Journey in Life

Monday, September 25, 2017

Theo dấu toàn cầu hoá trong hơn một thiên niên kỷ qua

bài bình sách của S. Frederick Starr
22 tháng 4 năm 2016

Cuốn sách hấp dẫn nhưng có cái tên gây hiểu lầm lạ kỳ này là câu chuyện về "những Con đường tơ lụa" và gần như là về "Lịch sử thế giới”. Peter Frankopan, chuyên gia người Oxford về Byzantium, trình bày khoảng hai chục "con đường" hoặc các giai đoạn trong lịch sử châu Âu và châu Á trong hơn hai thiên niên kỷ, trong đó Con đường tơ lụa chỉ là một giai đoạn. Và trong khi tác giả tuyên bố viết về lịch sử thế giới, toàn bộ các nền văn minh và các lục địa (bao gồm cả châu Phi và châu Mỹ) chỉ xuất hiện trong câu chuyện của ông khi các châu lục này phải chịu ảnh hưởng từ người châu Âu. Nhật Bản hầu như không đáng đề cập đến. Trọng tâm thực sự của tác giả là lục địa Á-Âu, và mục tiêu của ông là thuyết phục người đọc rằng những câu chuyện của châu Á và châu Âu thực ra chỉ là một câu chuyện lớn, và hai châu lục này liên tục tương tác với nhau trong quá khứ và càng như vậy ngày nay.

Được nghiên cứu kỹ và viết rất hay, cuốn sách dày của Frankopan là tác phẩm đáng đọc,
với 2/5 nội dung dành cho những thế kỷ trước thời Columbus, một phần ba dành cho thời cận đại và 2/5 nói về thế kỷ 19 và 20. Cùng lúc đó, tác giả đưa ra nhiều kiến thức gây tranh cãi, ví dụ như tính châu Á trong Kitô giáo, cách thức quân Thập tự chinh kết hợp tôn giáo với thương mại, làm sao mà số vàng dùng để xây lăng Taj Mahal lại có thể truy nguồn từ Tân thế giới và việc người Anh Knox D'Arcy phát hiện ra dầu mỏ ở Ba Tư đã biến đổi chính trị thế giới như thế nào. Chủ đề thường xuyên của Frankopan là cách toàn cầu hoá do mậu dịch thúc đẩy đã là thực tế từ hàng thiên niên kỷ trước khi thuật ngữ này trở nên phổ biến. Đây không phải là khám phá mới, nhưng là điểm quan trọng, và Frankopan bảo vệ luận điểm này một cách hết sức thuyết phục.

Câu chuyện của ông đi vào nhiều lĩnh vực kì lạ sẽ khiến tất cả mọi người đều sẽ tìm thấy điều thú vị nào đó trong 500 trang sách này. Tuy nhiên, tác giả cũng có đôi chỗ thiên vị. Ông chỉ trích La Mã cổ đại là "nổi tiếng về bạo lực và giết chóc", nhưng lại không đánh giá như vậy khi nói đến nhiều chế độ độc tài phương Đông. Ông theo xu hướng hiện thời khi đánh giá cao chính sách mậu dịch tự do của Mông Cổ đồng thời tán dương việc họ sử dụng bạo lực “một cách có chọn lọc và thận trọng.” Tác giả giảm nhẹ tính nghiệm trọng từ sự tàn phá của quân Mông Cổ đối với toàn bộ những thành phố đã xây dựng và duy trì mậu dịch lục địa hàng thiên niên kỷ, vì ông cho rằng hầu hết các thành phố đã hồi phục nhanh chóng. Tuy nhiên, nhiều trong số các thành phố lớn nhất đã không hồi phục, bởi người Mông Cổ đã hủy hoại hệ thống tưới tiêu và thủy lợi của họ.

Cũng theo tinh thần đó, tác giả đã dành một chương về sự tham gia của người Viking và những người Bắc Âu khác trong buôn bán nô lệ ở châu Á mà không đề cập đến chế độ nô lệ thời trung cổ, cũng giống như chế độ nô lệ hiện đại, được thúc đẩy bởi nhu cầu và rằng trong một thiên niên kỷ trước Vasco da Gama, nhu cầu đến từ các thị trường nô lệ lớn như Hồi giáo Trung Đông và Trung Á. Sự thật là, văn hóa sang trọng của các vị vua cai trị thời trung cổ được xây dựng trên nền tảng vững chắc của chế độ nô lệ, một thực tế Frankopan bỏ qua.

