Journey in Life: 02/09/20

Sunday, February 9, 2020

"Stretch a point" nghĩa là gì?

Hai bóng không đủ sáng. Photo courtesy: Patrick Tang

"Stretch a point" = kéo dãn vấn đề -> mô tả vấn đề một cách phóng đại so với sự thật, mặc dù có thể đúng một phần hoặc cho phép sự việc xảy ra dù không đúng với qui luật.

Ví dụ
We have stretched points, legitimately (hợp pháp) and logically we trust, in other areas of the structure.

I am not trying to stretch a point here, but sometimes Britain has more influence against overwhelming odds than its officials believe. Both Mrs Thatcher and John Major played a weak hand with skill because, as the Chinese do, they put politics above diplomacy.

The 1947 U.S.-drafted constitution (hiến pháp dự thảo) states that “the Japanese people forever renounce (từ bỏ) war as a sovereign right (chủ quyền) of the nation and the threat or use of force as means of settling international disputes (tranh cãi).” The wording is quite direct, but the government has shown itself willing to stretch a point.

Ngân Nguyễn

Bài trước: "At a stretch" nghĩa là gì?

"At a stretch" nghĩa là gì?

Nghỉ nhiều quá nên chả nhớ được gì! Photo courtesy: julie-love

"At a stretch" có từ "stretch" là khoảng thời gian kéo dài liên tục -> một mạch, liên tù tì.

Ví dụ
She had taking to playing for hours at a stretch, Mozart, Schubert, Wagner, of late mostly the latter (cái sau).

A recent study showed that more than 60 per cent millennials in India feel anxious when they see unread emails in their inbox. It revealed that as many as two in five millennials get extremely uncomfortable if they haven't been able to check their work email for three-four hours at a stretch. Millennials across the globe today are increasingly getting hooked on (mắc phải) to the practice of keeping their inbox empty/near-empty at all times - popularly known as ‘Inbox Zero.

It may then come as a surprise that becoming a doctor is actually easier than it used to be, at least in terms of time spent on the job. Resident doctors (bác sĩ nội trú) in the 1980s, for example, sometimes worked more than 100 hours a week, with hospital shifts frequently lasting more than 30 hours at a stretch. The reason for these grueling (kiệt sức) hours: a belief by many in the profession that long hours were a rite (nghi thức) of passage necessary for giving doctors the clinical skills to practice independently.

Ngân Nguyễn

Bài trước: "Thread my way through" nghĩa là gì?

Cách đọc kết quả xét nghiệm máu

shared from fb Chi Trung Nguyen,
-----
Cách đọc kết quả xét nghiệm máu hay nước tiểu là điều bạn cần khi đi khám sức khỏe vì các bác sĩ vẫn hay chỉ định bệnh nhân đi làm xét nghiệm máu và xét nghiệm nước tiểu. Tuy nhiên nếu bác sĩ không giải thích thì bạn cũng không thể hiểu được các chỉ số trên kết quả xét nghiệm có ý nghĩa gì. Mời các bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây để cùng tìm hiểu về cách đọc kết quả xét nghiệm máu.

I. CÁC THÀNH PHẦN CỦA CÔNG THỨC MÁU
- WBC (White Blood Cell – Số lượng bạch cầu trong một thể tích máu):

Giá trị thường nằm trong khoảng từ 4.300 đến 10.800 tế bào/mm3, tương đương với số lượng bạch cầu tính theo đơn vị quốc tế là 4.3 đến 10.8 x 109tế bào/l.

Tăng trong viêm nhiễm, bệnh máu ác tính, các bệnh bạch cầu...; giảm trong thiếu máu do bất sản, thiếu hụt vitamin B12 hoặc folate, nhiễm khuẩn...

Giá trị thường nằm trong khoảng từ 4.300 đến 10.800 tế bào/mm3.
Giá trị thường nằm trong khoảng từ 4.300 đến 10.800 tế bào/mm3.

