Journey in Life: economics
Showing posts with label economics. Show all posts
Showing posts with label economics. Show all posts

Monday, September 25, 2017

Bộ trưởng yêu cầu không chơi golf

toàn lấy cớ làm ăn, nhưng có thật sự vậy đâu,

theo nghiên cứu hơn 300 ceo từ các công ty S&P 1500 trong giai đoạn 2008-2012, thấy rằng, ceo càng chơi golf nhiều, tình hình sxkd và giá trị của công ty càng giảm...
-----
Dear Dan,

Many CEOs claim to use golf to informally “get things done.” How much are they really accomplishing on the links?

—Paul

I used to believe in the popular notion that golfing is an important business tool, but a paper published last year in the journal Management Science changed my view. Lee Biggerstaff, David Cicero and Andy Puckett collected golfing records for more than 300 CEOs from S&P 1500 firms from 2008 to 2012 and found that the more golf a CEO played, the more a firm’s performance and value decreased. When CEOs played at least 22 rounds in a year, they found, the mean return on assets was more than 100 basis points lower than for firms whose CEOs played golf less frequently. I’m inclined to think that the idea of golf as a business tool is a self-serving tale that CEOs tell themselves and us to justify spending time and money at play.

Monday, September 11, 2017

Công nhân nhà máy dệt đi về đâu?

cách mạng 4.0, robot tự động hoàn toàn, một robot thay thế 17 công nhân,

đừng nghĩ đến tăng lương nữa, không mất việc là may,



Chinese clothing manufacturing giant Tianyuan Garments is certainly intrigued. They’re getting ready to open a 100,000 square foot factory in Little Rock, Arkansas that will feature 21 SewBots. They’ll be able to produce around 1.2 million t-shirts a year.

Until now, a company like Tianyuan Garments probably wouldn’t have considered opening a U.S.-based facility because of high labor costs. According to a report from Quartz, those costs could amount to as much as $7.47 for a single shirt. SewBots can turn them out for just 33 cents each, which is marginally more expensive than having shirts sewn by hands in Bangladesh.

Monday, September 4, 2017

Giấc mơ đại học đẳng cấp quốc tế cho Việt Nam

đó là phải có 4,7 tỷ usd một năm, đây là chi phí vận hành của trường đại học Harvard, chi tiết ở dưới, riêng lương cho thầy cô là gần 2 tỷ usd/năm :) trong đó học phí thu từ sinh viên theo học đại học và cao học chỉ trả được 6,4% và 11,2% tương ứng, còn lại hơn 80% phải đến từ nhà nước và các mạnh thường quân...
-----
The cost of running Harvard, this is from the 28 August 2017 Bloomberg Businessweek:

Salaries and wages: $1.8 billion
Services purchased (catering, security, etc.): $583 million
Benefits: $530 million, roughly equal to the revenue from graduate programs
Depreciation: $338 million
Real estate (leases, utilities, etc.): $345 million
Other (subcontractors, publishing): $323 million
Supplies and equipment run $257m, scholarships $142m, and interest on the debt $235m, with travel expenses, advertising, and postage at smaller amounts.

Total operating costs are $4.7 billion, with undergraduate tuition covering 6.4 percent of that, graduate tuition covering 11.2 percent.

One of the difficulties with scaling up, of course, is that Harvard cannot always so easily scale the quality and resources of its donors. “Harvard as we know it” may be as large as the current set of donors can support. And “Harvard as we know it” likes…”Harvard as we know it,” not some other Harvard.

Thị trường cạnh tranh

ở thị trường có ít hơn 5 nhà cung cấp (ncc), tất cả các biến thể hành vi cạnh tranh diễn ra khi có thêm ncc thứ 2, thứ 3 tham gia... khi đã đạt 5 ncc rồi, thì thêm ncc tiếp theo không có mấy tác động đối với hành vi cạnh tranh.

"điểm ngọt" để một thị trấn chỉ có một nha sĩ hoặc bác sĩ duy nhất, đó là dân số khoảng 700-900 người,

-> có nên viết thuê luận văn thạc sĩ không nhỉ?
-----
…competitive conduct changes quickly as the number of incumbents increases. In markets with five or fewer incumbents, almost all variation in competitive conduct occurs with the entry of the second or third firm…once the market has between three and five firms, the next entrant has little effect on competitive conduct.

That is from Bresnahan and Reiss, “Entry and Competition in Concentrated Markets.”

Part of their method is to compare doctor and dentist pricing practices across towns of different size, and thus across different numbers of providers. Then they see where bigger numbers makes a difference in terms of pricing. Plumbers and tire dealers are considered too. One lesson seems to be that market concentration has to rise to very high levels to make a big difference in outcomes.

If you are wondering, the “sweet spot” for a town to have a single dentist or doctor is population between 700 and 900, at least circa the early 1990s.

Thursday, August 31, 2017

Đại gia đặt tên cho công ty: Từ tên mình đến tên quý tử

nên vậy, giống như Trump Organization,

khảo sát mẫu 2 triệu doanh nghiệp, 19% dùng tên của người sáng lập, tỷ số lợi nhuận trên tài sản cao hơn 3% so với các công ty khác,

lý giải rằng, đặt tên như vậy bắn tín hiệu: tin tưởng vào sản phẩm (của mình) tốt, hoặc nếu thất bại thì danh tiếng cũng chìm theo, nên khách hàng nhận được tín hiệu này và tưởng thưởng cho công ty tương xứng,
-----
A GOOD business name can be pricey. An entrepreneur looking for the perfect one can hire a naming agency to offer ideas, but that can cost tens of thousands of dollars. That may explain why many founders follow the example of the current American president and name their businesses after themselves. A recent article* by academics from the Fuqua School of Business at Duke University in North Carolina suggests that doing so not only saves money—it can also boost profits.

...After accounting for other factors, firms that bore their largest shareholder’s name enjoyed a return on assets (ROA) that was three percentage points higher than other companies. The authors explain this by noting that if you name a firm after yourself, you send a signal. You believe your product is good enough to stake your own reputation on it, not just that of your company. If you fail, you will remain personally connected to that failure for the rest of your career. The authors suggest that customers receive this signal and reward firms accordingly.

