Journey in Life: January 2017

Tuesday, January 31, 2017

TRẬT TỰ THẾ GIỚI

BỨC TRANH ĐỊA CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI VÀ CHÂU Á
QUA TRẬT TỰ THẾ GIỚI CỦA KISSINGER
translated by Sơn Phạm, Jan 2017.

Thế giới dưới cái nhìn của Kissinger
Trật tự Thế giới của Henry Kissinger vừa ra đời đã gây sự chú ý của nhiều độc giả, đặc biệt là các nhà khoa học và chính khách trên thế giới.

Trước đó, Kissinger cũng đã xuất bản một loạt các tác phẩm khác về chính trị thế giới và khu vực. Lợi thế của tác giả là vừa kết hợp được chiều sâu của một nhà nghiên cứu chính trị, với một kinh nghiệm thực tiễn phong phú ở tầm ngoại giao chiến lược quốc tế trên mọi châu lục. Và Trật tự thế giới hiện diện như một tác phẩm tổng kết lại cách nhìn của Kissinger về bức tranh địa chính trị thế giới, cũng được một số ý kiến cho đây có thể là tác phẩm cuối cùng của ông.

Trong tác phẩm, Kissinger xuất phát từ Hòa ước Westphalia (chương 1) để phân tích về tương quan giữa các nước, chủ yếu là các cường quốc và các khu vực giữ một vai trò đặc biệt đối với bức tranh địa chính trị thế giới, với những khác biệt trong thế giới quan và vị trí địa lý đã ảnh hưởng đến chính sách ngoại giao của mỗi nước như thế nào. Tác giả dành chương cuối (chương 9) để bàn về vấn đề toàn cầu hoá trong thời đại khoa học công nghệ, đặc biệt là tin học và truyền thông đại chúng lan tràn đã tác động mạnh mẽ đến dư luận, các nhà lãnh đạo và các quyết định chính trị đương thời.

Theo cách nhìn của Kissinger thì trật tự thế giới ngày nay cần được đặt trên hai yếu tố căn bản: 1. Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của mỗi quốc gia có tính chính danh dựa trên căn bản của các hiệp ước và tổ chức quốc tế; 2. Và để đảm bảo duy trì hòa bình và ổn định trên thế giới cũng như các khu vực, cần phải dựa trên một sự cân bằng quyền lực mà chủ yếu phụ thuộc vào các cường quốc thế giới và khu vực.

Điểm qua một loạt các quốc gia tiêu biểu trải dài từ châu Âu, châu Á đến Trung Đông và Bắc Mỹ, và mặc dù đã lưu ý đến đặc điểm của các quốc gia và khu vực, nhưng Kissinger vẫn nghiêng về xu hướng tán đồng một kiểu trật tự thế giới do phương Tây xây dựng từ sau Thế chiến II dựa theo khuôn mẫu của Hòa ước Westphalia. Tác giả cũng không hề giấu diếm việc đề cao vai trò của Mỹ trong bối cảnh tương quan lực lượng của thế giới hôm nay.

Để hiểu được sự tự tin, phần nào ngạo nghễ của Kissinger như thấu kính phóng đại niềm tự hào Mỹ như một quốc gia dị biệt, cần phải xem xét vấn đề địa chính trị của nó.

Hợp chúng quốc Hoa Kỳ nằm gần như hoàn toàn trong Tây Bán cầu, hầu như tách biệt với phần còn lại của thế giới với tây giáp Thái Bình Dương, đông giáp Đại Tây Dương. Vị trí địa lý được hai đại dương che chở đã giúp Mỹ hầu như không bị tổn hại trong Thế chiến I, để từ đó nhanh chóng vươn lên thành một cường quốc. Cũng chính sự che chở đó đã làm người Mỹ tiếp tục tự tin trong những hành động chính trị trên khắp thế giới sau này. Bên cạnh đó, lịch sử lập quốc đã trao cho họ niềm tin vào sứ mệnh thiêng liêng từ mạc khải của Chúa, với hình ảnh của một thành phố ở trên đồi tỏa ánh sáng muôn nơi trong Kinh Thánh, cùng với sức mạnh kinh tế, chính trị và quân sự, khiến các chính khách Mỹ và người dân Mỹ qua nhiều thế hệ cho rằng mình mang sứ mệnh của Chúa cũng như nghĩa vụ của con người để đem giá trị Mỹ mà chính họ coi là tiêu biểu cho toàn nhân loại đến với toàn cầu.

Trong tác phẩm, Kissinger dẫn lời của cựu Tổng thống Ronald Reagan trong phát biểu tại Diễn văn từ nhiệm năm 1989:
“Tôi đã nói về thành phố tỏa sáng trong cả cuộc đời chính trị của tôi, nhưng tôi không biết liệu mình đã bao giờ truyền đạt thành công những gì tôi thấy khi tôi nói về nó chưa. Nhưng trong tâm trí của tôi, đó là một thành phố ở trên cao đầy tự hào được xây dựng trên những tảng đá mạnh mẽ hơn những đại dương, nơi có gió thổi qua, được Chúa ban phước và đầy chật người dân thuộc mọi tầng lớp sống trong hòa hợp và an bình – một thành phố với những bến cảng tự do, ngân nga bài ca của thương mại và sáng tạo, và nếu phải có những bức tường thành phố, những bức tường sẽ có các cửa ra vào, và các cửa rộng mở cho bất kỳ ai có ý chí và trái tim có thể tới được nơi đây. Đó là cách tôi đã thấy và vẫn còn thấy nó.”