Khi viết về thời cận đại, ông đưa ra những nhận định có thể khiến nhiều người thấy khó nghe. Tác giả bác bỏ giá trị cuộc Cải cách châu Âu khi "sự cuồng tín và tôn giáo cực đoan đang nhanh chóng trở thành những đặc điểm nổi bật", nhưng ông ít đề cập đến sự phân chia của Hồi giáo Sunni và Shiite và những cuộc chiến tranh đẫm máu cùng với đàn áp tri thức mà nó gây ra, từ Địa Trung Hải đến Ấn Độ. Tương tự, hàm ý so sánh với chủ nghĩa thực dân Tây Âu, ông lập luận rằng sự mở rộng của Nga sang phía nam và đông đã được thực hiện bằng "sự can thiệp nhẹ nhàng hợp lý". Hãy nói những lời ấy với hàng ngàn người Caucasus đã thiệt mạng do đội quân Nga hoàng tấn công, hoặc 16.000 người Turk thiệt mạng chỉ trong một ngày trong cuộc bao vây Geok Tepe của Nga (hiện nay là Turkmenistan) vào năm 1881. Tác giả cũng miêu tả chiến dịch Liên Xô cướp đoạt ngành công nghiệp Đông Âu và ép các chuyên gia của Đông Âu phục vụ cho quân đội là "hợp lý."

Hết chương này đến chương khác, người châu Âu nổi lên như những kẻ phản diện. Không rõ vì sao, có nhiều điều để biện minh cho quan điểm này, và chúng ta có nhiều nghiên cứu xuất sắc cho thấy các hành động tàn ác của người châu Âu ở Trung Đông, Châu Phi và Tân Thế giới. Nhưng Frankopan không hài lòng với việc chỉ kể lại câu chuyện. Thay vào đó, tác giả kể không ngừng về cách thức các quốc gia hiện đại của châu Âu trỗi dậy như "kẻ mạnh (nghĩa là phương Tây) nuốt chửng kẻ yếu đuối", họ đã thành công như thế nào qua "việc củng cố sức mạnh và tính tham lam", làm thế nào mà phương Tây thành công đặt mình vào trung tâm thế giới nhờ "mối quan hệ chặt chẽ với bạo lực và chủ nghĩa quân phiệt". Như thể sợ chúng ta vẫn chưa hiểu, ông kết luận rằng "đặc điểm của châu Âu là ngày càng hung hăng, không ổn định, và kém hòa bình hơn các khu vực khác trên thế giới và giờ phải trả giá.”

Càng viết càng giận dữ, tác giả bác bỏ giá trị của nghệ thuật châu Âu vào thế kỷ 17 và 18 là "hình thành bởi bạo lực", một dấu hiệu phản đối ông đã không thể hiện đối với hầu hết các tác phẩm được tạo ra dưới cai trị của các bạo chúa từ phương Đông cho đến người Mughal ở Ấn Độ . Ở đây, vấn đề không phải là tác giả đã sai mà là ông không tính đến phần còn lại của câu chuyện, dù đó là sự nổi lên của du mục Seljuks hay những kẻ cực đoan châu Á như Mahmud của Ghazni, Tamerlane hay Babur, đều hoàn toàn xuất phát từ sự tàn bạo. Thật vậy, có rất ít sự khác biệt giữa Nhà nước Hồi giáo ngày nay với sự tàn bạo của những kẻ Hồi giáo cực đoan đối với Ấn Độ trong nhiều thế kỷ. Các trường hợp xấu cá biệt vốn có thể khiến tác giả suy ngẫm về bản chất con người, thì lại khiến ông đưa ra các ưu nhược điểm theo cách vừa phiến diện vừa phải đạo chính trị.