Wednesday, August 30, 2017

Cần đẩy nhanh xã hội hóa xe buýt?

nghiên cứu ở Mỹ về privatize bus systems, nếu tư nhân hóa toàn bộ sẽ tiết kiệm chi phí khoảng 5,7 tỷ usd (30% chi phí vận hành), số người đi xe buýt tăng từ việc giảm giá thành này sẽ mang lại lợi ích xã hội (tối thiểu) 524 triệu usd, và thêm 26.000 việc làm trong ngành.
-----
Local governments spend roughly $1.6 trillion per year to provide a variety of public services ranging from police and fire protection to public schools and public transit. However, we know little about public sector’s productivity in delivering key services. Public bus service represents a standardized output for benchmarking the cost of local government service provision. Among the top twenty largest cities, there exists significant dispersion in the operating cost per bus mile with the highest being more than three times as high as the lowest. Using a regression discontinuity design, we estimate the cost savings from privatization and explore the political economy of why privatization rates are lower in high cost unionized areas. Our analysis suggests that fully privatizing all bus transit would generate cost savings of approximately $5.7 billion, or 30% of total U.S. bus transit operating expenses. The corresponding increased use of public transit from this cost reduction would lead to a gain in social welfare of $524 million, at minimum, and at least 26,000 additional transit jobs.

That is from Rhiannon Jerch, Matthew E. Kahn, and Shanjun Li, forthcoming in the Journal of Public Economics.

Friday, August 18, 2017

Thận trọng với quyết định tăng VAT

shared from Vu Thanh Tu Anh,
-----
Thứ nhất, thuế VAT nhìn chung có tính “lũy thoái”, do vậy sẽ đánh vào người thu nhập thấp nặng nề hơn. Người tiêu dùng, bất kể thu nhập cao hay thấp, đều phải đóng cùng một mức thuế VAT cho cùng một sản phẩm chịu thuế. Song do người thu nhập thấp phải dành một tỷ trọng thu nhập lớn hơn cho tiêu dùng nên gánh nặng thuế họ phải chịu sẽ chiếm một tỷ trọng cao hơn so với thu nhập. Tăng thuế VAT vì vậy sẽ làm người thu nhập thấp bị tổn thương nhiều hơn - do vậy khó được chấp nhận dưới góc độ công bằng.

Thứ hai, tỷ trọng đóng góp của VAT trong tổng thu ngân sách của Việt Nam hiện đã khá cao, cao hơn hẳn so với các nước EU – là những nước có thuế suất VAT thuộc nhóm cao nhất thế giới. Với thuế suất VAT phổ thông hiện nay là 10%, VAT đã chiếm tới 27,5% tổng thu ngân sách của Việt Nam. Trong khi đó, với mức thuế suất phổ thông trung bình cao hơn hẳn (21,3%), VAT cũng chỉ chiếm trung bình 21,4% tổng thu ngân sách của các nước EU (xem 2 đồ thị ở dưới). Điều này cũng ngụ ý rằng, việc tăng thuế suất VAT không hiển nhiên cải thiện vai trò của sắc thuế này trong tổng ngân sách.

Thứ ba, và quan trọng nhất, nguồn gốc của nợ công và thâm hụt ngân sách nặng nề ở Việt Nam không phải do thiếu khả năng huy động ngân sách mà chính là do hiệu quả chi ngân sách thấp, trong khi tỷ lệ chi ngân sách hiện đã rất cao, lên tới 28-29% GDP.

Tuesday, August 15, 2017

Mỹ có thể áp thuế trừng phạt lên các sản phẩm thép Trung Quốc?

đánh thuế nhập khẩu thép đối với Tàu chẳng ích gì, Tàu chỉ đáp ứng 1% nhu cầu thép của Mỹ thôi (đứng thứ 10), Trump chỉ rhetoric vớ vẩn, các nhà sản xuất thép của Mỹ vẫn đợi Trump bump (thuế và quota thép across the board)...
-----
Contrary to popular belief, the United States no longer buys much steel directly from China. In 2016, the top countries the United States imported steel from were Canada, South Korea, Brazil and Mexico, according to Commerce Department data. China was way down in 10th place for steel imports. It's one of the reasons Commerce Secretary Wilbur Ross has called the issue so "complex." Putting tariffs on China is one thing; putting them on long-time allies like Canada and South Korea is another.

Some experts say if Trump only puts a tariff on Chinese steel, it might not have much impact on prices. Out of all the steel the United States uses, China only supplies about 1 percent of it. On top of that, China is selling a lot less steel on world markets these days since it needs more steel at home...



Monday, June 12, 2017

Qatar nhỏ bé và một trật tự thế giới mới dưới thời Tổng thống Donald Trump?

...Dù nhỏ bé, Qatar không phải là 1 quốc gia yếu thế. Đây là nước sản xuất khí hóa lỏng (LNG) lớn nhất thế giới và cũng là trung tâm hàng không kết nối Trung Đông với thế giới. Qatar là nơi đặt trụ sở của Al Jazeera, hãng truyền hình quốc tế duy nhất không bị kiểm duyệt trong thế giới Hồi giáo. Qatar cũng có mối quan hệ tốt đẹp với Iran, nhờ đó có thể khai thác những mỏ khí khổng lồ của nước này, đồng thời còn ủng hộ tổ chức Anh em Hồi giáo.

Tuy nhiên, tất cả những điều này lại khiến Saudi Arabia không ưa Qatar. Trong quá khứ, Saudi đã nhiều lần cố gắng bắt Qatar làm theo ý mình nhưng đều không thành công. Cho phép Mỹ đặt căn cứ không quân, cho đến thời điểm này Qatar vẫn cảm thấy an toàn. Nhưng sự kiện vừa qua cho thấy khi Tổng thống Trump làm ông chủ Nhà Trắng, không ai có thể biết trước điều gì sẽ xảy ra với không chỉ Trung Đông mà còn với trật tự thế giới trong tương lai...
-----
Though tiny, Qatar matters. It is the world’s largest producer of liquefied natural gas and an airline hub. It is also host to Al Jazeera, the nearest the Middle East has to an uncensored broadcaster (so long as it does not criticise the Qatari monarchy). It has good ties with Iran, with which it exploits a vast gasfield. It is supportive, too, of the (Sunni) Muslim Brotherhood, the most popular face of political Islam. All this makes Saudi Arabia hate it. The Saudi regime has tried in the past to bend Qatar to its will, but failed. Qatar hosts a large American airbase, which until now has made it feel safe. But with Mr Trump in the White House, nobody is now so sure.

xem thêm ở cafef.vn, english here,

Tuesday, April 11, 2017

Kẻ phá bĩnh thị trường ôtô



Ride-hailing apps such as Uber, Ola and Lyft are not only challenging taxi drivers around the world, they are also disrupting the car industry as a whole as people prefer to hail a ride than buy their own set of wheels.

