015 ở mức khổng lồ là 2,3 triệu thùng dẫu mỗi ngày. Điều này đặc biệt ấn tượng bởi vì mối quan tâm đến hiệu quả nhiên liệu thường giảm đi khi giá cả thấp xuống. Nếu các thông lệ tốt nhất được áp dụng cho tất cả các loại xe trên thế giới, mức tiết kiệm sẽ là 4,3 triệu thùng dẫu mỗi ngày, gần tương đương với sản lượng dầu thô của Canada. Điều này giúp giải thích vì sao một số nhà dự báo cho rằng nhu cầu về xăng dầu có thể đạt đến đỉnh điểm trong vòng 10-15 năm tới ngay cả khi số lượng xe trên thế giới không ngừng tăng thêm.

Occo Roelofsen của công ty tư vấn McKinsey còn đi xa hơn thế. Ông cho rằng nhờ vào lượng dầu sử dụng giảm đi trong các phương tiện hạng nhẹ, tổng lượng tiêu thụ nhiên liệu lỏng sẽ bắt đầu giảm trong vòng một thập kỷ, và rằng trong vài thập kỷ tới việc lái xe sẽ bị rung chuyển bởi phương tiện chạy bằng điện (EV), xe tự lái và xe thuê. Các quan chức Bộ Năng lượng Mỹ nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thay đổi ấy, trong tình hình nhu cầu "loại bỏ các-bon triệt để" được ghi trong thỏa thuận khí hậu Paris. "Chúng ta không thể loại bỏ các-bon vào khoảng giữa thế kỷ nếu chúng ta không điện khí hoá ngành giao thông vận tải", một quan chức cấp cao ở Washington, DC cho biết. Hiện vẫn còn chưa rõ tác động của việc Donald Trump đắc cử lên sự chuyển đổi này.

Trong một bài báo gần đây mang tên "Liệu có bao giờ chúng ta ngưng sử dụng nhiên liệu hóa thạch?", Thomas Covert và Michael Greenstone của Đại học Chicago, và Christopher Knittel của Viện Công nghệ Massachusetts, cho rằng một số tiến bộ công nghệ là điều cần thiết để thay thế dầu mỏ trong ngành công nghiệp xe hơi. Ngay cả khi giá dầu ở mức 100 USD một thùng, giá của pin để chạy xe EV sẽ cần phải giảm còn một phần ba, và phải sạc nhanh hơn nữa. Hơn nữa, điện được sử dụng để cung cấp năng lượng cho xe hơi sẽ cần phải ít các-bon hơn rất nhiều nữa; hiện nay, lượng khí thải từ các xe chạy điện sử dụng mạng lưới điện của Mỹ còn cao hơn nhiều so với những động cơ xăng có hiệu quả nhiên liệu cao, các tác giả cho hay.

Vương quốc pin giá rẻ
Người ta ước tính rằng mức giá hiện tại của pin khoảng 325 USD mỗi kilowatt giờ (kWh), giá dầu sẽ cần phải trên 350 USD một thùng thì các xe chạy điện mới đủ sức cạnh tranh về giá trong năm 2020. Ngay cả khi giá pin rơi vào mức mục tiêu của Bộ Năng lương là 125 USD cho mỗi kWh, thì vẫn sẽ cần mức giá 115 USD một thùng dầu để cân bằng. Nhưng nếu giá pin giảm nhiều tới mức đó, giá dầu có lẽ cũng trở nên rẻ hơn nhiều, khiến cho động cơ xăng vẫn hấp dẫn hơn. Ngay cả khi tính đến thuế các-bon, giá dầu để hòa vốn thậm chí chỉ ở mức 90 USD một thùng.