Bên cạnh đó, Kissinger cũng thừa nhận tính nước đôi trong quan hệ chính trị và ngoại giao quốc tế của Mỹ nhằm cân bằng quyền lực và giữ gìn trật tự thế giới:
“Các cuộc tranh luận trong nước Mỹ thường được miêu tả như là cuộc đối đầu giữa chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa thực tế. Nhưng đối với Mỹ và phần còn lại của thế giới, nếu Mỹ không thể hành động theo cả hai chủ nghĩa, kết cục có thể là nó sẽ không thể hiện thực hóa chủ nghĩa nào cả.”

Địa chính trị châu Á trong trật tự thế giới
Mô hình theo Hòa ước Westphalia có thể phù hợp với lịch sử và địa lý của phương Tây, và qua thời gian, nó được bồi đắp và định hình dần như là một trật tự thế giới. Tuy nhiên với các quốc gia ở Trung Đông và châu Á, với một lịch sử lâu đời và vị trí riêng, lại không cho là như vậy. Các quốc gia này muốn một luật chơi riêng, hoặc ít nhất là phải được tham gia vào hình thành luật chơi chứ không phải chỉ thực hiện luật chơi do phương Tây tạo ra.

Trung Đông, nơi tồn tại của một thế giới Hồi giáo rộng mênh mông, tự cho rằng thế giới này trước sau phải là một vương cung thánh đường Hồi giáo, nơi được cai trị bởi Sultan, vua của các vị vua, người duy nhất có quyền ban phát chức tước cho những vị vua ở các quốc gia khác. Hồi giáo chia thế giới thành hai, một bên là thế giới Hồi giáo, bên kia là phi Hồi giáo, và nhiệm vụ của thế giới Hồi giáo là biến phần còn lại thành thế giới Hồi giáo trong một sứ mệnh jihad (thánh chiến). “Cách nhìn trật tự thế giới của họ coi Hồi giáo có thiên mệnh bành trướng khắp "vương quốc chiến tranh" như họ gọi tất cả các vùng đất do dân vô thần cư trú, cho đến khi cả thế giới là một hệ thống đơn nhất, không thể chia tách, được lời phán truyền của Đấng tiên tri Muhammad làm cho hài hòa.”

Trung Hoa, một quốc gia rộng lớn với dân số đông, xung quanh là những quốc gia nhỏ bé hơn, đã tự cho mình là quốc gia nằm ở trung tâm của thế giới, vua của nó không được coi là vị vua bình thường mà là vua của các vua dưới danh xưng “hoàng đế”, được mệnh danh là “thiên tử”, có quyền cai trị mọi quốc gia khác trong “thiên hạ”, và vua các quốc gia khác, một mặt phải chịu sự sắc phong của nó, mặt khác phải tiến hành việc triều cống vốn nặng về nghi lễ thuần phục hơn là ý nghĩa kinh tế. Vì vậy, nó không dễ dàng chấp nhận một trật tự thế giới theo luật chơi do phương Tây đã định sẵn. Trung Hoa chưa bao giờ từ bỏ ý định trở thành trung tâm của thế giới. Điều đó càng làm sâu sắc thêm tham vọng bá quyền của quốc gia này hôm nay khi nó đang trỗi dậy.

Kissinger cũng điểm qua Ấn Độ với tư cách một quốc gia có trọng lượng đáng kể ở khu vực này, với dân số đông và một sức mạnh quân sự đáng nể. Ấn Độ từ lâu đã chủ trương một đối sách trong quan hệ quốc tế: không đi theo bất kỳ một bên nào. Quốc gia này đặt lợi ích của mình như là nguyên tắc trong quan hệ với các quốc gia khác, chứ không phải là vấn đề ý thức hệ hay các liên minh. Nó cố gắng tránh xung đột và đứng về một bên xung đột với các quốc gia khác, trừ những cuộc đụng độ quân sự ở biên giới với Pakistan vốn dai dẳng qua các thập kỷ. Ấn Độ không tự đặt mình vào như là một cường quốc trong cán cân thăng bằng của trật tự thế giới, dù nó vẫn có những động thái hỗ trợ huấn luyện quân sự và dân sự cho các quốc gia bạn bè, trong đó có Việt Nam.

Kissinger bàn về Việt Nam hoàn toàn khác. Ông không nhìn Việt Nam như một nhân tố tham gia vào trật tự thế giới, mà chỉ với tư cách là tác nhân ảnh hưởng đến một cường quốc tham gia vào trật tự thế giới: Mỹ. Tại chương 8 “Hoa Kỳ: Siêu cường nước đôi”, ông dành một mục cho Việt Nam: Việt Nam và sự tan vỡ đồng thuận quốc gia, ngụ ý cuộc chiến tranh tại Việt Nam đã làm tan vỡ đồng thuận quốc gia của Mỹ. Trong Chiến tranh Lạnh, để ngăn chặn làn sóng cộng sản mà đứng đầu là Liên Xô, Mỹ đã quyết định can thiệp và ngày càng lún sâu vào cuộc chiến ở Việt Nam.