Monday, April 10, 2017

Kẻ phá bĩnh thị trường dầu khí



Pressure to reduce carbon emissions is putting the future of fossil fuel giants in jeopardy. Their survival plans involve carbon storage and floating wind farms. Meanwhile, one small German village is showing how large companies aren't always essential.

Sunday, April 9, 2017

Tài nguyên cát: sự thiếu hụt không ngờ ở cấp độ toàn cầu

Camel ride in the Thar desert near Jaisalmer, India. Photo courtesy vil.sandi.

Nhờ hoạt động xây dựng bùng nổ ở châu Á, cát đang có nhu cầu cao.

“Cát tặc” Ấn Độ đang làm ăn phát đạt. Tờ Times of India ước tính rằng thị trường cát bất hợp pháp trị giá khoảng 150 tỷ rupee (2,3 tỷ USD) một năm; chỉ riêng một khu khai thác ở Tamil Nadu, 50.000 xe tải cát được khai thác mỗi ngày và buôn lậu sang các bang lân cận. Các băng nhóm trên khắp đất nước thường xuyên sử dụng bạo lực, tranh giành thu lợi nhuận từ sự bùng nổ xây dựng.

Phần lớn nền kinh tế toàn cầu hiện đại phụ thuộc vào cát. Hầu hết cát được đổ vào ngành công nghiệp xây dựng, nơi cát được sử dụng để làm bê tông và nhựa đường. Một số lượng cát mịn nhỏ hơn được sử dụng để sản xuất thủy tinh và thiết bị điện tử, và, đặc biệt ở Mỹ, để khai thác dầu từ đá phiến dầu trong ngành công nghiệp fracking (ngành khai thác thủy lực). Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi cát và sỏi là những vật liệu được khai thác nhiều nhất trên thế giới. Một báo cáo năm 2014 do Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) ước tính, mỗi năm, cát và sỏi chiếm đến 85% trọng lượng của tất cả sản phẩm khai mỏ trên toàn cầu.

Với việc ngành xây dựng nhà cửa ở phương Tây vẫn chưa hoàn toàn hồi phục sau cuộc khủng hoảng 2007-2008, châu Á đã và đang là nguồn cầu chính đối với cát, lớn hơn nhiều so với phương Tây. Số liệu từ công ty nghiên cứu thị trường Freedonia cho thấy, trong 13,7 tỷ tấn cát được khai thác trên toàn thế giới để phục vụ xây dựng vào năm ngoái, 70% được sử dụng ở châu Á. Chỉ riêng ở Trung Quốc đã sử dụng một nửa trong số này, khi chính phủ nước này ước tính rằng họ đã xây dựng 32,3 triệu ngôi nhà và 4,5 triệu km đường từ năm 2011 đến năm 2015.

Cát cũng thường được dùng để tạo nền móng cho chính việc xây dựng. Nhờ đổ một số lượng lớn cát xuống biển, ngày nay, diện tích của Singapore đã rộng ra hơn 20% so với thời điểm nước này độc lập vào năm 1965. Trung Quốc và Nhật Bản đã lấn biển với những vùng đất còn rộng lớn hơn thế, và Trung Quốc đã khiến cộng đồng quốc tế bức xúc khi xây dựng các đảo nhân tạo trên các bãi đá tranh chấp ở Biển Đông. Ở những nơi khác, việc lấn biển lại là sự cần thiết không mong muốn: Maldives và Kiribati phải đối phó với mực nước biển dâng bằng cách lấy cát từ các đảo nhỏ hơn hoặc dưới đáy biển để đắp lên những đảo lớn hơn. Khi mực nước biển dâng cao hơn nữa, và dân cư đô thị phình to ra—Liên Hợp Quốc dự đoán sẽ tăng gần 1 tỷ người vào năm 2030— người ta sẽ lùng sục cát thậm chí còn nhiều hơn.

Cát có vẻ như rất dồi dào, nhưng là trên thực tế, nó đang trở nên khan hiếm. Không phải tất cả các loại cát đều hữu ích: cát sa mạc quá mịn nên không thể dùng cho hầu hết các mục đích thương mại. Các vùng cát dự trữ cũng cần phải nằm ở gần địa điểm xây dựng; vì chi phí vận chuyển rất cao so với giá nên việc vận chuyển cát đi xa là không kinh tế. Tuy nhiên, điều này không thể ngăn cản các quốc gia có nguồn tài nguyên trong nước hạn chế (và rủng rỉnh về tài chính). Singapore và Qatar là các nhà nhập khẩu lớn; tòa nhà chọc trời Burj Khalifa ở Dubai được xây dựng bằng cát nhập khẩu từ Úc.

Cát đang được khai thác với tốc độ lớn hơn nhiều so với khả năng tái tạo trong tự nhiên, và sự suy giảm trữ lượng cát hiện đang làm tổn hại đến môi trường. Việc nạo vét cát ở sông và biển làm ô nhiễm môi trường sống tự nhiên, ảnh hưởng đến ngành công nghiệp đánh bắt cá và trồng trọt ở địa phương. Việc khai thác cát ở hồ Poyang, Trung Quốc— UNEP tính toán rằng đây có thể là khu khai thác cát lớn nhất thế giới—được cho là đã khiến mực nước hạ thấp. Các bãi biển ở Morocco và Caribbean đã bị nạo sạch cát, làm giảm khả năng hấp thụ nước khi thời tiết có bão. Một báo cáo gần đây về các vấn đề môi trường đang nổi lên của một nhóm nhà khoa học, đứng đầu là William Sutherland tại Đại học Cambridge, chỉ ra rằng những rủi ro đó sẽ chỉ gia tăng khi tình trạng khan hiếm cát tồi tệ hơn.

Ở phương Tây, những lo ngại như vậy đã dẫn đến việc hạn chế những nơi có thể khai thác cát. Ví dụ, ở Mỹ, việc khai thác cát xa bờ hoặc gần khu dân cư lớn bị hạn chế. Các quy định cũng đã được đưa ra tại nhiều nước đang phát triển. Việc các bờ biển cứ mỏng dần và một số hòn đảo biến mất hoàn toàn, đã khiến Indonesia và Malaysia cấm xuất khẩu cát sang Singapore. Myanmar đã cấm khai thác cát trên một số bờ biển, Campuchia và Việt Nam đưa ra những hạn chế việc xuất khẩu.

