Journey in Life: 12/27/16

Tuesday, December 27, 2016

Ở Nhật Bản, một loại hình trường học mới về kinh doanh đang thực hiện đào tạo lại những công chức làm công ăn lương mệt mỏi chán nản

More businessmen in Tokyo sleep on the street than homeless people. Photo courtesy Jorge Gonzalez.

Nỗi buồn của nhân viên văn phòng: Tuổi thọ tăng lên đồng nghĩa với việc nhiều người không chịu được việc làm suốt đời.

Viện Tài nguyên nhân lực xã hội ở Tokyo là một kiểu trường đào tạo kinh doanh khác thường. Những người tham gia (hai phần ba là nam giới) chủ yếu đã bỏ việc hoặc nhận gói tiền bồi thường thôi việc từ các công ty lớn của Nhật Bản, và đang cố gắng để bắt đầu lại. Xóa bỏ những thói quen cả đời bắt đầu bằng cách xóa bỏ các rào cản: những người từng là nhân viên văn phòng cười lo lắng khi họ chia sẻ về một bữa ăn trưa bento cùng người lạ và bị bịt mắt (ý tưởng là họ phải sử dụng bốn giác quan còn lại để giao tiếp).

Cách thức chuẩn bị cho sự nghiệp mới tiếp theo là khiến họ tương tác với tư cách cá nhân, chứ không phải với tư cách nhân viên của công ty hoặc đối tác kinh doanh, ông Matsuhiko Ozawa -- giám đốc của Viện và là chuyên gia về khóa học kể trên -- cho hay. Ở một đất nước có yêu cầu rất cao với nghi thức giới thiệu, các học viên thậm chí đã không trao đổi danh thiếp. Tên, chức danh và thông tin cá nhân bị cấm (các học viên đều dùng tên giả) để tránh tạo ra hệ thống phân cấp văn phòng kiểu cũ vẫn tồn tại bên ngoài lớp học. "Chúng tôi bắt đầu từ đầu và giúp đỡ mọi người tìm lại chính mình một lần nữa," ông Ozawa nói.

Trong nhiều năm, các nhân viên văn phòng leo lên bậc thang sự nghiệp vốn ít coi trọng kỹ năng hơn so với lòng trung thành và tinh thần làm việc kiên trì chăm chỉ. Mặc dù điều đó thường được coi là truyền thống về trách nhiệm có từ hàng thế kỷ trước ở Nhật Bản, nhưng hệ thống nhân viên văn phòng làm công ăn lương được tạo ra sau thời kỳ 1945, ông Naohiro Yashiro, cựu cố vấn về chính sách kinh tế cho thủ tướng Shinzo Abe, cho hay. Trong những năm bùng nổ sau chiến tranh, các công ty đã tuyển dụng lực lượng lao động là nhân viên chính thức được thuê suốt đời. Tất cả những gì cần làm để được trả lương nhiều hơn là tuổi đời tăng lên.

Đổi lại, đòi hỏi cực cao của các nhà tuyển dụng phải được đáp ứng. Nhân viên không thể từ chối khi bị điều chuyển – thường chỉ thông báo trước một vài ngày – tới công ty con cách xa nhà hàng trăm dặm. Nhiều trẻ em lớn lên vắng bóng người cha. Công việc, chứ không phải gia đình, mới là nguồn lực tinh thần chủ yếu. Nhân viên toàn thời gian người Nhật vẫn làm việc nhiều hơn 400 giờ mỗi năm so với đồng nghiệp ở Đức hay Pháp, ông Kazuya Ogura, chuyên gia về lao động tại Đại học Waseda ở Tokyo, cho hay.