Không đi sâu phân tích về diễn biến cuộc chiến và sự sa lầy của Mỹ trong cuộc chiến này, mà Kissinger soi chiếu từ góc độ cuộc chiến đã làm nội bộ nước Mỹ bị xáo động khủng khiếp và mâu thuẫn, các giá trị Mỹ bị nghi ngờ.

Dưới con mắt của nhà chính trị lão luyện Kissinger, nơi một trật tự thế giới được lập ra bởi các cường quốc mà không đếm xỉa gì đến các quốc gia nhỏ bé dù đó cũng là các quốc gia độc lập có chủ quyền, thì châu Á là nạn nhân chứ không phải là người chơi trong trật tự quốc tế do chủ nghĩa thực dân phương Tây áp đặt.

Qua đây, có thể thấy rằng, mặc dù Mỹ và Trung Hoa có những quan niệm khác nhau về vai trò của mình trong cán cân quyền lực thế giới, nhưng vì đây đều là hai siêu cường với những quyền lợi gắn bó chặt chẽ, nên đều tự nhận thấy phải kìm chế và tránh đụng độ trực tiếp vì thiệt hại mà nó gây ra là khôn lường.

Trong khi đó, mối quan hệ giữa Trung Hoa và các quốc gia Đông Á lại đang trở thành vùng nóng có thể châm ngòi bất kỳ lúc nào.

Thiết nghĩ, những luận điểm này rất cần thiết đối với một Việt Nam trên bờ Biển Đông trong bối cảnh phức tạp hôm nay.

TS. Võ Minh Tuấn


"A willing horse" nghĩa là gì?

Photo courtesy Clint Budd.

'A willing horse' có từ willing là sẵn sàng, quyết tâm, hay giúp đỡ, sẵn lòng, tự nguyện v.v... -> từ này nghĩa là người luôn vui vẻ nhận việc mà không nề hà chi cả (a person prepared to work hard).

Ví dụ
I have friends, but I suspect they only want to know me because I am always the willing horse.

Do not, in the name of God Almighty and for your own selfish interest do the unthinkable by flogging a willing horse to its death.

The tax regime should also be looked into. At the moment, it exerts too much pressure on the private sector. Mind you, it is the only sector that is employing now, and the sector must not be stifled to death. A willing horse must not be ridden to death.

Phạm Hạnh

Monday, January 30, 2017

"Hold your horses" nghĩa là gì?

Làm quen bạn gái mới trong năm 2017, đừng sốt sắng quá. Photo courtesy birotography.

'Hold one's horses' = wait a moment, hold on, nghĩa là 'bình tĩnh nào', 'đừng nóng', 'đừng vội'.

Ví dụ
Windows 10 build 15019 is all about gaming, adding a series of new interesting game features, including the coveted “Game mode”. Now hold your horses! As exciting as this piece of news is, the new game features are affected by many bugs.

If someone visits your website and look at your products, Facebook will show ads that features your competitor’s product. Hold your horses – because, according to Facebook, advertisers will not be able to narrow down the users looking at your website; instead, they can just read the signals when forming a Broad Audience.

While you might be looking for a long-term relationship, don't go in all guns blazing. Hold your horses, take your time and enjoy getting to know someone new. What was it someone said about every long journey starting with a single step?

Phạm Hạnh

Thursday, January 26, 2017

Từ người yêu gấu trúc thành võ sĩ nhà nghề

Từ nhiều năm qua, quan điểm của Pillsbury luôn phù hợp với Đồng thuận Washington: Trung Quốc, với sự giúp đỡ của Mỹ, sẽ trở thành một cường quốc ôn hòa. Nhưng giờ thì không vậy nữa.
bài điểm sách của Howard W. French
Cập nhật ngày 26 tháng 2 năm 2015

Trong suốt những năm đầu của sự nghiệp trong lĩnh vực quốc phòng và
tình báo, Michael Pillsbury, giống như cách ông giờ đây đặt tên, là “người ôm gấu trúc”(người có cái nhìn lạc quan về mối quan hệ với Trung Quốc). Ông từng có cái nhìn nhất quán và tích cực về tương lai của Trung Quốc và về lợi ích sau đó Mỹ sẽ dành được vì đã giúp Trung Quốc hồi sinh—một viễn cảnh phù hợp với Đồng thuận Washington bấy lâu nay. Trong cuốn The Hundred-Year Marathon ("Cuộc đua trăm năm”), ông viết: "Chúng ta tin rằng viện trợ cho một đất nước Trung Quốc yếu thế, nơi lãnh đạo có cùng chung cách nghĩ với chúng ta, sẽ giúp Trung Quốc trở thành một cường quốc dân chủ và hòa bình, không hề tham vọng thống trị khu vực chứ chưa nói đến toàn cầu."

Nhưng giờ thì không vậy nữa. Pillsbury kế luận "Nhìn lại, thật đau lòng là tôi đã quá cả tin."