Trái ý muốn
Nhưng các quy định không phải luôn luôn được thực thi. Ông Sumaira Abdulali thuộc quỹ Awaaz Foundation, một tổ chức từ thiện ở Mumbai, cho rằng các quan chức Ấn Độ có nhiệm vụ giám sát việc khai mỏ thường bị đe dọa bởi bọn “cát tặc”; ngay cả khi các băng nhóm có giấy phép, chúng thường khai thác vượt quá giới hạn cho phép mà không hề bị phạt. Nhà nước không có nhiều nỗ lực theo dõi việc buôn bán cát, vì vậy cát khai thác bất hợp pháp có thể được giao dịch tương đối dễ dàng. UNEP ước tính rằng một nửa số cát được sử dụng trong xây dựng và công nghiệp ở Morocco có nguồn gốc từ khai thác ven biển bất hợp pháp. Trớ trêu thay, những bãi biển đang bị nạo sạch cát để giúp xây dựng các cơ sở hạ tầng du lịch. Tại Campuchia, các tổ chức từ thiện cáo buộc rằng việc xuất khẩu cát sang Singapore đã không được báo cáo đầy đủ một cách có hệ thống để che đậy việc khai thác mỏ bất hợp pháp. (Tháng 11, chính phủ Campuchia phản ứng bằng cách ngưng tất cả việc xuất khẩu cát.)

Trên thực tế, hoàn toàn có sản phẩm thay thế cát. Bùn có thể được sử dụng cho việc khai hoang lấn biển, rơm và gỗ để xây dựng nhà ở, và bột đá để làm bê tông. Nhựa đường và bê tông có thể được tái chế. Ông Zoe Biller thuộc công ty nghiên cứu Freedonia cho rằng quy trình sản xuất sẽ chuyển sang sử dụng những lựa chọn thay thế này khi giá cát tăng lên. Ở một số nước giàu, sự thay đổi này đã được tiến hành, và được khuyến khích bởi chính sách của chính phủ. Theo Hiệp hội Sản phẩm khoáng của Anh, 28% vật liệu xây dựng sử dụng ở Anh vào năm 2014 đã được tái chế. Kế hoạch tái chế 75% thủy tinh vào năm 2025 của châu Âu sẽ làm giảm nhu cầu sử dụng cát công nghiệp. Singapore có kế hoạch dựa vào các chuyên gia người Hà Lan cho dự án khai hoang lấn biến tiếp theo của mình. Sử dụng hệ thống đê điều và máy bơm, nước này sẽ ít phụ thuộc hơn vào cát.

Việc nhu cầu của Singapore giảm đi có thể sẽ không khuyến khích việc khai thác bất hợp pháp ở các nước lân cận. Giá cả tăng cao cuối cùng sẽ buộc các nhà xây dựng ở các nước đang phát triển phải tìm những lựa chọn thay thế cát. Nhưng nếu việc thực thi pháp luật không được cải thiện, giá cát cao cũng làm cho việc khai thác bất hợp pháp hấp dẫn hơn. Bất chấp những hậu quả tai hại, bọn cát tặc sẽ tiếp tục cào bới cát trong một thời gian nữa.

Tuấn Minh
The Economist

Wednesday, April 5, 2017

Tái khởi động vĩ đại



Economic progress is not continual and inevitable. It can be disrupted with short downturns and, as we’ve seen in this series, periods of stasis. If we continue on this trajectory, there is the possibility of a “great reset” and there are some strong indicators that it’s already underway.

Let’s think of these indicators as “canaries in the coal mine.” Miners used to take canaries with them to provide an alarm when levels of toxic gases were too high. The birds were much more susceptible to the gases and would show signs of distress – or even die – before the miners were in grave danger.

During the Great Recession, subprime borrowers acted as the canaries. Poor credit and lower incomes made them the most susceptible to trouble in the larger financial system, and they showed signs of distress first – missed payments and foreclosures. The whole system was cracking up, but we saw it here first.

Where are the possible canaries today? The Ferguson and Baltimore riots suggest stress on America’s race relations and inner cities. Millions of men of prime working age are missing from the U.S. labor force. And what about the 2016 election? Trump’s political rise indicated serious discontent among millions of American voters, but elite political commentators, up until the very end, did not see Donald Trump becoming president.

If we look at these events as connecting the dots between stresses on the American economy, we can see some commonalities – namely, a loss of trust. People are losing trust in American institutions. Wage growth is sluggish, people are experiencing more socioeconomic segregation, and politics have us increasingly divided.

What happens if the U.S. faces a crisis? Can we respond to huge job loss from unforeseen automation? What about a foreign policy crisis, or infrastructure collapse? The American economy, with its current loss of dynamism and innovation, would have trouble responding to any sudden crisis. The federal government, with so much revenue already tied-up, would as well.

If we stay on the course of complacency, a great reset is very possible and it won’t be pleasant. But it’s not all doom and gloom. In the longer run, such a crisis could reinvigorate the American pioneer spirit, putting the U.S. back on a path of economic dynamism and growth.

Người mất tích ở Mỹ



We’re going to paint a not-so-pretty picture of the current U.S. labor force: Millions of working age (25-54) American men do not have jobs and, because they are not actively seeking work, do not count towards our primary unemployment statistic. Many of these men are living at home with their parents. They are not attending school. They are not stay-at-home dads. In fact, much of their time is going towards leisure activities such as watching television and playing video games. Almost half are on painkillers.

To be clear, this picture does not apply to every working age male without current employment, but it is accurate for a disturbingly high percentage.

If we look specifically at men without a college degree and job who are in their twenties, we find that in 2000, less than 10% had not worked at all in the past year. 15 years later, that number had more than doubled to 22%.

As of 2015, an estimated 5.5 million prime-age men (25-54) were neither working nor enrolled in school – the equivalent of the combined populations of Dallas, Philadelphia, and Chicago. It’s a worrisome trend for the economy and there’s no clear-cut answer as to why it’s happening.

Up next, we’ll discuss the possible “great reset” on the United States’ economic horizon and whether the missing men phenomenon could be a driving force.

Wednesday, March 22, 2017

Sự ngưng trệ của nước Mỹ



Disruption. This is the big buzzword when it comes to startups and Silicon Valley. Many of the top tech businesses today have caused major disruptions in their industries – from Uber, to Airbnb, and even Facebook, these tech giants are changing the game. However, if we peer outside of this small window, the narrative of fast-paced innovation and a rapid rise in startups falters.