Nhân viên văn phòng vẫn ngoan cường làm việc trong hầu hết các ngành công nghiệp. Ông Abe đã hứa trong một phần cải cách thúc đẩy tăng trưởng là sẽ đem lại nhiều quyền lợi hơn cho những người ở dưới cùng của hệ thống phân cấp – nhân viên bán thời gian và lao động tạm thời với mức lương thấp hơn nhiều – nhưng mới chỉ dừng lại ở bước căn bản, chẳng hạn như quy định buộc các công ty trả mức lương ngang nhau cho công việc như nhau. Mặc dù vậy, đối với nhiều người, việc làm suốt đời đang kết thúc sớm hơn so với trước đây, bởi vì rất nhiều công ty không đủ khả năng trả tiền cho những lao động như vậy đến khi nghỉ hưu. Nhiều người đang là dư thừa so với yêu cầu trong các ngành công nghiệp suy thoái như điện tử tiêu dùng, và khó mà đào tạo lại. Hệ thống này hoạt động tốt tới khi nhân viên khoảng 70 tuổi, ông Ozawa cho biết, nhưng nhiều công ty đang đề nghị đưa ra gói bồi thường nghỉ việc hậu hĩnh cho những lao động chính thức trong biên chế để họ nghỉ việc sớm.

Ngày càng nhiều người tự nguyện nghỉ việc. Hiroyuki Ito, hiện là học viên tại Viện, bước ra khỏi nấc thang sự nghiệp nhân viên văn phòng ở tuổi 45, sau 23 năm làm việc tại công ty. Ông nghỉ việc vì công việc thật quá nhàm chán. "Anh không được mạo hiểm hoặc phiêu lưu," ông nói. Giờ đây ông tham gia vào khóa học ở trường tại Tokyo -- có vài trường tương tự như vậy ở Nhật Bản -- và hy vọng sự nghiệp thứ hai của ông sẽ là giáo viên. Việc đào tạo lại cần thời gian. Các cựu nhân viên văn phòng đến trường hai lần một tuần trong năm tháng để từ bỏ lối suy nghĩ cũ của mình. Sau nhiều thập kỷ làm việc quá sức và nhàm chán đơn điệu, thời gian đó chỉ như một cái nháy mắt.

Quỳnh Anh
The Economist

Tâm An_tuần 5/12


Bài trước: Tâm An_tuần 4/12

"Stick his nose up in the air" nghĩa là gì?

Mũi hếch như bò ngắm sao. Photo courtesy Jeroen Bennink.

'Stick one's nose up in the air' (hếch mũi lên giời) nghĩa là cư xử rất kiêu căng, ngạo mạn (to behave in a haughty manner); dương dương tự đắc.

Ví dụ
We're not some indie coffee shop that sticks our nose up in the air. We're not pretentious about coffee at all, but we have some really good coffee.

If village leadership honestly believes a fence in Barker Common is the start of something big, especially when it arrogantly sticks its nose up in the air to more obvious regional solutions, our economic troubles will only continue to mount.

It’s all about customer experience, golfers could play brilliant golf with no one there, so if they’re playing brilliant golf half of the job is done. From there you need to make sure it’s affordable, markeatble and then you have to create an arena that is conducive to people finding it entertaining. Sport has to be entertainment, we can’t stick our nose up in the air and say ‘my dear boy this is golf’.

Phạm Hạnh

Đi vào vùng hoàng hôn: Khi nhu cầu dầu không còn

Photo courtesy troy_williams.

Thoáng nhìn về kỷ nguyên hậu dầu mỏ.

Stewart Spence từng là một quản lý khách sạn trẻ tuổi ở Aberdeen năm 1971 khi ông lần đầu tiên hiểu được ý nghĩa của cơn sốt dầu. Khách sạn Commodore của ông là nơi duy nhất trong thành phố Scotland có phòng tắm riêng khép kín. Một ngày kia, có một nhà điều hành dầu khí người Mỹ bước vào, mặc quần jean, giày cao bồi và đội mũ phớt. Khi chắc chắn rằng phòng ngủ có nhà tắm riêng khép kín, ông đặt 20 phòng trong vòng sáu tháng và thanh toán trước bằng hối phiếu ngân hàng. Người Mỹ ấy là ông chủ của một công ty dịch vụ dầu mỏ tên là Global Marine, đang vận chuyển ba giàn khoan dầu từ Vịnh Mexico đến Aberdeen. Từ đó bắt đầu bùng nổ dầu mỏ Biển Bắc ở Scotland. Nhà hàng bít tết, xì gà và các từ như công nhân giàn khoan hay thợ giàn khoan bắt đầu trở nên thông dụng. Người Texas nổi tiếng uống champagne Dom Perignon bằng vại. Họ sống cuộc sống giàu sang cho đến khi giá dầu sụt giảm vào năm 1986. Sau đó, họ biến đi nhanh như khi họ đến, ông Spence kể lại.