- RBC (Red Blood Cell – Số lượng hồng cầu (hoặc erythrocyte count) trong một thể tích máu):

Giá trị thường nằm trong khoảng từ 4.2 đến 5.9 triệu tế bào/cm3, tương đương với số lượng hồng cầu tính theo đơn vị quốc tế là 4.2 đến 5.9 x 1012tế bào/l.

Tăng trong mất nước, chứng tăng hồng cầu; giảm trong thiếu máu.

- HB hay HBG (Hemoglobin – Lượng huyết sắc tố trong một thể tích máu):

Hemoglobin là một loại phân tử protein có trong hồng cầu chuyên chở oxy và tạo màu đỏ cho hồng cầu.

Giá trị thay đổi tùy giới tính, thường nằm trong khoảng từ 13 đến 18 g/dl đối với nam và 12 đến 16 g/dl đối với nữ (tính theo đơn vị quốc tế tương ứng là 8.1 – 11.2 millimole/l và 7.4 – 9.9 millimole/l).

Tăng trong mất nước, bệnh tim và bệnh phổi; giảm trong thiếu máu, chảy máu và các phản ứng gây tan máu.

- HCT (Hematocrit – Tỷ lệ thể tích hồng cầu trên thể tích máu toàn bộ):

Giá trị thay đổi tùy giới tính, thường nằm trong khoảng từ 45 đến 52% đối với nam và 37 đến 48% đối với nữ.

Tăng trong các rối loạn dị ứng, chứng tăng hồng cầu, hút thuốc lá, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh mạch vành, ở trên núi cao, mất nước, chứng giảm lưu lượng máu; giảm trong mất máu, thiếu máu, thai nghén.

- MCV (Mean corpuscular volume – Thể tích trung bình của một hồng cầu):

Giá trị này được lấy từ HCT và số lượng hồng cầu. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 80 đến 100 femtoliter (1 femtoliter = 1/1triệu lít).

Tăng trong thiếu hụt vitamin B12, thiếu acid folic, bệnh gan, nghiện rượu, chứng tăng hồng cầu, suy tuyến giáp, bất sản tuỷ xương, xơ hoá tuỷ xương; giảm trong thiếu hụt sắt, hội chứng thalassemia và các bệnh hemoglobin khác, thiếu máu trong các bệnh mạn tính, thiếu máu nguyên hồng cầu, suy thận mạn tính, nhiễm độc chì.

- MCH (Mean Corpuscular Hemoglobin – Số lượng trung bình của huyết sắc tố có trong một hồng cầu):

Giá trị này được tính bằng cách đo hemoglobin và số lượng hồng cầu. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 27 đến 32 picogram.

Tăng trong thiếu máu tăng sắc hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh; giảm trong bắt đầu thiếu máu thiếu sắt, thiếu máu nói chung, thiếu máu đang tái tạo.

- MCHC (Mean Corpuscular Hemoglobin Concentration – Nồng độ trung bình của huyết sắc tố trong một thể tích máu):

Giá trị này được tính bằng cách đo giá trị của hemoglobin và hematocrit. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 32 đến 36%.
Trong thiếu máu tăng sắc: hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh.

Trong thiếu máu đang tái tạo: có thể bình thường hoặc giảm do giảm folate hoặc vitamin B12, xơ gan, nghiện rượu.

- PLT (Platelet Count – Số lượng tiểu cầu trong một thể tích máu):