Pillsbury - nguyên là trợ lý chính sách của Bộ trưởng quốc phòng dưới thời chính quyền Tổng thống Reagan, đã quay ngoắt 180 độ kể từ những năm 1990, khi nền chính trị Trung Quốc chuyển hướng mạnh mẽ sang chủ nghĩa dân tộc sau biến cố Thiên An Môn. Cuối cùng, ông trở thành một trong những người đưa tin hăng hái và đôi khi ầm ĩ nhất về mối đe dọa Trung Quốc đặt ra cho Mỹ. Cuốn "Cuộc đua trăm năm”: Chiến lược

"Put the cart before the horse" nghĩa là gì?

"Chính quyền bắt lão già này phải dùng tiền điện tử, thật ngược đời quá". Photo courtesy Arian Zwegers.

'Put the cart before the horse' = đặt cỗ xe phía trước con ngựa, nghĩa là sự việc rối lên, sai trật tự (to have things in the wrong order; to have things confused and mixed up); làm chuyện ngược đời.

Ví dụ
Mr. Stiglitz previously spoke out against the euro currency, saying it was to blame for most of the Eurozone’s problems, such as unemployment and economic stagnation. “What they did was to put the cart before the horse. They tried to create the euro before they had the institutions,” he said.

Singing paeans (bài ca mừng chiến thắng) to a Digitising India are facetious (khôi hài). No one — not the poor farmer or the daily wager — was warned that he needs to get a smartphone to upload an app to pay for seeds or receive his daily wages. Any logical and well-governed system would have done a blitzkrieg (chiến tranh chớp nhoáng) of digitisation for two years before the big bang demonetisation. The NDA, instead, chose to put the cart before the horse. The image of an urban elite with multiple credit/debit cards and smartphones mocks the spirit of the common Indian. A call to resoluteness (quyết tâm chính trị) in a bleak (ảm đạm) economy is only political glibness (lém lỉnh, ăn nói liến thoắng), not responsible leadership.

Phạm Hạnh

Wednesday, January 25, 2017

Tết văn minh, lành mạnh

shared from fb Truong Anh Ngoc (hơn 2k likes, và 520 shares),
-----
Một nghiên cứu của công ty nghiên cứu thị trường Fitch cho biết, năm qua, người Việt mình chi 9 tỉ USD cho rượu bia. Khoản tiền này gấp 3 lần chi cho y tế và 72 lần chi cho phát triển thể thao. Đấy là những con số hùng hồn và đáng buồn cho thấy chúng ta đã trở thành đất nước của rượu bia, và việc uống rồi chém của rất nhiều người đã trở thành môn thể thao đại chúng số 1 đất nước, thay vì tham gia thể thao thực sự. Fitch không nói chúng ta phải chi bao nhiêu nữa cho việc chữa trị các bệnh liên quan đến rượu hoặc các chi phí phát sinh khác và các nỗi đau của biết bao gia đình do các tai nạn giao thông mà rượu gây ra cho người thân của họ.

Mấy hôm rồi đi đường mình thấy khá nhiều người say. Họ xỉn sau khi dự liên hoan của cơ quan hoặc công ti. Cuối năm mà, chỗ nào cũng tổng kết, và tổng kết thì không thể thiếu rượu và bia. Thế là các anh ra ôm cột, ngồi dựa vào cửa hoặc ngã ra vỉa hè. Thấy cả các quý cô váy ngắn phải có bạn dìu. Và đi một vòng Hà Nội, quán nào quán ấy đông nghẹt, với âm thanh chủ đạo là những tiếng "1 2 3 dzô". Đấy là trước Tết, còn trong Tết thế nào và sau Tết ra sao mình cũng có thể hình dung ra. Cứ nhìn các con số liên quan đến TNGT, đến các cuộc đánh nhau vì rượu mà các báo đưa mới thấy giống các bảng tổng kết chiến tranh. Đấy cũng là điều khiến nhiều người không thích Tết, ghét Tết, đòi bỏ Tết hoặc cắt ngắn số ngày nghỉ lại. Với họ, Tết chẳng đem đến điều gì ngoài tốn kém, nhậu nhẹt và biết bao khổ ải chuyện bếp núc lên đầu phụ nữ.

Trong một post khá lâu rồi, mình có nói, sở dĩ rượu bia nhiều như thế một phần vì văn hoá lệch chuẩn. Nhiều người đàn ông đã lấy rượu làm thước đo cho độ đàn ông của mình và là tiêu biểu cho sự "chân thành". Sự biến tướng của văn hoá giao tiếp và kinh doanh càng khiến rượu trở thành một xúc tác nguy hiểm, mà sự sĩ diện hão của cánh đàn ông khiến họ không thể không nâng li. Khi bạn nâng cốc, hãy nghĩ đến gia đình mình, đến vợ con mình, đến bố mẹ mình. Trước khi bạn rót cho người khác, hãy nghĩ đến điều tương tự. Hậu quả có thể đến tức thì, khi bạn ra đường, hoặc sau đó nhiều năm, khi bạn vào viện. Thật nực cười khi không ít những người mang vòng hoa đến viếng bạn đôi khi lại chính là những người ngày xưa hoặc đơn giản là vừa xong ép bạn uống. Sự "vô tư" của họ, trong một phông văn hoá và lối sống quá thấp, đã giết bạn và dần giết họ.