Những con số đó có thể chỉ là ước tính dè dặt, nhưng giá pin cao và tầm ngắn giải thích lý do vì sao các xe chạy điện vẫn chỉ chiếm 0,1% lượng xe toàn cầu (dù năm ngoái đã đạt đến một cột mốc quan trọng là 1 triệu xe). Những chiếc xe này chủ yếu vẫn quá đắt đối với đại chúng trừ những người tiên phong về năng lượng sạch giàu có. Nhiều chuyên gia bác bỏ ý tưởng rằng xe chạy điện sẽ sớm có thể có tác động mạnh phá vỡ nhu cầu dầu mỏ. Tuy nhiên, họ có thể đang bỏ sót một vài điều. Chi phí sản xuất pin đã giảm 80% kể từ năm 2008, và mặc dù tốc độ cải tiến đang chậm lại, doanh số xe chạy điện năm ngoái tăng 70%, lên đến 550.000 chiếc. Doanh số thực sự giảm ở Mỹ, có lẽ vì giá xăng dầu thấp, nhưng lại tăng gấp ba lần ở Trung Quốc, giờ đây đã trở thành thị trường xe chạy điện lớn nhất thế giới.

Năm tới Tesla nhắm đưa ra xe Model 3 với giá cả phải chăng hơn. Họ hy vọng rằng chi phí sản xuất pin hàng loạt tại Gigafactory mới ở Nevada sẽ giảm xuống dưới 100 USD cho mỗi kWh vào năm 2020 (xem biểu đồ), và chúng sẽ đạt được quãng đường 350km cho một lần sạc.

Các quốc gia khuyến khích mạnh mẽ việc chuyển đổi sang xe chạy điện đã chứng kiến mức tăng trưởng nhanh chóng trong việc sử dụng các xe này. Chẳng hạn, Na Uy đưa ra mức thuế thấp hơn, miễn phí cước sử dụng đường và cho phép đi vào tuyến đường của xe buýt. Gần một phần tư những chiếc xe mới được bán ra hiện nay chạy bằng điện (nguồn thủy điện dồi dào cũng làm cho lưới điện rất sạch).

Đây là tín hiệu tốt cho sự phát triển trong tương lai, đặc biệt là nếu các chính phủ tăng cường cam kết điện khí hóa trong bối cảnh hiệp định Paris. Sáng kiến Xe chạy điện (EVI), một nhóm bảo trợ của 16 quốc gia sử dụng xe chạy điện, đã cam kết đạt được 20 triệu xe vào năm 2020. Cơ quan Năng lượng Quốc tế cho biết, để có cơ hội 50/50 chạm tới mục tiêu ấm lên toàn cầu 2ºC, sẽ cần phải đạt được 700 triệu xe chạy điện lưu thông vào năm 2040. Điều đó có vẻ cực kỳ tham vọng, tương đương với việc cần đưa tốc độ tăng trưởng doanh thu hàng năm của xe chạy điện ngang với Mẫu xe T của Ford -- tại một thời điểm khi ngành công nghiệp xe hơi cũng đang trong quá trình chuyển đổi có khả năng mở ra kỷ nguyên mới cho xe tự lái.

Nhưng hãy tưởng tượng nếu như đạt được dự báo của Sáng kiến Xe chạy điện. Đến năm 2020, doanh số các xe chạy điện mới sẽ ở mức 7 triệu xe một năm, thay cho mức tăng trưởng doanh số bán hàng mới của các động cơ xăng, Kingsmill Bond của công ty nghiên cứu Trusted Sources cho hay. Các nhà đầu tư, vốn không chỉ tập trung vào tổng nhu cầu dầu mỏ mà còn nhìn vào sự thay đổi trong nhu cầu, có thể xem đây như một điểm lật (tipping point). Như ông Bond cho biết: "Các nhà đầu tư không nên dựa trên cách tiếp cận thản nhiên của các sử gia vốn cho rằng không phải lo lắng về sự thay đổi."

Quỳnh Anh
The Economist


* e-totaller: chơi chữ từ từ teetotaler = a person who never drinks alcohol: người không bao giờ uống rượu.

Hai người đàn ông trong một bồn tắm

Kuril islands. Photo courtesy Peter.

Thủ tướng Nhật Bản lên kế hoạch cho một cuộc đối thoại trực tiếp “ấm áp” với Tổng thống Nga. Nhưng khả năng cho một bước đột phá trong tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước này là không nhiều.