Tiểu cầu không phải là một tế bào hoàn chỉnh, mà là những mảnh vỡ của các tế bào chất (một thành phần của tế bào không chứa nhân hoặc thân của tế bào) từ những tế bào được tìm thấy trong tủy xương.
Tiểu cầu đóng vai trò sống còn trong quá trình đông máu, có tuổi thọ trung bình là 5 đến 9 ngày.
Giá trị thường nằm trong khoảng từ 150.000 đến 400.000/cm3 (tương đương 150 – 400 x 109/l).
Số lượng tiểu cầu quá thấp sẽ gây mất máu. Số lượng tiểu cầu quá cao sẽ hình thành cục máu đông, làm cản trở mạch máu, dẫn đến đột quỵ, nhồi máu cơ tim, nghẽn mạch phổi, tắc nghẽn mạch máu...
Tăng trong những rối loạn tăng sinh tuỷ xương, bệnh bạch tăng tiểu cầu vô căn, xơ hoá tuỷ xương, sau chảy máu, sau phẫu thuật cắt bỏ lách..., dẫn đến các bệnh viêm.
Giảm trong ức chế hoặc thay thế tuỷ xương, các chất hoá trị liệu, phì đại lách, đông máu trong lòng mạch rải rác, các kháng thể tiểu cầu, ban xuất huyết sau truyền máu, giảm tiểu cầu do miễn dịch đồng loại ở trẻ sơ sinh...
Lymphocyte giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng.
Lymphocyte giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng.

- LYM (Lymphocyte – Bạch cầu Lymphô):

Lymphocyte giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng. Có rất nhiều nguyên nhân làm giảm lymphocytes như: giãm miễn nhiễm, nhiễm HIV/AIDS, Lao, sốt rét, ung thư máu, ung thư hạch...

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 20 đến 25%.

- MXD (Mixed Cell Count – tỷ lệ pha trộn tế bào trong máu):

Mỗi loại tế bào có một lượng % nhất định trong máu. MXD thay đổi tùy vào sự tăng hoặc giảm tỷ lệ của từng loại tế bào.

- NEUT (Neutrophil – Tỷ lệ bạch cầu trung tính):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 60 đến 66%. Tỷ lệ tăng cao cho thấy nhiễm trùng máu.

Tăng trong nhiễm khuẩn cấp, nhồi máu cơ tim cấp, stress, ung thư, bệnh bạch cầu dòng tuỷ; giảm trong nhiễm virus, thiếu máu bất sản, các thuốc ức chế miễn dịch, xạ trị...

- RDW (Red Cell Distribution Width – Độ phân bố hồng cầu):

Giá trị này càng cao nghĩa là độ phân bố của hồng cầu thay đổi càng nhiều. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 11 đến 15%.

RDW bình thường và:

MCV tăng, gặp trong: thiếu máu bất sản, trước bệnh bạch cầu.
MCV bình thường, gặp trong: thiếu máu trong các bệnh mạn tính, mất máu hoặc tan máu cấp tính, bệnh enzym hoặc bệnh hemoglobin không thiếu máu.
MCV giảm: thiếu máu trong các bệnh mạn tính, bệnh thalassemia dị hợp tử
RDW tăng và:

MCV tăng: thiếu hụt vitamin B12, thiếu hụt folate, thiếu máu tan huyết do miễn dịch, ngưng kết lạnh, bệnh bạch cầu lympho mạn.
MCV bình thường: thiếu sắt giai đoạn sớm, thiếu hụt vitamin B12 giai đoạn sớm, thiếu hụt folate giai đoạn sớm, thiếu máu do bệnh globin.
MCV giảm: thiếu sắt, sự phân mảnh hồng cầu, bệnh HbH, thalassemia.
- PDW (Platelet Disrabution Width – Độ phân bố tiểu cầu):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 6 đến18 %.

Tăng trong ung thư phổi, bệnh hồng cầu liềm, nhiễm khuẩn huyết gram dương, gram âm; giảm trong nghiện rượu.

- MPV (Mean Platelet Volume – Thể tích trung bình của tiểu cầu trong một thể tích máu):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 6,5 đến 11fL.

Tăng trong bệnh tim mạch, tiểu đường, hút thuốc lá, stress, nhiễm độc do tuyến giáp...; giảm trong thiếu máu do bất sản, thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ, hoá trị liệu ung thư, bạch cầu cấp...

- P- LCR (Platelet Larger Cell Ratio – Tỷ lệ tiểu cầu có kích thước lớn):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 150 đến 500 G/l (G/l = 109/l).