9 tỉ USD có lẽ chưa phải con số cuối cùng, chỉ là tương đối thôi. Và mình nghĩ là sẽ còn lên nữa, khi cả đất nước này chìm trong rượu, rất nhiều rượu và các cuộc nhậu, chết ngay hoặc chết dần mòn trong u mê và đủ các loại bệnh tật. Trong khi thế giới đã lên Mặt Trăng và sắp Sao Hoả, nhiều người chúng ta vẫn nằm bò trong các toilet quán nhậu hoặc vỉa hè, nghĩ là mình đang thăng hoa.

Hãy đón Tết một cách văn minh và vui vẻ theo đúng nghĩa của nó...

Bài trước: Văn hoá an toàn

Thăm cô của bố

các con có cô, bố cũng có cô... :)

Bài trước: Nhà hàng hải sản Lã Vọng - 2A, Nguyễn Thị Thập

Monday, January 23, 2017

Traphaco - Chúc mừng sinh nhật Chủ tịch công ty


Bài trước: Traphaco - Hội nghị tổng kết công tác kinh doanh khu vực Bắc miền Trung 2016

"Lock the stable door after the horse has bolted" nghĩa là gì?

Giữ chồng như giữ bò, chớ để sổng chuồng. Photo courtesy Lars Plougmann.

'Lock/shut the stable door after the horse has bolted' nghĩa là cố gắng ngăn cản một điều gì đã xảy ra rồi, hành động quá muộn (to try to prevent something that has already happened; to act too late); 'mất bò mới lo làm chuồng'.

Ví dụ
Although the stolen information is already in the hands of The Impact Team, the site is now offering users the ability to delete accounts free of charge. “As our customers’ privacy is of the utmost concern to us, we are now offering our full-delete option free to any member, in light of today’s news,” the statement says. It is not clear whether the move is intended to assuage some of the hackers demands or simply an attempt to lock the stable door after the horse has bolted.

Millican is not the first stand-up to lash out. In February 2009 the comedian Lee Hurst was fined £60 after pleading guilty to smashing an audience member’s mobile phone. He claimed other writers were copying his jokes and selling them to television shows. One wonders, though, if the likes of Hurst and Millican aren’t trying to lock the stable door after the horse has bolted. Look up any comedian on YouTube and there are numerous pirated clips. One of Millican, viewed by 315,000 people, shows her at the Hammersmith Apollo. It wasn’t uploaded by the BBC.

Phạm Hạnh

Đàn ông có vợ không ai thật lòng!

Photo courtesy Susanne Nilsson.

A married man forms married habits and becomes dependent on marriage just as a sailor becomes dependent on the sea.
~ George Bernard Shaw

Người đàn ông đã lập gia đình hình thành những thói quen mà chỉ khi có vợ mới có và trở nên phụ thuộc vào hôn nhân hệt như một thủy thủ trở nên phụ thuộc vào biển cả.

Trái tim không được yêu

Cảnh giác với kền kền. Photo courtesy Jakob Montrasio.

The man who is not loved hovers like a vulture over the sweetheart of others.
~ Victor Hugo

Người đàn ông không được yêu lượn lờ như một con kền kền trên bạn gái của kẻ khác.

Sunday, January 22, 2017

Việc tốt mỗi ngày

A little kindness goes a long way. Photo courtesy Jimmy Baikovicius.

Let us not tire of a good work, hard though it be and wearisome; think of the many little hearts that in their sorrow look to us for help.
~ Louisa May Alcott

Chúng ta hãy không bao giờ mỏi mệt và ngừng làm việc tốt, dù khó khăn và mệt nhọc đến mức nào; hãy nghĩ tới những trái tim bé nhỏ luôn mong được ta giúp đỡ khi gặp nỗi đau.

Saturday, January 21, 2017

Vì sao việc làm ngành chế tạo kiểu cũ sẽ không quay lại phương Tây?

khi các chính trị gia nói về ngành chế tạo, họ có xu hướng nói về các dây chuyền sản xuất: lắp ráp các bộ phận vào ô tô, máy giặt hay máy bay, hoạt động vốn tạo ra ít giá trị gia tăng hơn trước đây. Ngày nay, chính các quá trình đi cùng việc lắp ráp – như thiết kế, quản lý chuỗi cung ứng, và dịch vụ – mới mang lại giá trị gia tăng. Chế tạo, và các công việc trong ngành chế tạo, đã thay đổi theo những cách mà theo đó các công việc cũ sẽ không bao giờ quay trở lại các nước giàu.

Between the 1840s and the 1960s in Britain, manufacturing’s share of employment hovered at around a third; today official data show around one in ten workers is involved in manufacturing. In the late 1940s in America, it accounted for one in three non-farm jobs. Today’s figure is just one in 11.