Hiroshi Tokuno vẫn còn nhớ tiếng bước chân quân lính trên sàn gỗ lớp học của ông. Khi 600 quân Liên Xô đổ bộ lên hòn đảo Shikotan của Nhật Bản vào ngày 01 tháng 9 năm 1945, ông nhớ lại, "Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ bị giết." Khi bớt sợ hãi, ông kết bạn với kẻ xâm lược và học tiếng Nga. Ba năm sau, họ dồn ông và gia đình lên một chiếc thuyền vượt gió biển về đất liền Nhật Bản.

Ông Tokuno, nay đã 82 tuổi, là một trong khoảng 17.000 người Nhật bị
Photo credit: The Economist.
trục xuất khỏi khu vực mà Nhật Bản gọi là Lãnh thổ Phương Bắc, gồm bốn hòn đảo nằm dưới cùng trong quần đảo Kuril (hay Chishima trong tiếng Nhật), giữa đảo cực bắc Hokkaido của Nhật Bản và những hoang đảo tuyết phủ của Kamchatka (xem bản đồ). Trong thế kỷ 19, Nga đã công nhận chủ quyền của Nhật Bản trên bốn hòn đảo, và năm 1875 đã trao tất cả đảo trong quần đảo Kuril cho Nhật Bản. Nhưng chỉ một vài ngày trước khi Nhật đầu hàng Đồng Minh vào năm 1945, Liên Xô đột ngột tuyên bố chiến tranh, dù trước đó không chiến đấu với Nhật Bản. Quân đội Liên Xô nhanh chóng chiếm toàn bộ quần đảo, hình thành nên một vụ tranh chấp kéo dài 70 năm. Nhật Bản yêu cầu đòi lại bốn hòn đảo cực nam. Liên Xô đề nghị trao lại hai đảo nhỏ nhất trong số đó, Habomai và Shikotan, nếu Nhật Bản từ bỏ yêu sách đối với những đảo còn lại. Nhưng Nhật Bản từ chối. Sự bế tắc vẫn tồn tại cho đến ngày nay.

Ngày 15 tháng 12, Tổng thống Nga Vladimir Putin sẽ có chuyến thăm chính thức đầu tiên của ông tới Nhật Bản trong một thập kỷ qua. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe -- cháu trai của một cựu bộ trưởng trong thời chiến và là thủ tướng sau chiến tranh -- đã không che đậy sự quan tâm cá nhân của ông trong việc giải quyết vấn đề này. Ông đã mời ông Putin đến tắm cùng ông ở suối nước nóng tại quê nhà Nagato ở miền nam Nhật Bản -- một dịp để hai người đàm phán trực tiếp. Hiện tại chính là thời điểm cho giải pháp, ông Muneo Suzuki, cố vấn không chính thức của Thủ tướng về vấn đề với Nga cho hay.

Tại bến cảng hoen rỉ cũ kỹ Nemuro ở Hokkaido, nơi nhiều người di tản đã bị mắc kẹt kể từ những năm 1940, đã có niềm hy vọng chắc chắn cho một bước đột phá. Sẽ khó có chuyện ông Putin đến tay không, ông Shunsuke Hasegawa, thị trưởng của thị trấn cho biết. Tổng thống Nga là một "nhà lãnh đạo mạnh mẽ", người sẽ đối mặt với những phản đối về một bản thỏa thuận như vậy ở Nga, ông nhấn mạnh.

Ông Hasegawa than rằng chỉ 6.641 cư dân cũ trên các đảo vẫn còn sống, tất cả đều là người già. Hơn nữa, các vùng nước xung quanh các đảo vốn cung cấp ngư trường cho tàu thuyền từ Nemuro. Thành phố này giờ đã mất đi một nửa dân số kể từ cuộc chiến. "Đây là cơ hội cuối cùng của chúng ta để giải quyết vấn đề này," ông nói.

Nhiều vấn đề đang bị đe dọa hơn cả vấn đề quyền đánh bắt cá. Tranh cãi đã ngăn cản một kết thúc chính thức đối với sự thù địch giữa Nga và Nhật Bản. Các nhà ngoại giao Nhật Bản bứt rứt vì bế tắc tiếp tục sẽ đẩy Nga gần hơn với Trung Quốc.