In fact, the rate of startups forming has trended lower and lower beginning in the 1980s. Younger firms are also less likely to become successes than they have been in the past. Outside the sphere of the few highly-visible companies that have made strides in improving our standard of living, the U.S. economy is stagnating.

Lots of older firms with a lower rate of new ones starting up means fewer jobs are being created and destroyed. Established firms are enjoying a larger share of the market. Giants are sitting on their piles of cash, and sometimes acquiring other large firms, instead of investing in new ideas. This lack of dynamism shows in productivity growth, which has mostly been on the decline since 1973.

For employment, fewer young firms means less job mobility. People are, again contrary to the usual narrative, staying in the same jobs for longer than ever before. And that slowdown in productivity growth shows up in places like real wages. In fact, if the U.S. had continued at pre-1973 productivity growth, the median American household income would be about $30,000 higher.

Finally, U.S. federal revenue is increasingly on auto pilot. In 1962, roughly 65% of federal revenue fell under “fiscal discretion,” allowing for new allocations each year. Today, the vast majority of federal revenue is wrapped up in predetermined spending like debt, Medicaid, social security, and Medicare. By 2022, less than 10% of U.S. federal revenue might be considered discretionary.

All of these factors lead to a more “boxed in,” less flexible, less dynamic economy. This is not an advantageous position – living standards are increasing more slowly, sowing seeds of discontent, and it’s difficult for a federal government with little discretionary spending to respond to a crisis.

In upcoming videos, we’ll look at some of the discontent currently happening in the U.S. and what might happen if a crisis were to occur and our lives were to be truly disrupted during this time of economic stagnation.

Kỷ nguyên mới của sự phân biệt



Do you live in a “bubble?” There’s a good chance that the answer is, at least in part, a resounding “Yes.”

In our algorithm-driven world, digital servants cater to our individual preferences like never before. This has caused many improvements to our daily lives. For example, instead of gathering the kids together for a frustrating Blockbuster trip to pick out a VHS for family movie night, you can simply scroll through kid-friendly titles on Netflix that have been narrowed down based on your family’s previous viewing history. Not so bad.

But this algorithmic matching isn’t limited to entertainment choices. We’re also getting matched to spouses of a similar education level and earning potential. More productive workers are able to get easily matched to more productive firms. On the individual level, this is all very good. Our digital servants are helping us find better matches and improving our lives.

What about at the macro level? All of this matching can also produce more segregation – but on a much broader level than just racial segregation. People with similar income and education levels, and who do similar types of work, are more likely to cluster into their own little bubbles. This matching has consequences, and they’re not all virtual.

Power couples and highly productive workers are concentrating in metropolises like New York City and San Francisco. With many high earners, lots of housing demand, and strict building codes, rents in these types of cities are skyrocketing. People with lower incomes simply can no longer afford the cost of living, so they leave. New people with lower incomes also aren’t coming in, so we end up with a type of self-reinforcing segregation.

If you think back to the 2016 U.S. election, you’ll remember that most political commentators, who tend to reside in trendy large cities, were completely shocked by the rise of Donald Trump. What part did our new segregation play in their inability to understand what was happening in middle America?

In terms of racial segregation, there are worrying trends. The variety and level of racism of we’ve seen in the past may be on the decline, but the data show less residential racial mixing among whites and minorities.

Why does this matter? For a dynamic economy, mixing a wide variety of people in everyday life is crucial for the development of ideas and upward mobility. If matching is preventing mixing, we have to start making intentional changes to improve socio-economic integration and bring dynamism back into the American economy.

Bài trước: Giới tự mãn

Giới tự mãn



Restlessness has long been seen as a signature trait of what it means to be American. We've been willing to cross great distances, take big risks, and adapt to change in way that has produced a dynamic economy. From Ben Franklin to Steve Jobs, innovation has been firmly rooted in American DNA.

What if that's no longer true?

Let’s take a journey back to the 19th century – specifically, the Chicago World’s Fair of 1893. At that massive event, people got to do things like ride a ferris wheel, go on a moving sidewalk, see a dishwasher, see electric light, or even try modern chewing gum for the very first time. More than a third of the entire U.S. population at that time attended. And remember, this was 1893 when travel was much more difficult and costly.

Fairs that shortly followed Chicago included new inventions and novelties the telephone, x-ray machine, hot dogs, and ice cream cones.

These earlier years of American innovation were filled with rapid improvement in a huge array of industries. Railroads, electricity, telephones, radio, reliable clean water, television, cars, airplanes, vaccines and antibiotics, nuclear power – the list goes on – all came from this era.

After about the 1970s, innovation on this scale slowed down. Computers and communication have been the focus. What we’ve seen more recently has been mostly incremental improvements, with the large exception of smart phones.

This means that we’ve experienced a ton of changes in our virtual world, but surprisingly few in our physical world. For example, travel hasn’t much improved and, in some cases, has even slowed down. The planes we’re primarily using? They were designed half a century ago.

Since the 1960s, our culture has gotten less restless, too. It’s become more bureaucratic. The sixties and seventies ushered in a wave of protests and civil disobedience. But today, people hire protests planners and file for permits. The demands for change are tamer compared to their mid-century counterparts.

This might not sound so bad. We’ve entered a golden age for many of our favorite entertainment options. Americans are generally better off than ever before. But the U.S. economy is less dynamic. We’re stagnating. We’re complacent. What does mean for our economic and cultural future?

Thursday, February 9, 2017

Vì sao Quỹ Clinton gây tranh cãi đến vậy?

được thành lập vào năm 1997, đây là một quỹ từ thiện nhằm hỗ trợ nhiều sáng kiến ​​từ thiện khác nhau, từ phát triển kinh tế ở các vùng nghèo khó của thế giới, tới chống biến đổi khí hậu, cải thiện đời sống của phụ nữ và trẻ em gái, hay cung cấp thuốc men cho những người nhiễm HIV.

nhưng, vì được dẫn dắt bởi một cựu tổng thống và một người được hy vọng sẽ được bầu làm tổng thống -> các nhà tài trợ dường như hy vọng có thể tiếp cận được các hành lang quyền lực chính trị thông qua những khoản đóng góp của họ.

Trong 15 năm qua, Quỹ Clinton đã quyên được một số tiền đáng kinh ngạc, lên gần 2 tỷ USD, từ những tập đoàn lớn, các chính phủ nước ngoài, các nhà tài trợ chính trị, các ngân hàng và tổ chức tài chính, từ các công ty dược và các nhóm lợi ích đặc biệt khác. Và, có lẽ các nhà tài trợ gây tranh cãi nhất của Quỹ chính là các chính phủ nước ngoài hoặc các tổ chức nước ngoài khác, chẳng hạn như các chính phủ Oman và Kuwait, vốn theo luật định không được phép đóng góp bất kỳ khoản tài trợ nào cho các chính trị gia Mỹ đang tranh cử.