Kể từ những ngày ấy, dầu mỏ đã mang đến chu kỳ kinh tế lên xuống cho Aberdeen, nhưng chưa bao giờ cảm giác chán nản bao trùm thành phố như hiện nay. Năm 2012, thành phố có nhiều triệu phú trên 100.000 người hơn cả London và có sân bay trực thăng bận rộn nhất thế giới, đưa người lao động ra vào các giàn khoan. Nhưng giá dầu sụp giảm năm 2014 đã nhấn mạnh thực tế là sau gần nửa thế kỷ khai thác, nhiều mỏ dầu ngoài khơi của Aberdeen đã trở nên quá đắt đỏ do đó không bền vững. Số lượng việc làm đã giảm mạnh, và một số nhà sản xuất dầu đang trên bờ vực phá sản.

Khi thế giới bước vào hoàng hôn của thời đại dầu mỏ, một số người băn khoăn liệu khó khăn của Aberdeen có phải là dấu hiệu cho những điều đang đến với ngành sản xuất dầu mỏ trên thế giới. Ông Spence cho là như vậy. Ông vẫn điều hành khách sạn lịch sự nhất ở Aberdeen và sắp cho lắp đặt một trạm sạc cho xe chạy điện.

Không phải vội, nhiều cựu binh ngành công nghiệp dầu mỏ tuyên bố như vậy. Họ đồng ý rằng các khu vực dầu mỏ có chi phí cao như Biển Bắc của Scotland, cát dầu của Canada và vùng Bắc Cực của Nga có thể sẽ gặp rắc rối, nhưng vẫn trông đợi ít nhất một hoặc nhiều cuộc bùng nổ dầu mỏ sinh ra từ đống tro tàn của khủng hoảng ngày hôm nay, bởi vì trong hai năm qua có rất ít đầu tư vào việc tìm kiếm mở ra nguồn cung mới. Trong vài năm tới, họ cho rằng thị trường sẽ lại một lần nữa chuyển từ dư thừa sang thiếu thốn. Những người hưởng lợi lớn nhất là các nhà sản xuất ở những khu vực có chi phí thấp và trữ lượng dầu phong phú như Trung Đông, lưu vực Permian của Mỹ, khu vực tiền-muối (pre-salt) ở Brazil và các khu vực ở Tây Phi. Cho dù những vùng này có thể chứng kiến bùng nổ trong đầu tư, nhưng đó sẽ chỉ là ngắn hạn, bởi vì nhu cầu dài hạn đang giảm và thị trường có thể nhanh chóng trở nên dư cung.

Sau màn đêm
Khi thời điểm suy giảm cuối cùng của nhu cầu dầu mỏ tới thì ngành công nghiệp dầu mỏ, các chính phủ và thế giới nói chung sẽ thế nào? Tác động lớn nhất sẽ là ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào dầu. Theo Jason Bordoff, thuộc Trung tâm về chính sách năng lượng toàn cầu của Đại học Columbia, thì những căng thẳng xã hội hiện nay thể hiện rõ ràng ở các quốc gia có ngân sách phụ thuộc dầu mỏ như Venezuela và Nigeria là lời cảnh báo về tương lai. Các nước vùng Vịnh đang thúc đẩy nỗ lực nhằm đa dạng hóa nền kinh tế tránh phụ thuộc vào dầu, như điều Ả Rập Saudi đã và đang làm. Mỹ có thể phải tính lại đối sách địa chính trị "đổi dầu lấy an ninh" của mình với nước này. Doanh thu từ dầu thấp đi có thể làm tăng bất ổn tại những khu vực như Iraq.