Một trong số những điều có thể hấp dẫn đối với Nga là việc làm sống lại một đề nghị bị bỏ xó từ lâu về việc xây dựng một đường ống dẫn khí 5,3 tỷ USD giữa đảo Sakhalin của Nga và Tokyo. Nhật Bản cũng đang treo trước mắt hàng tỷ USD cho vay ưu đãi để phát triển vùng Viễn Đông nghèo của Nga, cũng là một động lực để thúc đẩy đầu tư tư nhân. Trong khi đó, Nga đang cảnh giác với việc trở thành một đối tác cấp dưới cho Trung Quốc ở châu Á. "Chúng tôi không thể đặt cược hết vào một chỗ", Alexander Panov, cựu Đại sứ Nga tại Nhật Bản cho biết.

Nhưng những trở ngại cho một thỏa thuận hiện đang rất không thuận lợi. Một cuộc thăm dò gần đây cho thấy 78% người Nga đều phản đối trao lại tất cả bốn hòn đảo; 71% phản đối trao lại Shikotan và Habomai. "Ở Nga, nếu bất kỳ tổng thống nào, ngay cả ông Putin, trao đi hai đảo của chúng tôi cho Nhật Bản, mức đánh giá của dân chúng đối với ông ấy sẽ tụt xuống cực kỳ thảm hại", Dmitry Kiselev trưởng ban dân vận Nga cho biết vào tháng trước. "Người Nhật thích nói về việc giữ thể diện, nhưng họ quên rằng người Nga cũng có thể diện của mình," ông Anatoli Koshkin của Đại học Phương Đông tại Moscow cho biết. Các hòn đảo bảo vệ con đường từ biển Okhotsk tới Thái Bình Dương, “một vấn đề sống còn" cho hải quân Nga, ông Shigeru Ishiba cựu Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản cho hay.

Một ngạc nhiên nhỏ là sau đó ông Putin tuyên bố thẳng thừng hồi tháng 9 rằng: "Chúng tôi không trao đổi lãnh thổ." Valentina Matvienko, phát ngôn viên của thượng viện quốc hội Nga, cho biết trong chuyến thăm tới Tokyo vào tháng 11: "Chủ quyền của Nga về quần đảo Kuril là không thể chối cãi và không được phép sửa đổi." Củng cố thêm thông điệp đó, các lực lượng vũ trang Nga tuyên bố vị trí của hệ thống phòng thủ tên lửa trên Etorofu và Kunashiri hồi tháng trước.

"Chính phủ của ông Abe đã để hy vọng vượt khỏi tầm kiểm soát, thậm chí gián tiếp ám chỉ một cuộc bầu cử sớm dựa trên sự thành công của hội nghị thượng đỉnh", ông James Brown của Đại học Temple, Nhật Bản cho biết. Những triển vọng đang dần nhạt nhòa về một thỏa thuận lãnh thổ có thể giúp giải thích cho tuyên bố bất ngờ của ông Abe vào ngày 05 tháng 12 rằng ông sẽ đến thăm Trân Châu Cảng, khu vực chiến trường cuộc tấn công của Nhật Bản đã kéo Mỹ vào tham chiến trong Thế chiến II vào năm 1941. Vị Thủ tướng này đang tìm kiếm một sự kiện để thúc đẩy lòng tin của nhân dân vào ông và đánh lạc hướng khỏi hội nghị thượng đỉnh với ông Putin, nhằm duy trì hy vọng về cuộc bầu cử sớm vào tháng Một, tờ báo Nikkei của Nhật Bản tuyên bố.

Tuy nhiên, không có mấy khả năng Nga sẽ dập tắt hoàn toàn hy vọng của Nhật Bản. "Phía Nga không muốn điều này kết thúc," ông Brown nói; thay vào đó, họ sẽ tìm cách để thúc đẩy đầu tư của Nhật Bản mà không cần phải nhượng lại chủ quyền lãnh thổ, ông dự đoán. Một bước tiến có thể diễn ra tại hội nghị thượng đỉnh đó là khả năng nới lỏng các quy định cấp visa và tạo ra một khu vực kinh tế đặc biệt, cho phép các doanh nghiệp Nhật Bản tiếp cận dễ dàng hơn với quần đảo Kuril. Suy cho cùng, chính ông Putin đã nói có thể tìm ra giải pháp để không bên nào "cảm thấy giống như một kẻ thua cuộc".