Saturday, January 21, 2017

Vì sao việc làm ngành chế tạo kiểu cũ sẽ không quay lại phương Tây?

khi các chính trị gia nói về ngành chế tạo, họ có xu hướng nói về các dây chuyền sản xuất: lắp ráp các bộ phận vào ô tô, máy giặt hay máy bay, hoạt động vốn tạo ra ít giá trị gia tăng hơn trước đây. Ngày nay, chính các quá trình đi cùng việc lắp ráp – như thiết kế, quản lý chuỗi cung ứng, và dịch vụ – mới mang lại giá trị gia tăng. Chế tạo, và các công việc trong ngành chế tạo, đã thay đổi theo những cách mà theo đó các công việc cũ sẽ không bao giờ quay trở lại các nước giàu.

Between the 1840s and the 1960s in Britain, manufacturing’s share of employment hovered at around a third; today official data show around one in ten workers is involved in manufacturing. In the late 1940s in America, it accounted for one in three non-farm jobs. Today’s figure is just one in 11.

...cách mà các số liệu chính thức được tính toán hàm nghĩa rằng sự sụt giảm của ngành chế tạo đã bị phóng đại. Một số quy trình từng được gắn chặt với nhau thì bây giờ được dàn trải ra trên khắp thế giới. Các công ty chế tạo ngày càng sử dụng nhiều các công ty khác để thực hiện những công việc như tiếp thị hay kế toán. Nhiều khía cạnh của nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế sản phẩm và thử nghiệm kỹ thuật hiện nay được thực hiện bởi các công ty riêng biệt, cùng với rất nhiều các dịch vụ kế toán, hậu cần, vệ sinh, quản lý nhân sự và công nghệ thông tin.

...Trong tương lai, các nhà cung cấp dịch vụ sẽ thâm nhập thậm chí sâu hơn nữa vào lãnh địa của các nhà chế tạo, thậm chí là các nhà chế tạo sẽ xem bản thân mình ngày càng giống như các nhà bán hàng dịch vụ. Máy móc công nghiệp và hàng hóa mà họ tạo ra đang ngày càng được đóng gói với các bộ cảm biến kết nối internet. Do đó, các nhà chế tạo có thể thu thập dữ liệu về việc máy móc của họ hoạt động như thế nào trên thế giới. Sự am hiểu về các sản phẩm và các dữ liệu mà chúng tạo ra giúp họ biến hàng hóa trở thành dịch vụ.

kết luận: Advanced manufacturing provides good jobs but they need skill and adaptability. Improved education to ensure that engineers and techies are in good supply is required, as is vocational training, along the lines that Germany uses to support programmes to refurbish the skills of current and former workers. Simply threatening companies that seek to move jobs overseas, as Mr Trump has done, will not help. Using tariffs to disrupt the complex cross-border supply chains on which manufacturers rely, as he has suggested doing, would damage the sector he purports to champion. Clamping down on migrants who have skills that manufacturers cannot find at home will do further harm. And policies that favour production-line workers over investment in automation will end up making domestic industry less competitive.

Monday, December 19, 2016

Dưới sự dẫn dắt của Rex Tillerson, Exxon Mobil đã tạo nên con đường riêng ra thế giới

Tác giả: Ben Hubbard, Dionne Searcey và Nicholas Casey
Ngày 13 tháng 12 năm 2016.

Tổng thống Vladimir V. Putin của Nga trao tặng huy chương cho ông Rex W. Tillerson, Tổng giám đốc điều hành của Exxon Mobil, vào năm 2012 tại St. Petersburg. Photo credit Mikhail Klimentyev (NYTimes).

Trong tình hình cố gắng không để Iraq tan rã, các nhà ngoại giao Mỹ đã thúc đẩy một đạo luật vào năm 2011 để phân chia nguồn tài nguyên dầu mỏ của nước này giữa các vùng khó kiểm soát.


Dưới sự dẫn dắt của Tổng giám đốc điều hành tập đoàn, ông Rex W. Tillerson, người khổng lồ về dầu khí này đã bỏ qua Baghdad và Washington và ký kết một thỏa thuận trực tiếp với chính quyền người Kurd ở phía bắc Iraq. Động thái này làm suy yếu chính quyền trung ương Iraq, củng cố thêm tham vọng độc lập của người Kurd và đi ngược lại mục tiêu đề ra của Mỹ.

Việc ông Tillerson sẵn sàng ký thỏa thuận bất chấp những hậu quả chính trị đã nói lên rất nhiều về tầm ảnh hưởng của Exxon Mobil. Trong trường hợp Iraq, ông Tillerson và tập đoàn dầu mỏ của ông qua mặt Bộ Ngoại giao, mà giờ đây ông được Tổng thống mới đắc cử Donald J. Trump đề cử làm người đứng đầu Bộ này.

"Họ đầy quyền lực trong khu vực, và họ không hề quan tâm đến những gì Bộ Ngoại giao muốn làm", Jean-François Seznec, một thành viên cao cấp tại Hội đồng Đại Tây Dương, một nhóm nghiên cứu ở Washington, cho hay về những đeo đuổi của Exxon Mobil ở Trung Đông.

Là tập đoàn dầu mỏ lớn nhất của Mỹ, với các hoạt động trên sáu châu lục và giá trị thị trường hơn 390 tỷ USD, Exxon Mobil có thể được coi là một nhà nước nằm trong một nhà nước. Trong khi ông Tillerson chưa bao giờ chính thức là một nhà ngoại giao, ông được cho là đã để lại dấu chân nước Mỹ tại nhiều quốc gia khác hơn bất kỳ ứng cử viên nào trước ông -- với một chương trình làm việc ở nước ngoài mà không phải lúc nào cũng ăn khớp với chương trình nghị sự của chính phủ Mỹ.

Dưới sự dẫn dắt của ông Tillerson, Exxon Mobil đã thực hiện giao dịch làm ăn sinh lợi với các chính phủ áp bức ở châu Phi, đã đụng độ với Trung Quốc và kết bạn với Việt Nam trên lãnh thổ tranh chấp ở Biển Đông, đã rút được kinh nghiệm khó khăn tại Venezuela, và xây dựng mối quan hệ gần gũi với Nga tại thời điểm nghi ngờ giữa Kremlin và phương Tây đang ngày càng sâu sắc.