...cách mà các số liệu chính thức được tính toán hàm nghĩa rằng sự sụt giảm của ngành chế tạo đã bị phóng đại. Một số quy trình từng được gắn chặt với nhau thì bây giờ được dàn trải ra trên khắp thế giới. Các công ty chế tạo ngày càng sử dụng nhiều các công ty khác để thực hiện những công việc như tiếp thị hay kế toán. Nhiều khía cạnh của nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế sản phẩm và thử nghiệm kỹ thuật hiện nay được thực hiện bởi các công ty riêng biệt, cùng với rất nhiều các dịch vụ kế toán, hậu cần, vệ sinh, quản lý nhân sự và công nghệ thông tin.

...Trong tương lai, các nhà cung cấp dịch vụ sẽ thâm nhập thậm chí sâu hơn nữa vào lãnh địa của các nhà chế tạo, thậm chí là các nhà chế tạo sẽ xem bản thân mình ngày càng giống như các nhà bán hàng dịch vụ. Máy móc công nghiệp và hàng hóa mà họ tạo ra đang ngày càng được đóng gói với các bộ cảm biến kết nối internet. Do đó, các nhà chế tạo có thể thu thập dữ liệu về việc máy móc của họ hoạt động như thế nào trên thế giới. Sự am hiểu về các sản phẩm và các dữ liệu mà chúng tạo ra giúp họ biến hàng hóa trở thành dịch vụ.

kết luận: Advanced manufacturing provides good jobs but they need skill and adaptability. Improved education to ensure that engineers and techies are in good supply is required, as is vocational training, along the lines that Germany uses to support programmes to refurbish the skills of current and former workers. Simply threatening companies that seek to move jobs overseas, as Mr Trump has done, will not help. Using tariffs to disrupt the complex cross-border supply chains on which manufacturers rely, as he has suggested doing, would damage the sector he purports to champion. Clamping down on migrants who have skills that manufacturers cannot find at home will do further harm. And policies that favour production-line workers over investment in automation will end up making domestic industry less competitive.

Bất cập quy định công bố thông tin

- Luật Chứng khoán chưa điều chỉnh việc công bố thông tin về giao dịch chứng khoán đối với nhà đầu tư sở hữu trên 5% chứng chỉ quỹ đóng (tương tự như cổ đông lớn của công ty đại chúng), trong khi bản thân các chứng chỉ quỹ này cũng được giao dịch với tính chất tương tự như cổ phiếu; chưa quy định nghĩa vụ công bố thông tin của một số đối tượng có lợi thế về thông tin và dễ dàng trục lợi như: người nội bộ của công ty đại chúng/quỹ đại chúng và người có liên quan của họ

- Luật Chứng khoán chưa bao quát các nghĩa vụ công bố thông tin của các loại hình quỹ đầu tư chứng khoán mới, hoặc chưa điều chỉnh nghĩa vụ công bố thông tin liên quan đến các giao dịch đặc thù như giao dịch hoán đổi chứng chỉ quỹ ETF…

- đối với thông tin bất thường của doanh nghiệp (tài khoản bị phong tỏa hoặc được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong tỏa, tạm dừng một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh, bổ sung hay rút bớt ngành nghề kinh doanh, quyết định thay đổi nhân sự…) là những thông tin có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, nhưng được quy định phải công bố thông tin trong vòng 24 giờ là không đảm bảo tính kịp thời của thông tin.

Trong vòng 24 giờ đó, những người nội bộ của doanh nghiệp kịp thời trục lợi và những cổ đông, nhà đầu tư bên ngoài sẽ chịu thiệt hại.

- Luật Chứng khoán quy định sở giao dịch chứng khoán có nghĩa vụ phải công bố thông tin về doanh nghiệp niêm yết, thành viên giao dịch trên website của Sở, ngược lại với xu hướng chung của thế giới là trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về công bố thông tin cho tổ chức tham gia thị trường, đang gây ra không ít hiểu lầm cho thị trường, nhà đầu tư về trách nhiệm liên đới của sở giao dịch chứng khoán đối với thông tin do doanh nghiệp công bố

- sở giao dịch chứng khoán có nghĩa vụ giám sát doanh nghiệp thực hiện công bố thông tin, nhưng không hề có phương tiện để kiểm duyệt thông tin này, nên trên thực tế Sở khó tròn vai trong chịu trách nhiệm về kiểm soát thông tin do doanh nghiệp công bố…

Friday, January 20, 2017

OMEGA tổng kết 2016

by Giám đốc Vũ Trọng Đại:

Không diễn văn long trọng, không tuyên bố hoành tráng, đơn giản là chúng tôi ngồi quây quần quanh bàn trà ôn lại năm cũ, kể cho nhau nghe những lúc nghĩ suy, quay quắt, mệt nhoài và cả những khi hạnh phúc, thăng hoa với bản thảo, với sách. Một năm nói ít, làm nhiều. Một năm vật lộn với những kế hoạch, mục tiêu của chính mình.

Hết sáng đến trưa, câu chuyện quanh bàn trà chưa dứt, chúng tôi lại tiếp tục quây quần quanh bàn bia để luận bàn về những dự định cho năm mới :)

2017 sẽ là năm mà Omega dự định mang đến cho độc giả nhiều cuốn sách hay, hấp dẫn hơn nữa. Và chắc chắn sẽ có thêm nhiều cá nhân, tập thể thuộc Omega được vinh danh như hôm nay khi chúng tôi tôn vinh họ vì đã làm ra những ấn phẩm thực sự có giá trị cho cộng đồng.