Về phần mình, các công ty dầu mỏ sẽ phải tìm kiếm lĩnh vực kinh doanh mới. Biển Bắc cho thấy một thoáng nhìn về những cơ hội phía trước. Gần khu vực Aberdeen, các công ty như Royal Dutch Shell đang cho ngừng hoạt động các bộ phận trong mạng lưới lớn các giàn khoan và đường ống được lắp đặt từ những năm 1970. Andrew McCallum, cố vấn pháp luật cho Cơ quan dầu và khí đốt của Anh, cho biết các công ty dầu mỏ có thể triển khai kỹ năng rút khỏi dịch vụ ở tất cả các dự án trên toàn thế giới.

Trông đợi ở Na Uy
Statoil, công ty dầu mỏ nhà nước Na Uy, là ví dụ về những việc các công ty dầu mỏ có thể làm trong tương lai. Đầu năm nay công ty này đã giành được hợp đồng cho thuê để xây dựng trang trại gió nổi lớn nhất thế giới 15 dặm ngoài khơi bờ biển Peterhead, phía bắc Aberdeen. Mỗi tuabin trong năm chiếc tuabin 6mW sẽ được gắn vào đáy biển trên một nền thép nổi, cho phép nó hoạt động ở vùng nước sâu hơn so với tuabin thông thường nhúng vào đáy biển. Do đó sẽ có thể tiếp cận với gió mạnh ngoài khơi xa, làm giảm giá thành sản xuất điện.

Quay trở lại Na Uy, Statoil cũng đang triển khai hai dự án để tích trữ CO2 dưới nước, là một trong những ví dụ công nghệ tiên tiến nhất được coi là chìa khóa loại bỏ các chất khí nhà kính trong khí quyển: thu nạp và lưu trữ carbon (CCS). Công nghệ này vẫn tốn kém và còn trong giai đoạn trứng nước, và các chính phủ chỉ hỗ trợ một cách không thường xuyên. Năm 2015, khoảng 28 triệu tấn CO2 được lưu trữ theo cách đó. Để giúp đáp ứng giới hạn 2ºC, Cơ quan Năng lượng quốc tế cho rằng thế giới cần lưu trữ một con số khổng lồ khoảng 4 tỷ tấn mỗi năm vào năm 2040.

Nhiên liệu sinh học là một cách khác nhằm đa dạng hóa. Tại cảng biển Bắc của Rotterdam, Neste, một nhà máy lọc dầu của Phần Lan, nhập chất béo thải ra từ các lò giết mổ trên thế giới và chuyển đổi thành dầu diesel sinh học cho ngành công nghiệp vận tải và hàng không. Nó đắt hơn dầu diesel thông thường, nhưng theo luật của Liên minh châu Âu thì trong hỗn hợp các loại nhiên liệu của các nước thành viên phải bao gồm 10% nhiên liệu sinh học vào năm 2020. Ông chủ của Neste, Matti Lievonen, nhớ lại rằng trong năm 2012 chín phần mười lợi nhuận hoạt động của công ty đến từ tinh luyện nhiên liệu hóa thạch, còn giờ đây năng lượng tái tạo chiếm 40%.