Ta thấy rằng Frankopan đưa ra một loạt những nhận xét gay gắt (và thường tức cười) của người châu Âu về tính dối trá, tàn bạo hoặc bốc mùi của nhiều dân tộc Đông phương mà không động chạm đến những câu nhận xét đáng chú ý tương tự được tìm thấy trong các tác phẩm của Ả Rập và các nhà văn Đông phương khác khi nói về người phương Tây hay, ở phạm trù này, nói về người dân Nga hoặc dân tiểu lục địa Ấn Độ. Khi học giả thế kỷ 11 al-Biruni dám viết một tác phẩm đánh giá cao Hindu giáo, ông đã nêu rõ quan điểm khi đối lập cuốn sách của mình với thái độ thô bạo mà các nhà văn tiếng Ả rập trước đây vẫn dồn lên người Ấn Độ và tôn giáo của họ.

Cuộc đua giành vai nhân vật phản diện chính của Frankopan rất hấp dẫn, nhưng ít nhất người Mỹ có thể sánh ngang với người Huns, Tamerlane, Cortes và Anh. Tác giả bắt đầu nhẹ nhàng, dẫn dắt chúng ta rằng lễ Tạ ơn đầu tiên của Những người hành hương, vào năm 1621, đã được tổ chức "để đánh dấu việc cập bến an toàn tới vùng đất rộng lớn đồng thời còn là sự tưởng niệm chiến dịch chống lại toàn cầu hóa". Khi viết đến thế kỷ 20, ông rất hăng say, cho rằng — không phải không có cơ sở — với Iran, nước Mỹ luôn sẵn sàng "chơi trò hai mặt và lừa gạt" ở mọi thời điểm, và lên án các cuộc tấn công vào Afghanistan và Iraq, nhưng không có sự phân biệt giữa hai trường hợp này hoặc tìm hiểu sâu hơn về bối cảnh trong nước ở cả hai quốc gia trên. Frankopan sau đó, một cách hợp lý, cáo buộc Washington về việc "thỏa thuận và giao kèo theo kiểu được chăng hay chớ, giải quyết các vấn đề trước mắt mà không lo lắng về hậu quả tương lai."

Đây không phải cuốn sách đầu tiên coi cư dân đa dạng của khối lục địa Âu Á như một thể duy nhất chứ không phải là tập hợp các tiểu vùng và dân tộc tự trị lớn. Tuy nhiên, điểm mạnh chính yếu của nó là ở chỗ tập trung trực tiếp và nhất quán vào mậu dịch như là động cơ chính cho hội nhập trong khu vực. Frankopan nhấn mạnh luận điểm quan trọng này với sự kiên trì và tính rõ ràng. Người ta có thể châm chọc hoặc cười khẩy một số thành kiến và tính lập dị của tac giả, nhưng rút cuộc ông cũng đã đem lại ích không nhỏ cho chúng ta.

Quỳnh Anh
Washington Post

iPhone tròn 10 năm tuổi. Đây là câu chuyện về sự ra đời của nó.

bài bình sách của Lev Grossman
19 tháng 6 năm 2017

Trước khi được ai đó bên ngoài Apple biết đến, dự án iPhone được đặt mật danh là Purple. Không ai nhớ chính xác vì sao; có thể nó được đặt tên theo con chuột túi đồ chơi màu tím của một trong các kỹ sư.

Purple bí mật đến mức thậm chí ngay trong Apple cũng hiếm người biết về nó. Nó được phát triển trong một phòng thí nghiệm kín mít đằng sau các máy quẹt thẻ an ninh và những cánh cửa kim loại. Nhân viên phải ký các cam kết bảo mật. Phòng thí nghiệm đó còn được gọi là Ký túc Purple bởi vì mọi người làm việc ở đó suốt cả ngày, dù là cuối tuần, ngày lễ, kỳ nghỉ, tuần trăng mật. Họ ăn ở đó. Họ ngủ ở đó. Nơi này bốc mùi kinh khủng.