Ông Trump nhấn mạnh vai trò đặc biệt của ông Tillerson trong việc theo đuổi lợi ích của tập đoàn trên toàn thế giới, và công bố lựa chọn vào hôm thứ ba bằng cách tuyên bố rằng "sự kiên trì, kinh nghiệm rộng rãi và sự hiểu biết sâu sắc về địa chính trị của ông Tillerson khiến cho ông này là một sự lựa chọn tuyệt vời cho vị trí Ngoại trưởng."

Nhưng đây là một nhiệm vụ mới đối với ông Tillerson, bởi vì với tư cách là giám đốc điều hành ông đã nói rõ rằng các lợi ích quốc gia và các ưu tiên ngoại giao không phải là mối quan tâm chính của ông. Ông tập trung vào vấn đề tiếp cận với năng lượng.

"Và nếu chúng tôi có thể làm điều đó, nguồn gốc đến từ đâu không mấy quan trọng gì đối với chúng tôi, miễn là đáng tin cậy," ông cho biết tại Hội đồng Quan hệ đối ngoại trong tháng 6 năm 2012.

Thử thách lớn đầu tiên ở nước ngoài của ông Tillerson được thực hiện ngay sau khi ông trở thành giám đốc điều hành của Exxon Mobil trong năm 2006, khi ông đối đầu trực tiếp với chính phủ Venezuela -- và đã phải chịu hậu quả.

Tập đoàn đã làm ăn tại Venezuela trong nhiều thập kỷ, nhưng sau đó, Tổng thống Hugo Chávez kêu gọi một cuộc cách mạng kiểu xã hội chủ nghĩa để mang lại lợi ích cho người nghèo, đã bắt đầu đàm phán lại các hợp đồng của ngành công nghiệp này. Đến năm 2007, chính phủ Venezuela để mắt đến những dự án liên quan tới những gã khổng lồ ngành công nghiệp dầu lửa như Exxon Mobil, Chevron và Total.

Các tập đoàn nước ngoài đã sớm bắt đầu hợp tác với chính phủ của ông Chavez, nhưng Exxon Mobil và một tập đoàn khác, ConocoPhillips, ngần ngại thay đổi.

"Ngay từ đầu, Exxon đã gửi tín hiệu mạnh mẽ rằng họ sẽ không chịu bị chèn ép, họ sẽ sử dụng tất cả các quyền lợi hợp pháp của mình, và họ sẽ còn cứng rắn hơn", Francisco Monaldi, một nhà tư vấn trước đây cho PDVSA - công ty dầu khí nhà nước Venezuela, cho hay.

Đáp lại, Venezuela quốc hữu hóa tài sản của cả hai tập đoàn. Exxon Mobil đưa Venezuela ra tòa án trọng tài, và nhận được một kết quả đáng thất vọng. Năm 2014, bảy năm sau khi tranh chấp bắt đầu, tòa án trọng tài quốc tế của Ngân hàng Thế giới phát hiện thấy điều có lợi cho tập đoàn này, nhưng chỉ trao lại một phần mười giá trị khối tài sản mà Exxon Mobil định giá.

Tập đoàn đã không còn hoạt động tại Venezuela kể từ đó.

"Theo ý kiến của tôi, ông ấy đã cá nhân hóa vấn đề với Chávez," Ghassan Dagher, nhà tư vấn ngành công nghiệp dầu mỏ của Venezuela cho biết và nói thêm rằng ông Tillerson "hoàn toàn rơi vào bẫy."

Đó là một bài học mà có thể đã giúp ích cho ông Tillerson trong giao dịch với Tổng thống Nga Vladimir V. Putin, ông nói.

"Một khi Exxon kết thúc câu chuyện với ông Chavez, họ nói, ‘Chúng tôi sẽ không mắc phải sai lầm tương tự.’ Đó là lý do vì sao họ trở nên gần gũi với Putin đến vậy."

Ông Tillerson đã thành công dẫn dắt tập đoàn của mình qua các lộn xộn chính trị của ngành kinh doanh dầu khí ở Nga.

Các nhà điều hành của Exxon Mobil cho biết ông Tillerson không thể thực hiện cuộc phỏng vấn. Nhưng họ cho hay ông Tillerson và ông Putin không phải là bạn, phản bác lại chỉ trích trong nước Mỹ cho rằng ông Tillerson quá thân thiết với Nga nên không thể có một lập trường mạnh mẽ chống lại Nga. Ông Putin đã trao tặng ông Tillerson huân chương hữu nghị cho việc ký kết những giao dịch kinh doanh ở Nga.

Không lâu sau đó, Mỹ đã áp đặt lệnh trừng phạt ngành công nghiệp dầu mỏ của Nga vào năm 2014 do sự can thiệp nguy hiểm của Moscow ở Ukraine, dẫn tới việc chính sách đối ngoại của Mỹ và mục tiêu đầu tư của tập đoàn bị lệch nhau. Exxon Mobil hiện tại có hàng tỷ USD trong các giao dịch mà sẽ chỉ có thể được tiếp tục thực hiện một khi lệnh trừng phạt được dỡ bỏ.

Một số quan chức và giám đốc điều hành cho rằng cách tiếp cận với tư duy kinh doanh của ông Tillerson đối với Nga có thể giảm bớt tình hình căng thẳng, quan điểm này bị nhiều nhà ngoại giao, các nhóm nhân quyền và những người ủng hộ giải trừ quân bị nghi ngờ.

Yuri Ushakov, cố vấn chính sách đối ngoại của ông Putin, đã dành lời khen ngợi cho ông Tillerson, và cho hay nước Nga đã sẵn sàng tìm cách giải quyết "tình trạng vô lý" giữa hai cường quốc. "Chúng tôi muốn thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng này," ông nói.

Ở Tây Phi, Exxon Mobil đã thực hiện những hợp đồng béo bở với chính phủ của Equatorial Guinea, chính phủ này tùy tiện bắt giữ và tra tấn các nhà phê bình, coi thường các cuộc bầu cử, và đã phải đối mặt với công tố quốc tế cho việc sử dụng lợi nhuận từ dầu khí để làm giàu cho cá nhân gia đình tổng thống.

Tutu Alicante, giám đốc của cơ quan giám sát EG Justice, cho biết bằng cách kinh doanh tại Equatorial Guinea, Exxon Mobil là đồng lõa củng cố cho Tổng thống Teodoro Obiang Nguema Mbasogo -- một lãnh đạo chính trị quyền lực đã giữ chức vụ kể từ năm 1979.