Không phải tất cả các công ty dầu mỏ đều muốn làm nhà sáng tạo. Nhiều công ty lên kế hoạch phát triển thêm khí đốt, nhưng cũng nhấn mạnh rằng nhu cầu của thế giới đối với dầu làm nguyên liệu cho hóa dầu sẽ giúp giữ ngành kinh doanh dầu mỏ tồn tại ngay cả khi nhu cầu từ xe hơi suy yếu. Cơ quan Năng lượng quốc tế dự đoán hóa dầu sẽ tăng nhu cầu dầu mỏ lên gần 6 triệu thùng một ngày trong 25 năm tới. Các công ty dầu mỏ đang tạo áp lực lên các chính phủ nhằm áp thuế carbon, vì tin rằng đó là cách tốt nhất để loại trừ than và thúc đẩy khí đốt tự nhiên, ít nhất là cho đến thời của năng lượng tái tạo và pin. Cho đến hiện nay, các chính phủ thể hiện rất ít sự quan tâm đối với các loại thuế như vậy. Cơ quan Năng lượng quốc tế tính toán rằng thị trường carbon chỉ chiếm khoảng 11% lượng khí thải liên quan đến năng lượng toàn cầu trong năm 2014. Ngược lại, 13% lượng khí thải có liên quan đến việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch được hỗ trợ bởi các khoản trợ cấp tiêu dùng.

Nhiên liệu dùng trong giao thông vận tải bị đánh thuế rộng rãi hơn, nhưng ở mức rất khác nhau, dao động từ cao ở châu Âu đến thấp ở Mỹ và Trung Quốc. Các chuyên gia cho rằng ở Mỹ dễ điều chỉnh mức tiêu thụ nhiên liệu hơn nơi khác thông qua các tiêu chuẩn hiệu quả nhiên liệu, và người tiêu dùng cũng ít để ý tới các tiêu chuẩn này hơn nhiều so với các loại thuế nhiên liệu.

Nhân tố rất quan trọng thường bị đánh giá thấp trong tương lai của dầu mỏ chính là người tiêu dùng. Sự lựa chọn của người tiêu dùng, cùng với lựa chọn của các nhà sản xuất và các chính phủ, sẽ quyết định số phận cuối cùng của dầu mỏ, bởi vì dầu cung cấp năng lượng cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa cho người tiêu dùng, cho những chiếc xe tải vận chuyển hàng hóa, cho xe ôtô đang đi lại và tạo ra biết bao đồ dùng bằng nhựa chất đầy trong nhà.

Báo cáo đặc biệt này bắt đầu bằng cách nhớ lại xe ôtô đã thay thế xe ngựa như thế nào. Các nhà quy hoạch đô thị đã không tìm được cách xử lý các vấn đề liên quan đến phân ngựa. Chính phủ đã mở đường, đặt biển hiệu giao thông và đặt ra luật pháp cho phép chiếc xe có động cơ tự hình thành. Tuy nhiên chính là sự quyến rũ của mẫu xe Model T đối với hàng triệu người tiêu dùng cuối cùng đã loại bỏ xe ngựa khỏi mặt đường.

Tương tự như vậy, các công ty dầu mỏ có thể chuyển sự chú ý sang nhiên liệu thay thế, chính phủ có thể xoay xở với các loại thuế nhiên liệu và phí tắc nghẽn, chi phí sản xuất pin có thể đột ngột giảm xuống và lưới điện có thể được chuyển đổi sang năng lượng mặt trời và gió. Nhưng không một sự phát triển nào trong đó có thể một mình kết thúc kỷ nguyên dầu mỏ. Chỉ khi nào doanh nghiệp có thể nắm bắt được trí tưởng tượng của người dân bằng loại xe mới làm thay đổi hoàn toàn việc đi lại, chứ không phải chỉ là thay đổi nhiên liệu, thì động cơ xăng sẽ bị loại bỏ khỏi mặt đường.