Trên thực tế, dù cuối cùng được coi là kết tinh sự hợp tác giữa nhà đồng sáng lập Apple - Steve Jobs và bậc thầy thiết kế Jony Ive, Purple có thể còn là một cơn ác mộng của làm việc quá sức, những hạn chế kỹ thuật không khắc phục được và những cuộc đấu đá chính trị. Andy Grignon, một trong những kỹ sư quan trọng của iPhone, cho biết: "Bạn tạo nên một nồi áp suất cho một nhóm những người thực sự thông minh với một thời hạn hoang đường, một nhiệm vụ bất khả thi, và sau đó bạn nghe nói rằng tương lai của toàn bộ công ty đang dựa vào nó." "Nó giống như món súp khốn khổ này." Ký túc Purple chắc chắn sẽ là bối cảnh cho một bộ phim kịch tính về chứng sợ không gian kín của một biên kịch nào đó giống Aaron Sorkin trong tương lai.

Nếu có, bộ phim đó có thể dựa trên cuốn "The One Device: The Secret History of the
iPhone” (iPhone: lịch sử bí mật), tác phẩm mới của Brian Merchant, biên tập viên của tờ Motherboard (Mạch chủ), bộ phận khoa học và công nghệ của công ty quảng cáo và truyền thông kỹ thuật số Vice. Merchant đã làm một công việc quan trọng là khai quật và biên soạn một số lượng lớn các chi tiết và giai thoại về sự phát triển của iPhone, nhiều điều trong số đó chưa bao giờ được ghi lại. Điều quan trọng là cùng với khả năng chống sốc, nước và bụi, iPhone cũng trụ được với lịch sử.

iPhone tồn tại giữa đời sống của chúng ta, nhưng nó trông như - nó được thiết kế để trông như – vừa bước vào thế giới của chúng ta từ một hành tinh đẳng cấp hơn, lý tưởng hơn trong chớp mắt. Như thể màn hình phẳng lì đen bóng của nó không nhường bước trước các đường viền của sọ người, bề mặt lấp lánh của nó không lộ chút manh mối nào về nơi chốn và thời điểm nó được tạo ra, hay bởi ai, hoặc bằng cách nào. Bạn thậm chí không thể mở nó mà không có chiếc tuốc nơ vít đặc biệt Pentalobe. Đây không chỉ là kết quả từ thiết kế vật lý của iPhone mà còn là kết quả của nền văn hoá kỳ lạ về sự tôn sùng và bí mật mà Apple đã tạo ra xung quanh sản phẩm của mình. iPhone biết tất cả mọi thứ về chúng ta, nhưng chúng ta biết rất ít về nó.

Ví dụ: chạm đa điểm, công nghệ cho phép màn hình cảm ứng của iPhone tương tác với nhiều ngón tay cùng lúc — đó là lý do vì sao bạn có thể thu nhỏ hoặc phóng to. Công nghệ này đến từ đâu? Jobs luôn khẳng định rằng cảm ứng đa điểm được phát minh tại Apple. Sự thật không phải vậy.

Như Merchant chứng minh, nó đã được phát minh ra nhiều lần khác nhau, bao gồm cả những năm 1960 tại Cơ quan Radar Hoàng gia Anh và những năm 1970 tại Tổ chức nghiên cứu hạt nhân châu Âu CERN. Vào đầu thiên niên kỷ mới, công nghệ cảm ứng đa điểm dùng trong iPhone ngày nay lần đầu tiên được áp dụng bởi một người mà chắc chắn bạn chưa từng nghe đến tên: Wayne Westerman. Là một tiến sĩ xuất sắc ngành kỹ thuật tại trường đại học Delaware, Westerman đã nghiên cứu cảm ứng đa điểm một phần do ông bị chứng tổn hại do căng thẳng thường xuyên [RSI: triệu chứng các đốt hoặc khớp bị tê liệt, sưng, viêm tấy do tư thế không đúng hoặc phải duỗi thẳng trong thời gian dài-ND] nghiêm trọng, khiến việc cử động trên bàn phím thông thường cực kỳ đau đớn. Apple mua lại công ty của Westerman, FingerWorks, vào năm 2005 — và từ đó FingerWorks và Westerman biến mất sau những tấm rèm thép của Apple. Phần còn lại là, và cũng không phải là, lịch sử. (Apple không cho phép Merchant phỏng vấn Westerman, hoặc bất kỳ nhân viên Apple hiện tại nào, cho cuốn sách này. Nhưng với tính cách cẩn thận của mình, Merchant đã tìm ra em gái của Westerman.)