Những cuốn sách Omega nổi bật của năm 2016:
1/ Elon Musk - Tesla, SpaceX và sứ mệnh tìm kiếm tương lai ngoài sức tưởng tượng
2/ Bài học Phần Lan 2.0
3/ Con đường thoát hạn
4/ Cuộc đào thoát vĩ đại
5/ 44 đời tổng thống Hoa Kỳ


Bão Thần Sét tăng tốc, đổ bộ trực tiếp vào Hẻm quán
Nhà hàng Nét Huế - 36 Thái Hà

"Don't look a gift horse in the mouth" nghĩa là gì?

Photo courtesy Alex Barton.

'Don't look a gift horse in the mouth' = đừng săm soi mồm con ngựa được tặng. Cụm từ này xuất xứ từ việc khi đi mua ngựa, người ta thường vạch mồm con ngựa để xem răng, lợi con ngựa, nếu lợi tụt xuống sâu tức là con ngựa đã già v.v...; vì thế cụm từ này ý nói đừng chê bai, soi xét mòn quà bạn được tặng, hãy biết ơn/cảm kích (don't inspect a gift to make sure it matches some standard you have, just be grateful!).

Ví dụ
It is usually churlish (thô bỉ, mất dạy, hạ đẳng, tiện dân), as Michael Gove pointed out on BBC Radio 4’s Today programme this morning, to look a gift horse in the mouth. So the news, procured by Mr Gove in an interview, that Donald Trump will look favourably on a trade treaty with Britain, and that he wants to conclude it speedily, should be welcomed.

Far be it for Mr. Total Depravity here to be a beacon of hope, but perhaps we should just shut up listen to nana when she taught us “never look a gift horse in the mouth.” I know it seems unlikely, but perhaps Graham simply saw how overtly anti-Israel the UN’s latest actions are and decided to act on his courage of conviction?

Phạm Hạnh

Thursday, January 19, 2017

"From the horse's mouth" nghĩa là gì?

Photo courtesy Joshua Ganderson.

'From the horse's mouth' (từ miệng con ngựa) nghĩa là theo một nguồn tin đáng tin cậy (from the person directly concerned or another authoritative source). Cụm từ này xuất phát từ nguồn gốc: những người thông thạo/tin tưởng nhất để biết/hiểu về phong độ (form) của một con ngựa (vd, trước 1 cuộc đua) là người coi ngựa, huấn luyện viên... cụm từ này tiến thêm 1 bước, là thông tin còn đáng tin cậy hơn nữa so với 'inner circle' đó, tức là từ chính con ngựa.

Ví dụ
Straight from the horse's mouth: Trump accepts Russian hacking.

“Our survey concludes later this week, but is already giving us an invaluable ‘straight from the horse’s mouth’ view from farmers about how they feel the RPA is performing.

we now have confirmation that Apple AirPods and Beats dominated the holiday selling season and also have it straight from the horse’s mouth that the Apple Watch is “doing great.”

The intertextuality – as it would be called in academia – is pretty dazzling, and while fans have done the legwork linking the movie’s together in the past, this is a rare admission from the horse’s mouth, as it were, that the Pixar universe is indeed one big mass of interwoven stories and characters.

Phạm Hạnh

Tuesday, January 17, 2017

Traphaco - Hội nghị tổng kết công tác kinh doanh khu vực Bắc miền Trung 2016


Bài trước: Traphaco - Hội nghị Tổng kết công tác kinh doanh năm 2016

"A horse of another color" nghĩa là gì?

Horses inside the Navajo tribal park of Monument Valley at sunset. Photo courtesy Moyan Brenn.

'A horse of another color' (con ngựa khác màu) nghĩa là một vấn đề hoàn toàn khác (something completely different or separate, especially in comparison to something else).

Ví dụ
While Muslim terrorism is a horse of another color, like more conventional mass shooters, the perpetrators want publicity. And the media is more than happy to give it to them.

The international horse-trading that landed Long Island’s primary newspaper back in domestic hands is a horse of another color for a staunch opponent of the recent Cablevision Systems Corp. sale.

There is nothing wrong or 'illegal' to use tax avoidance. Tax fraud is a horse of another color. ALL global corporations do this. What is not counted here either are billions in employees and associated corporations that benefit from them doing business in the US, Apple stores, Apple sellers, or affiliates.

Phạm Hạnh

Monday, January 16, 2017

"Swap horses in midstream" nghĩa là gì?

Gen. Philip H. Sheridan. Photo courtesy David.

'Swap/change horses in midstream/while crossing the stream' nghĩa là thay đổi phương pháp/cách thức hay người lãnh đạo mới ngay giữa một cuộc khủng hoảng (alter methods or choose new leaders during a crisis); thay ngựa giữa dòng.

Ví dụ
Don't change horses in midstream. Akinfeyev remains the best Russian goalkeeper. And such matches as the battle against Monaco prove it.