Điều này có thể thành hiện thực với xe ôtô tự lái chạy điện, thậm chí có thể không còn chỉ là những cái hộp bốn bánh di động, mà còn có thể là những văn phòng, khách sạn và trung tâm giải trí di động, chạy êm ru trên đường phố suốt ngày đêm. Hoặc có thể là một đổi mới khác trong tương lai. Một vở kịch mới ở London, "Dầu", dự đoán rằng thời đại hydrocarbon sẽ kết thúc với việc Trung Quốc khai thác Heli-3 trên Mặt trăng làm nhiên liệu cho xe hơi năng lượng hạt nhân và nhà cửa trên Trái đất. Dù hình dung cụ thể trong đầu bạn như thế nào, sẽ vẫn còn có nhiều cuộc chiến tranh và các cú sốc dầu mỏ. Nhưng khi các động cơ đốt trong cuối cùng đánh mất vị thế chủ chốt trên những con đường của thế giới thì thời đại của dầu mỏ cũng đến lúc phanh lại.

Quỳnh Anh
The Economist

Tỏa sáng hay chói sáng? Những nỗ lực hỗ trợ phụ nữ làm việc của Nhật Bản đang suy yếu dần

Photo credit: The Economist.

Tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động cao nhưng vị trí của họ lại thấp.

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe là nhà tranh đấu trao quyền cho phụ nữ bất đắc dĩ. Từ một người kiên trung với đường lối bảo thủ và là lãnh đạo lâu năm của một đảng phản đối chủ nghĩa nữ quyền, ông Abe đã có sự đổi thay do tình trạng nhân khẩu học đáng báo động của Nhật Bản: lực lượng lao động sẽ giảm khoảng 25 triệu người, tức hơn một phần ba, vào năm 2060. Bà Kathy Matsui thuộc ngân hàng đầu tư Goldman Sachs nói: trong khi đó hàng triệu phụ nữ có trình độ đại học đang phải ngồi nhà với tài năng bị lãng phí. "Nhật Bản sẽ là nước có lợi hơn hầu hết các nước khác nếu tăng tỷ lệ lao động nữ."

Tuy nhiên, bốn năm kể từ khi ông Abe nhậm chức, và 17 năm kể từ khi bà Matsui đặt ra thuật ngữ “nền kinh tế vì phụ nữ” [womenomics - chính sách tăng cường vai trò của phụ nữ trong nền kinh tế - ND], chính phủ vẫn đang chật vật để giúp phụ nữ Nhật Bản "tỏa sáng", những từ ngữ hoa mỹ để nâng cao vị thế của phụ nữ trong công việc. Theo xếp hạng mới nhất tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Nhật Bản có chỉ số chênh lệch giới tính [đánh giá khác biệt nam nữ trong các lĩnh vực sức khỏe, giáo dục, kinh tế và chính trị - ND] xếp thứ 111 trong 144 quốc gia, đã rớt 10 hạng kể từ năm 2015. Chỉ 9,5% thành viên trong Hạ viện Nhật Bản là nữ, xếp thứ 155 trên thế giới. Dưới sự chỉ đạo của ông Abe, số lượng nữ giám đốc tại các công ty Nhật Bản đã nhích lên khoảng 2,7%.

Chính phủ tuyên bố sẽ thêm một triệu phụ nữ vào lực lượng lao động kể từ năm 2012. Nguyên lãnh đạo cơ quan quốc gia về bình đẳng giới Masako Mori cho biết tỷ lệ 66% phụ nữ tham gia lao động như hiện nay là con số nằm trong top cao nhất thế giới. Những người chỉ trích cho rằng kết quả này phần lớn là do tình hình thị trường lao động đầy căng thẳng (drum-tight) chứ không phải do chính sách đổi mới. Nhận thức được rằng hầu hết các công việc này ở rất thấp trong hệ thống cấp bậc của công ty, chính phủ cũng đã vực lại mục tiêu đặt ra từ chục năm nay: có 30% phụ nữ ở "vị trí lãnh đạo" vào năm 2020. Nhưng sau đó thừa nhận rằng mục tiêu này khó thực hiện được.