iPhone được thiết kế để hiệu quả và tinh gọn tối đa. "The One Device" thì không. Ba chương về sự phát triển của iPhone là trung tâm của cuốn sách, và những chương với các tình tiết ly kì, hấp dẫn khác. Độc giả sẽ thấy say mê khi đọc phân tích kim loại của một chiếc iPhone bị nghiền hoặc khi xem Merchant đi khắp thế giới trên một chuyến hành trình kiểu như “tìm về vùng đất thánh” để tìm nguyên liệu mà Apple sử dụng — qua mỏ thiếc Stygian Bolivian và một mỏ lithium ở sa mạc Chilê, một bãi rác điện tử ở Nairobi, nơi kết thúc của rất nhiều chiếc iPhone.

Thành công nổi bật của ông trên lộ trình này là chuyến thăm đến một nhà máy của Foxconn bên ngoài Thẩm Quyến, Trung Quốc, nơi iPhone được sản xuất. Foxconn có tiếng về điều kiện lao động tồi tệ, và những vị khách phương Tây đến đây thường bị giám sát không rời, nhưng lấy cớ đi vệ sinh, Merchant đã tìm cách thoát được người hộ tống của mình và đi dạo quanh các cơ sở rộng lớn, một thiên đường úp ngược. "Từ trên xuống dưới, tất cả đều là nhà máy," ông viết, "hàng triệu thiết bị điện tử tiêu dùng đang được kết lại thành những khối đá xám xịt giống hệt nhau. Bạn thấy mình trở nên tí hon khi đứng giữa chúng, giống như một nhúm vật chất hữu cơ nhỏ bé giữa các động cơ có kích thước cỡ tàu sân bay của ngành công nghiệp." Đó là hình ảnh minh họa dễ hiểu cho cách mà iPhone, giống như một loại virut lấp lánh, đã định hình lại thế giới để tạo ra bản sao của chính nó.

Merchant cũng kể về nguồn gốc của các công nghệ hội tụ vào iPhone: Gorilla Glass, cảm biến chuyển động, pin lithium-ion, chip ARM, công nghệ không dây và nhiều thứ khác. Ông cho thấy việc tạo ra iPhone là kết quả công sức của rất nhiều người, một lời phản biện đối với "lầm tưởng iPhone chỉ có một nhà phát minh duy nhất — rằng sau vô số giờ làm việc, một người có thể làm nên một sáng chế thay đổi lịch sử." Chỉ sau một vài đoạn, nhà phát minh duy nhất [ám chỉ Steve Jobs] đã bắt đầu để lộ cái ruột toàn rơm [ý nói: tấm lòng nhỏ nhen - ND], nhưng Merchant dành toàn bộ các chương để trò chuyện với những người như Mitsuaki Oshima, cha đẻ của tính năng ổn định hình ảnh. Chắc chắn Oshima có nhiều kiến thức uyên bác muốn giữ kín, nhưng một người phỏng vấn như Merchant thì không có khả năng khám phá được chúng. ("Ngay cả khi máy ảnh bị rung/lắc khi bấm, hình ảnh cũng không hề bị mờ đi. Quá tốt để tin là sự thật", v.v ...)

Merchant cũng giảng giải rất chi tiết. Nhắc tới cảm biến từ kế (magnetometer), ta sẽ được biết thêm một bài học lịch sử. ("la bàn có thể được truy nguyên ít nhất đến triều đại nhà Hán, khoảng năm 206 trước Công nguyên"). Nhắc tới sản xuất theo dây chuyền, ta được dẫn dắt ngược về thời đại Pleistocene ("Homo erectus, cách đây 1,7 triệu năm, là loài đầu tiên sử dụng các công cụ ... "). Và nhiều ví dụ tương tự khác nữa.