II. CÁCH ĐỌC KẾT QUẢ SINH HÓA MÁU
GLUCOSE là đường trong máu. Giới hạn bình thường từ 4,1-6,1 mnol/l.
GLUCOSE là đường trong máu. Giới hạn bình thường từ 4,1-6,1 mnol/l.

1. GLU (GLUCOSE): Đường trong máu. Giới hạn bình thường từ 4,1-6,1 mnol/l. Nếu vượt quá giới hạn cho phép thì tăng hoặc giảm đường máu. Tăng trên giới hạn là người có nguy cơ cao về mắc bệnh tiểu đường.

2. SGOT & SGPT: Nhóm men gan

Giới hạn bình thường từ 9,0-48,0 với SGOT và 5,0-49,0 với SGPT. Nếu vượt quá giới hạn này chức năng thải độc của tế bào gan suy giảm. Nên hạn chế ăn các chất thức ăn, nước uống làm cho gan khó hấp thu và ảnh hưởng tới chức năng gan như:
Các chất mỡ béo động vật và rượu bia và các nước uống có gas.

3. Nhóm MỠ MÁU: Bao gồm CHOLESTEROL, TRYGLYCERID, HDL-CHOLES, LDL-CHLES

Giới hạn bình thường của các yếu tố nhóm này như sau:

Giới hạn bình thường từ 3,4-5,4 mmol/l với CHOLESTEROL.
Giới hạn bình thường từ 0,4-2,3 mmol/l với TRYGLYCERID.
Giới hạn bình thường từ 0,9-2,1 mmol/l với HDL-Choles.
Giới hạn bình thường từ 0,0-2,9 mmol/l với LDL-Choles.
Nếu 1 trong các yếu tố trên đây vượt giới hạn cho phép thì có nguy cơ cao trong các bệnh về tim mạch và huyết áp. Riêng chất HDL-Choles là mỡ tốt, nếu cao nó hạn chế gây xơ tắc mach máu. Nếu CHOLESTEROL quá cao kèm theo có cao huyết áp và LDL-Choles cao thì nguy cơ tai biến, đột quỵ do huyết áp rất cao. Nên hạn chế ăn các thực phẩm chứa nhiều chất mỡ béo và cholesterol như: phủ tạng động vật, trứng gia cầm, tôm, cua, thịt bò, da gà... Tăng cường vận động thể thao. Uống thêm rượu tỏi và theo dõi huyết áp thường xuyên.

4. GGT: Gama globutamin, là một yếu tố miễn dịch cho tế bào gan. Bình thường nếu chức năng gan tốt, GGT sẽ có rất thấp ở trong máu (Từ 0-53 U/L). Khi tế bào gan phải làm việc quá mức, khả năng thải độc của gan bị kém đi thì GGT sẽ tăng lên -> Giảm sức đề kháng, miễn dịch của tế bào gan kém đi. Dễ dẫn tới suy tế bào gan. Nếu với người có nhiễm SVB trong máu mà GGT, SGOT & SGPT cùng tăng thì cần thiết phải dùng thuốc bổ trợ tế bào gan và tuyệt đối không uống rượu bia nếu không thì nguy cơ dẫn đến VGSVB là rất lớn.

5. URE (Ure máu): là sản phẩm thoái hóa quan trọng nhất của protein được thải qua thận.

Giới hạn bình thường: 2.5 - 7.5 mmol/l.

6. BUN (Blood Urea Nitrogen) = ure (mg) x 28/60; đổi đơn vị: mmol/l x 6 = mg/dl.

Tăng trong: bệnh thận, ăn nhiều đạm, sốt, nhiễm trùng, tắc nghẽn đường tiểu...
Giảm trong: ăn ít đạm, bệnh gan nặng, suy kiệt...
BUN: là nitơ của ure trong máu.

Giới hạn bình thường 4,6 - 23,3 mg/dl. -> Bun = mmol/l x 6 x 28/60 = mmol/l x 2,8 (mg/dl).