Hy vọng trở về nhà của ông Tokuno đã được nâng lên và bị dìm xuống hết lần này đến lần khác trong những năm qua. Từ mũi bán đảo Shiretoko, chỉ một vài dặm từ Nemuro, ông có thể nhìn thấy Habomai ngoài khơi. Một thập kỷ trước, ông được phép thăm Shikotan trong một cuộc hành hương đến thăm mộ của tổ tiên mình. Ông vẫn còn nhớ tiếng Nga ông đã học khi còn bé. Nhà của ông đã không còn nhưng ông không đau buồn. Đó là chiến tranh, ông Tokuno nói; cách tốt nhất để trân trọng nỗi đau là đảm bảo nó không bao giờ xảy ra lần nữa. Một hiệp ước hòa bình sẽ đem đến một sự khởi đầu.

Quỳnh Anh
The Economist

"In a cleft stick" nghĩa là gì?

Con đường tơ lụa trên biển. Photo courtesy U.S. Army.

Nếu một người hay một tổ chức 'in a cleft stick', có nghĩa là họ đang trong một tình huống khó khăn, khiến họ rắc rối và sẽ gây phương hại đến bất kỳ điều gì họ định làm (a person or organization is in a cleft stick, mean that they are in a difficult situation which will bring them problems and harm whatever they decide to do).

Ví dụ
Because of new employment laws, these companies are caught in a cleft stick.

He was caught in a cleft stick: keep the marquee acquisitions/projects afloat at whatever cost and bear the strain or ease the financial mess by letting go parts of the empire. Either decision would be equally unpopular.

India does not have the strategic weight to counter this initiative (China's 21st Century Maritime Silk Road, a concept of building a ‘maritime highway’ that will also involve building new or upgrading existing port facilities in the region) with an alternate proposal of equal or higher advantage for the region. It is therefore caught in a cleft stick.

Phạm Hạnh

Những người Nhật “bốc hơi”

Báo NYPost có bài về 'những người Nhật bốc hơi': vì nợ nần, ly hôn, mất việc, thậm chí thi trượt -> gói ghém đồ đạc, bán nhà, thay đổi diện mạo... và biến mất mãi mãi,

có thể được như vậy, vì có một xã hội khác bên dưới xã hội Nhật Bản, “thành phố Sanya không nằm trên bất kỳ bản đồ chính thức nào, về mặt kỹ thuật, nó hoàn toàn không tồn tại, có thể gọi nó là một khu ổ chuột trong lòng Tokyo mà tên của thành phố đã bị chính quyền xóa sổ. Cư dân ở đó chỉ có thể tìm những công việc được cung cấp bởi các tổ chức tội phạm yakuza hoặc những ai muốn tuyển dụng lao động chui giá rẻ”,

...Có người ngoại tình nhưng điều khiến ông ta cảm thấy xấu hổ thật sự là mất công việc kỹ sư. Không biết phải ăn nói với gia đình ra sao, người đàn ông tội nghiệp sáng sáng vẫn hôn tạm biệt vợ rồi giả bộ đi làm. Tuy vậy, ông chỉ duy trì cuộc sống lừa dối này vỏn vẹn 1 tuần. Cuối cùng, quyết bỏ mạng trong Rừng Tự tử (Suicide Forest). Có người mẹ đưa con đi thi hát ở trường, nhưng đã biến mất, gia đình hy vọng với bản năng một người mẹ, bà sẽ quay về với con và người thân...

“The Vanished: The Evaporated People of Japan in Stories and Photographs” (“Những kẻ biến mất: Người Nhật bốc hơi trong những câu chuyện và hình ảnh”) của nhà báo người Pháp Léna Mauger là cuốn sách đầu tiên đề cập sâu sắc hiện tượng này...