Khi quay về với việc sáng tạo ra iPhone, câu chuyện của Merchant phong phú hơn tôi — một nhà báo đã theo dõi mọi tin tức về Apple trong nhiều năm — đã từng thấy trước đó. Nếu bạn đã từng có một dự án vô vọng mà cảm thấy nó sẽ chẳng đi đến đâu, bạn sẽ được tiếp thêm sức mạnh tinh thần từ câu chuyện cuộc đời của Merchant trong các trận chiến vì Purple. Nó bao gồm những bế tắc và cơ hội bị bỏ lỡ đầy thú vị (một nguyên mẫu dựa trên bánh xe điều khiển của iPod, phía sau có màu xanh da trời và cam); những hy sinh cá nhân ("iPhone là lý do tôi ly dị"); các rào cản kỹ thuật mơ hồ (cảm biến khoảng cách hồng ngoại của điện thoại làm tắt màn hình khi nó gần đầu bạn, sẽ không nhận ra tóc màu sẫm); căng thẳng hậu trường khi ra mắt (tôi đã thực sự ở đó, xem Jobs tập bài thuyết trình nổi tiếng của iPhone, nhưng rõ ràng đã bỏ lỡ mọi thứ); thậm chí là một vụ ám sát biểu tượng trên sân khấu (khi Jobs trình diễn thao tác xóa một địa chỉ liên hệ, ông đã xóa tên của Tony Fadell, Phó Chủ tịch Apple, báo trước sự ra đi sau đó của Fadell).

Chiếc iPhone được "ngụy trang" như thể nó không phải do con người làm nên. Cuốn sách của Merchant làm sáng tỏ những công sức lao động ấy, và trong quá trình này sẽ phần nào xua tan màn sương mờ và sự bóp méo bao quanh iPhone. Cuốn sách không phải lời khẳng định dứt khoát, nhưng nó là một sự khởi đầu. Chúng ta cần thứ giống như một chiếc Pentalobe, một cuốn sách sẽ mở ra ý nghĩa của iPhone, nghiên cứu kỹ lưỡng đồ vật cộng sinh, hoặc ký sinh này, thứ đã đưa vào cuộc sống của chúng ta những kết nối kiểu mới, đồng thời lấy đi từ đó những kết nối khác. Nếu iPhone là một cuộc cách mạng, nó sẽ lật đổ ai hay điều gì? Một trong những câu chuyện Merchant kể lại là của Grignon, người đầu tiên nhận cuộc gọi trên iPhone. Câu đùa là anh ấy không nhấc máy. "Thay vì trở thành khoảnh khắc tuyệt vời như của Alexander Graham Bell, nó lại chỉ kiểu như, 'E-hèm,… xin để lại lời nhắn trong hộp thư thoại,' " Grignon nói. "Tôi nghĩ như thế là quá hợp lý, với tình cảnh chúng ta hiện nay."

Minh Thu
NYTimes


Bí quyết sống khỏe mỗi ngày

theo nghiên cứu của chuyên gia về sống thọ Dan Buettner thì những người hạnh phúc nhất thế giới, mỗi ngày họ: xem TV dưới 30 phút, mạng xã hội dưới 30 phút, nghe nhạc ít nhất 2 giờ, ngủ từ 6 đến 9 tiếng, làm tình nguyện hết mình 2-4 tiếng/tuần, tập thư giãn/thiền, du lịch ít nhất 4 tuần/năm, đọc 1 quyển sách mỗi (2) tháng, have sex (càng nhiều càng vui)...
-----
Dear Dan,

Is this column the best use of your time? For that matter, how should one decide how best to use one’s time, especially leisure time?

—Paul

The way we spend our time, much like the way we spend our money, is mostly a question of opportunity cost. If you spend an hour reading, that’s an hour that you can’t spend training for a marathon.

People vary somewhat in what makes them happy, but the longevity expert Dan Buettner has found some general lessons. His research shows that the world’s happiest people, in an average day, spend less than 30 minutes watching TV, devote just 30 to 60 minutes to social media, listen to music for at least two hours and get six to nine hours of sleep. They also volunteer two to four hours a week, practice relaxation techniques, take at least four weeks of vacation a year, read a book at least every other month, engage in sexual activity (the more, the merrier, Mr. Buettner says), and have close friends who are racially and ethnically diverse.

All that may be too much of a lifestyle change for you, but try picking a few of the elements that seem simplest to implement—and over time, try to take on more.