Haruko Arimura, nguyên lãnh đạo cơ quan phụ trách hoạt động trao quyền cho phụ nữ, khẳng định chính phủ đã có nhiều hành động nhằm cải thiện vị thế cho phụ nữ hơn là những con số thống kê này: "Lần đầu tiên chúng ta không nói về việc liệu phụ nữ có nên được nắm quyền hay không mà là nắm quyền như thế nào." Bà Arimura đã giúp thông qua một đạo luật mang tính bước ngoặt vào năm ngoái nhằm chấm dứt sự phân biệt giới tính nơi công sở. Các công ty và tổ chức nhà nước trên 300 nhân viên phải công khai số lượng nhân viên và quản lý nữ, và có mục tiêu để hỗ trợ, khuyến khích các đối tượng này. Bà nói mục đích của việc này là làm những ông chủ phải cẩn trọng mà làm tốt hơn.

Dư luận rõ ràng là đang thay đổi. Theo một cuộc khảo sát mới đây của Văn phòng nội các, lần đầu tiên hầu hết người Nhật đồng ý rằng nên để các bà mẹ tiếp tục sự nghiệp của họ. Các phương tiện truyền thông đăng tải rất nhiều câu chuyện về vấn đề quấy rối thai sản (matahara, ghép giữa "thai sản" và "quấy rối" – tình trạng phụ nữ mang thai bị bắt nạt tới mức thôi việc). Thực tế khoảng 47% phụ nữ rời bỏ công việc sau khi có con cũng gây ra nhiều lo ngại. Theo Diễn đàn kinh tế thế giới thì điều này đặc biệt không may bởi vì phụ nữ Nhật Bản có sức khỏe, được giáo dục tốt hơn và sống lâu hơn những người cùng giới ở các nước khác.

Bà Arimura, mẹ của đứa hai con, nhớ lại những áp lực khi quyết định lựa chọn sự nghiệp chính trị: "Mọi người đều nói rằng họ cảm thấy tiếc thay cho chồng và con tôi." Bà tin rằng vai trò dẫn đầu của công chúng và sự hỗ trợ nhiều hơn từ chính phủ có thể thay đổi thái độ đó. Chính phủ hứa sẽ chấm dứt tình trạng thiếu thốn của hệ thống chăm sóc trẻ em vào cuối năm tới. Bà Arimura cho rằng một vấn đề phức tạp hơn càng củng cố thói quen làm việc.

Lao động nam vẫn chiếm hầu hết các vị trí quan trọng nhất của công việc toàn thời gian tại các công ty Nhật Bản. Những giờ làm việc kéo dài khiến việc chăm sóc con cái trở thành điều không thể. Cải cách lao động được đưa ra từ chục năm trước đã đẩy nhanh sự gia tăng về số lượng lao động tạm thời, trong đó chủ yếu là phụ nữ. Theo ông Ayaka Shiomura, thành viên của hội đồng thành phố, định hướng một lực lượng lao động cân bằng về giới tính sẽ vẫn được duy trì dưới thời của ông Abe.

Theo cảnh báo của ông Nicholas Benes, Viện trưởng Viện Đào tạo giám đốc của Nhật Bản, các công ty và công đoàn miễn cưỡng phá bỏ hệ thống làm việc truyền thống của Nhật Bản, nhưng nếu không linh hoạt hơn trong các quy chế lao động, chính sách “nền kinh tế vì phụ nữ” sẽ thất bại. Ông muốn thấy một kiểu mẫu hợp đồng mới dành cho các bà mẹ, có cả nghỉ phép hợp lý và các lựa chọn nghề nghiệp thay thế, bên cạnh những tiêu chuẩn cho các nhân viên khác. Quốc hội đang thảo luận về các cải cách nơi công sở nhưng vẫn chưa có kết quả chắc chắn. Bà Matsui nói một số công ty rất muốn giữ chân nhân viên đã bắt đầu chuyển những vị trí theo thời vụ sang toàn thời gian. Bà nói thêm, dù gì đi chăng nữa ông Abe cũng đã đạt được thành tựu khi trao quyền cho phụ nữ bằng cách biến vấn đề nhân quyền thành một nhu cầu kinh tế cấp thiết. "Đó là một sự thay đổi lớn."

Bích Nhàn
The Economist