The most durable presidential campaign slogan of the 19th century was Abraham Lincoln’s, in his 1864 reelection. “Don’t swap horses in midstream” was also used by his successor, Franklin D. Roosevelt, in 1944 to argue against changing commanders in chief while a war was ongoing.

“Donald Trump today continues to pick some of those fights after he won the election,” Cherry said. “It’s hard to change horses in midstream. If that’s what he thinks won him an election and won him the nomination, he’s going to keep doing the same thing. ... It’s hard to govern if you’re consistently picking fights with people you really need to win over to your side.”

Phạm Hạnh

Sunday, January 15, 2017

"Work like a horse" nghĩa là gì?

Photo courtesy Moyan Brenn.

'Work like a horse/mule/slave/beaver' nghĩa là làm (khỏe) như ngựa (to work very hard); Việt Nam mình là 'làm như trâu, như chó' các bạn nhỉ.

Ví dụ
He could work like a horse for almost 24 hours without a break and knew the ins and outs of newspapers.

"Race ahead like a 10,000-mile horse," read one banner -- echoing an old slogan urging people to work like a horse that can cover 1,000 miles in a day.

“A lady must think like a man, act like a lady, work like a horse and look like a girl.” These words are announced from the mouth of one of the dancers, while she wears a white dress to show the pressure that women must be “beautiful” while working hard.

Phạm Hạnh

Saturday, January 14, 2017

"Eat like a horse" nghĩa là gì?

The most lovely site in the world might be two Mongolian kids, dressed up for Naadam, on their horses, eating ice cream. Photo courtesy Jocelyn Saurini.

'Eat like a horse' nghĩa là ăn khỏe như ngựa (eat a lot); Việt Nam mình là 'ăn như rồng cuốn' các bạn nhỉ.

Ví dụ
Restaurants are the ideal way to experience the daily life of the girls and boys who give Florence, Oregon its unconventional rhythm. Be weird and eat like a horse this Ice Cream Day.

If your lover likes ’em thicc, these ristorantes can help you achieve your weight gain goals with their jumbo portions. Be brazen and eat like a horse tonight.

It has been a quixotic tour for the ideal food in Angola, Indiana. And we feel like we have found true treasures. Be divergent and eat like a horse this Christmas.

Phạm Hạnh


Friday, January 13, 2017

"Horse for courses" nghĩa là gì?

Photo courtesy Christian PARREIRA.

'Horse for courses' nghĩa là đúng người, đúng việc (some people (or things) are better suited a particular environment, task, or whatever).

Ví dụ
iPhones and iPads are better suited for gathering information in situations like field work where form completion, identification, and image capture are more likely. It's horse for courses. If I was a student today I would carry both in my bag.

TV manufacturers are always going to make bold claims — and of course their TVs will be the best of the best — but Samsung are actually saying that QLED is better than OLED! Is it? Well this stuff is usually “horse for courses” but both LG and Samsung have definitely given the humble LED TV a shot in the arm.

Credit scores are between zero and 1000, and are grouped into what is known as a "bell curve" with the bulk of people between 400 and 600. In the world of credit, it is horse for courses. Banks aren't seeking unicorns, just horses to back in the middle to top end of the field. They are good for mortgages, personal loans and credit cards.

Phạm Hạnh


Wednesday, January 11, 2017

"Stick to his guns" nghĩa là gì?

Photo courtesy Konstantin Stepanov.

'Stick to one's guns' = lăm lăm/khư khư khẩu súng -> nghĩa là giữ vững quan điểm, kiên định lập trường (hold fast to a statement, opinion, or course of action).

Ví dụ
Sheriff Michael Zurlo stuck to his guns about a new mandate taking affect statewide.

Piers Morgan has stuck to his guns after an emotionally charged interview on Good Morning Britain.

Despite Mr Farage's insistence that this was not the case, Joe stuck to his guns, claiming that it was 'open to interpretation'.

Madison received blowback from the left and right alike, but stuck to his guns, arguing that Sessions’ granddaughter was being used as a prop, and tying Sessions’ stance on immigration to the exclusionary snti-Asian immigration policies of the 1880’s.

Phạm Hạnh

Tuesday, January 10, 2017

"Stick out like a sore thumb" nghĩa là gì?

Photo courtesy Nico Nelson.

'Stick out like a sore thumb' = chồi ra như ngón tay cái bị sưng -> nghĩa là quá nổi bật, khác biệt so với những người/môi trường xung quanh (be obviously different from the surrounding people or things).

Ví dụ
Game of Thrones star James Cosmo sticks out like a sore thumb among the Z-listers in the new Celebrity Big Brother.

Wehner preferred the black Mi MIX because the color made the bezels disappear, while the white model "sticks out like a sore thumb."

Watford Community Housing Trust’s proposal to build 133 new homes and a new shopping parade was voted through despite the fact it will “stick out like a sore thumb”.

We've all got a number of different resolutions as the new year rolls in, yet one that seems to stick out like a sore thumb for everyone is losing weight. It doesn't matter if you've got the body of a model or just want to shed a few pounds – becoming skinnier or slimmer is something most of us long for.

Phạm Hạnh