Tăng trong: suy thận, suy tim, ăn nhiều đạm, sốt, nhiễm trùng..
Giảm trong: ăn ít đạm, bệnh gan nặng..
7. CRE (Creatinin): là sản phẩm đào thải của thoái hóa creatin phosphat ở cơ, lượng tạo thành phụ thuộc khối lượng cơ, được lọc qua cầu thận & thải ra nước tiểu; cũng là thành phần đạm ổn định nhất không phụ thuộc vào chế độ ăn -> có giá trị xác định chức năng cầu thận.

Giới hạn bình thường: nam 62 - 120, nữ 53 - 100 (đơn vị: umol/l).

Tăng trong : bệnh thận, suy tim, tiểu đường, tăng huyết áp vô căn, NMCT cấp...
Giảm trong : có thai, sản giật...
8. URIC (Acid Uric = urat): là sản phẩm chuyển hóa của base purin (Adenin, Guanin) của ADN & ARN, thải chủ yếu qua nước tiểu.

Giới hạn bình thường: nam 180 - 420, nữ 150 - 360 (đơn vị: umol/l).

Tăng trong:

Nguyên phát: do sản xuất tăng, do bài xuất giảm (tự phát) -> liên quan các men: bệnh Lesh Nyhan, Von Gierke..
Thứ phát: do sản xuất tăng (u tủy, bệnh vảy nến..), do bài xuất giảm (suy thận, dùng thuốc, xơ vữa động mạch..).
Bệnh Gout (thống phong): tăng acid uric/ máu có thể kèm nốt tophi ở khớp & sỏi urat ở thận.
Giảm trong: bệnh Wilson, thương tổn tế bào gan..

9. KẾT QUẢ MIỄN DỊCH

Anti-HBs: Kháng thể chống vi rút viêm gan siêu vi B trong máu (ÂM TÍNH < = 12 mUI/ml).
HbsAg: Vi rút viêm gan siêu vi B trong máu (ÂM TÍNH).

"Vạch lá tìm sâu" để làm gì?

hồi học lớp ba, có lần tui & bạn cùng bàn cùng được 10 điểm toán , mà hai cách giải khác nhau. Sẵn có máu logic đúng sai nên tui đem hai bài lên hỏi thầy cho ra lẽ. Kết quả là tui 10 điểm & bạn 0 điểm. Nhìn khuôn mặt buồn bã của bạn tui nhận ra một bài học là việc ăn thua đúng sai không phải lúc nào cũng là việc nên làm; bài học đó theo tui đến ngày nay & giúp ích khá nhiều trong công việc, hat tip to Nguyễn Bá Quỳnh,
-----

một đôi vợ chồng trẻ vừa dọn đến ở trong một khu phố mới. Sáng hôm sau, vào lúc hai vợ chồng ăn điểm tâm, người vợ thấy bà hàng xóm giăng tấm vải trên giàn phơi.

“Tấm vải bẩn thật” – Cô vợ thốt lên. “Bà ấy không biết giặt, có lẽ bà ấy cần một loại xà phòng mới thì giặt sẽ sạch hơn”.

Khi ấy, người chồng nhìn thấy nhưng vẫn lặng im. Thế rồi, vẫn những lời bình phẩm ấy cứ thốt ra từ miệng cô vợ mỗi ngày, sau khi nhìn thấy bà hàng xóm phơi đồ trong sân. Một tháng sau, vào một buổi sáng, người vợ ngạc nhiên vì thấy tấm vải của bà hàng xóm rất sạch, nên cô nói với chồng: “Anh nhìn kìa! Bây giờ bà ấy đã biết cách giặt tấm vải rồi. Ai đã dạy bà ấy thế nhỉ?”

Lúc này, người chồng đáp: “Không. Sáng nay anh dậy sớm và đã lau kính cửa sổ nhà mình đấy”.

moral: Chúng ta đang nhìn đời, nhìn người qua lăng kính loang lổ những vệt màu của cảm xúc, bám dày lớp bụi bặm của thành kiến và những kinh nghiệm thương đau. Chúng ta trở nên phán xét, bực dọc và bất an trước những gì mà tự mình cho là “lỗi lầm của người khác”.

Tôi tự phòng nCoV thế nào?

shared from fb Nguyễn Huy Hoàng,
-----
Tôi tự phòng nCoV thế nào?

[Cập nhật 1: Khẩu trang tẩm nước muối (NaCl) bảo vệ tốt hơn khẩu trang thường.]

Đây là kinh nghiệm cá nhân của tôi nên chỉ mang tính tham khảo. Tôi không kinh doanh hoặc nhận được bất cứ lợi ích kính tế nào liên quan đến các sản phẩm được đề cập trong bài viết.

1. Rửa tay đúng cách, với xà phòng thông thường là tốt rồi (xà phòng diệt khuẩn theo tôi ko cần thiết). Rửa trước và sau ăn, sau khi sử dụng WC, sau khi đi từ chỗ đông người về, sau khi chạm tay vào những chỗ như nút bấm thang máy, ATM, tay nắm cửa...
Hạn chế tối đa việc đưa tay chạm vào mắt, mũi, miệng.

2. Ăn đủ chất dinh dưỡng, tầm này hạn chế kiêng khem.
Nếu được, mỗi ngày nên ăn tỏi sống, sáng trước khi ra khỏi nhà và tối, sau khi ăn tối. Nên ăn gừng, tỏi.. mỗi khi có thể.
Nhỏ mắt, nhỏ mũi bằng nước muối sinh lý (NaCl 0,9%) ngày 4-5 lần.
Uống đủ nước, tốt nhất nên mang theo bình nước cá nhân, có thể thêm chút muối hoặc chanh hoặc bất cứ loại quả nào bạn thấy thích.

3. Quần áo bẩn nên giặt ngay, tránh để lâu trong phòng, nếu có máy sấy thì sấy khô ngay. Vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, mở cửa mỗi khi có thể để không khí trong nhà thông thoáng.
Nên xông phòng các loại tinh dầu tràm, quế, chanh bạc hà.. Các loại tinh dầu này được cho là có tác dụng diệt khuẩn. Tuy nhiên, tác dụng trên corona virus thì vẫn chưa rõ ràng.

4. Dùng dung dịch sát khuẩn thế nào cho đúng?
Theo tổng hợp từ 22 nghiên cứu đối với các chủng Corona virus cũ (bao gồm cả các chủng gây dịch SARS, MERS) thì chỉ các dung dịch chứa cồn ethanol từ 62-71%, nước oxy già 0,3% (H2O2, hydrogen peroxide) và nước Javen (NaClO, sodium hypochlorite) trong thời gian 1 phút mới có thể diệt được virus corona (các chủng cũ) tồn tại trên các bề mặt như gỗ, kim loại.. [1]
Như vậy, dung dịch sát khuẩn có tác dụng với corona virus (các chủng cũ) là cồn ethanol, nồng độ tốt nhất 65 - 70%.
Nếu dung dịch đó không có ethanol hoặc có với nồng độ thấp hơn/cao hơn nhiều thì đều không có tác dụng với các chủng coronavirus cũ (và có thể cả nCoV).
Oxy già và nước Javen chắc chắn ko phù hợp để làm dung dịch sát khuẩn thông thường.
Hàng ngày, nên sát khuẩn các vị trí mà tay thường xuyên tiếp xúc như tay nắm cửa, điều khiển TV, điện thoại di động,...
Nên mang theo người lọ nhỏ dung dịch sát khuẩn có nồng độ ethanol 65-70%, xịt sát khuẩn tay sau bất cứ hành động nào có nguy cơ lây nhiễm.

5. Sử dụng găng tay và kính
Xem xét việc sử dụng găng tay/kính mỗi khi đi ra ngoài, đặc biệt khi phải tới những nơi có nguy cơ cao.
Đeo găng tay+ đeo kính là cách phòng chống rất hiệu quả, tuy nhiên việc sử dụng còn khá bất cập trong cuộc sống thường ngày.

6. Đeo khẩu trang
Thực hiện đúng hướng dẫn đeo khẩu trang y tế của Bộ Y tế.
Đeo liên tục nếu có các triệu chứng giống cảm lạnh. Nên đeo khi đi thang máy, xe bus,... khi đến các chỗ đông người.
Cân nhắc việc sử dụng khẩu trang vải nếu nguy cơ thấp. Sau khi dùng có thể xịt dung dịch sát khuẩn, để trong 5 phút rồi giặt sạch với xà phòng sau đó sấy khô để tái sử dụng.
Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Nature cho thấy, khẩu trang tẩm nước muối có hiệu quả trong việc ngăn ngừa lây nhiễm virus qua đường hô hấp [2]

7. Súc họng bằng các dung dịch sát khuẩn họng trước khi ra khỏi nhà và sau khi về nhà.
Dung dịch Betadine 1% súc họng có thể tiêu diệt hầu hết các loại Corona virus (chủng cũ) trong thời gian 1 phút.
Lưu ý dung dịch này vị khá khó chịu và ko phù hợp với những trường hợp dị ứng với i-ốt, trẻ em dưới 1 tuổi và người mang thai.
Nếu được, có thể mang theo dung dịch sát khuẩn họng để súc khi thấy có nguy cơ lây nhiễm.

8. Tăng sức đề kháng hệ hô hấp bằng nước sả chanh mật ong theo công thức của bác Thành mắt.
🍀🍀🍀
Chanh chọn loại vỏ dày, rửa sạch, cho vào ngăn đá. Khi dùng, lấy ra bào cả phần vỏ và ruột chanh vào cốc. Mỗi ngày nửa quả cho 1 người.
Sả rửa sạch, giã nát.
Thêm nước nóng khoảng 80-90 độ vào cốc chanh bào. Sau đó cho sả đã giã nát vào.
🍀🍀🍀
Đợi cho nước nguội bớt đến khi uống được thì thêm mật ong vào và thưởng thức.

9. Hạn chế stress, suy nghĩ tích cực, lạc quan. Ngủ đủ giấc. Thể dục thường xuyên.


"Go full bat" nghĩa là gì?

Photo by: kaleb tapp on Unsplash

"Go full bat" = đánh hết (lực) gậy -> nghĩa là đi thật nhanh, ba chân bốn cẳng.

Ví dụ
Spoilers (tiết lộ) ahead for the TV series What We Do In The Shadows. If you aren't caught up and don't want to be spoiled, then go full "BAT!!!" and fly away immediately.

2018 has been a crazy enough year already… why don’t we just go full bat you-know-what and have this happen? If anything, you know we’d eventually get a great tell-all book by the author of the MLB classic, “Juiced.” Because really, what could go wrong?

No flak flying, as I say. No running down of the Daily D and the Daily C with their various claims to success. But, nevertheless (tuy nhiên), a difference that views the Mail empire in a “totally separate” light: one where the present is going full bat and the future will have to take care of itself.

Ngọc Lân

"Off his own bat" nghĩa là gì?

Photo by: Eduardo Balderas on Unsplash

"Off one's own bat" -> nghĩa là một mình không có ai giúp đỡ, đơn thương độc mã.

Ví dụ
Lynn won two matches off his own bat but generally performed below the high bar he has set himself as one of the Big Bash's most dominant (ưu thế) forces, while Matt Renshaw and Banton were the only other players to average 29-plus.

He was the second top-scorer in two of those games, against Melbourne Stars (20 off 17) and Adelaide Strikers (17 off 15), but lacks (thiếu) the power hitting to win games off his own bat with a career strike rate under 110.

Stokes won the World Cup off his own bat for England, and also produced one of the most memorable (đáng nhớ) Test performances in decades in the Ashes against Australia at Headingley.

Ngọc Lân