"Exxon chắc chắn đã giúp củng cố một chính phủ mà ngày trước vốn rất hà khắc nhưng không có đủ nguồn lực để giữ quyền lực," ông Alicante nói.

Đối với việc lựa chọn ông Tillerson làm Ngoại trưởng, ông nói thêm, "Đối với bất kỳ ai quan tâm đến tính minh bạch trong ngành công nghiệp khai khoáng, đây là một lựa chọn khủng khiếp."

Ông Obiang và gia đình ông đã phải đối mặt với cuộc điều tra tại Mỹ và các nơi khác cho việc sử dụng phi pháp hàng trăm triệu đô la từ ngân quỹ Equatorial Guinea để mua bất động sản tại Malibu và Paris, cùng với những bức tượng Michael Jackson cỡ người thật.

Con trai của vị tổng thống này đang bị điều tra vì hoạt động rửa tiền tại Pháp và Thụy Sĩ, nơi mà các cơ quan chức năng thu giữ 11 chiếc xe sang trọng bao gồm một chiếc Bugatti Veyron trị giá khoảng 2 triệu USD.

Hầu hết dân số của Equatorial Guinea sống dưới một đô-la một ngày.

Tài liệu ghi nhận những hoạt động đáng nghi vấn tại Equatorial Guinea bắt đầu trước khi ông Tillerson nhậm chức Tổng giám đốc điều hành.

Năm 2004, một tiểu ban Thượng viện Mỹ đã xác định được một ngân hàng ở Washington, nơi Exxon Mobil và các công ty dầu khí khác gửi hàng trăm triệu đô-la tiền nợ Equatorial Guinea cho các hoạt động tại đó. Báo cáo của tiểu ban cho thấy rằng nguồn tiền kể trên đi tới gia đình tổng thống.

"Chính phủ đã sử dụng tài nguyên dầu mỏ của đất nước như một máy ATM cá nhân, theo nghĩa đen", ông Arvind Ganesan, giám đốc Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho biết.

Hành vi như vậy vẫn tiếp tục, ông nói thêm.

Nhưng Alan Jeffers, phát ngôn viên của Exxon Mobil, cho biết khi giao dịch với các quốc gia có tiền sử tham nhũng, công ty đã cẩn thận tuân thủ Đạo luật chống tham nhũng ở nước ngoài của Mỹ, trong đó nghiêm cấm hối lộ quan chức nước ngoài để kinh doanh.

"Chúng tôi là một công ty tuân thủ pháp luật", ông Jeffers nói. "Khi không có điều luật ngăn cấm điều gì đó, chúng tôi sẽ đánh giá vấn đề trên cơ sở từng trường hợp kinh doanh."

Tập đoàn đã nhận được cả khen ngợi lẫn chỉ trích ở Nigeria, nước sản xuất dầu lớn nhất châu Phi.

Khi Exxon, tiền thân của Exxon Mobil, mua lại hoạt động của Mobil tại Nigeria vào cuối năm 1990, tập đoàn đã có công khi sửa đổi những hành vi xấu bao gồm hối lộ và quản lý cẩu thả, Matthew Page, một nhà tư vấn gần đây đã trở thành chuyên gia hàng đầu của Bộ Ngoại giao về Nigeria cho hay. "Họ đến với một nền văn hóa quản lý cứng rắn hơn, bài bản hơn và hoàn toàn làm sạch hoạt động của Mobil tại đó", ông nói.

Gần đây hơn, trong nhiệm kỳ của ông Tillerson, công trình ngoài khơi Exxon Mobil đã bị tấn công bởi các chiến binh vùng châu thổ sông Niger vốn cho rằng tài nguyên dầu mỏ của quốc gia chủ yếu đem lại lợi ích cho một nhóm nhỏ giới thượng lưu ở Nigeria, do đó gây thiệt hại sâu rộng về môi trường như sự cố tràn dầu.

Tập đoàn cho biết phải coi trọng việc bảo vệ môi trường, kể cả ở những nơi có quy định và thực thi pháp luật yếu kém.

"Chúng tôi sẽ áp đặt các tiêu chuẩn môi trường đối với hoạt động của chính mình cho dù pháp luật không nhất thiết yêu cầu," ông Jeffers nói.
"Đó là hành vi tốt với tư cách là một công ty có trách nhiệm."

Ông Page cho biết kinh nghiệm của ông Tillerson trong giao dịch đàm phán trên thế giới sẽ giúp ông trong vai trò nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ.

"Exxon có tiếng là không nhân nhượng trong các cuộc đàm phán ở các nước khác, và Tillerson là một chuyên gia", ông nói. "Ông ấy sẽ bay vòng quanh thế giới đàm phán các giao dịch với những người đứng đầu các quốc gia nước ngoài. Từ góc nhìn đó, ông ấy sinh ra để làm Ngoại trưởng."

Tuy nhiên, dưới thời ông Tillerson, Exxon Mobil cũng bị chỉ trích vì sự thiếu minh bạch trong các giao dịch với chính phủ Nigeria. Ủy ban Tội phạm Kinh tế và Tài chính của quốc gia này đang điều tra một thỏa thuận cấp lại giấy phép năm 2009 cho Exxon Mobil, sau cáo buộc rằng tập đoàn đã bị một đối thủ cạnh tranh của Trung Quốc trả giá thầu cao hơn rất nhiều. Các nhà phê bình cho rằng thỏa thuận này đã được thực hiện bất hợp pháp.

"Họ đã thực hiện một quá trình cấp lại giấy phép đầy tham nhũng và không rõ ràng," Olanrewaju Suraju, chủ tịch của Mạng xã hội Dân sự Chống Tham nhũng ở Nigeria, nói về chính phủ Nigeria đang cầm quyền vào thời điểm đó.

Một số nhà phân tích cho rằng, Exxon Mobil có một mục tiêu duy nhất ở nước ngoài.

"Một trong những xu hướng rõ ràng xuyên suốt chính sách đối ngoại của Exxon đó là họ hoàn toàn chỉ vì kinh doanh và thực hiện những gì tốt nhất cho các cổ đông," Ben Van Heuvelen, biên tập viên quản lý của Báo cáo Dầu khí Iraq cho biết. "Họ sẵn sàng tìm kiếm cách khác khi đối mặt với một loạt vấn đề."

Nhưng Robert M. Gates, người từng là bộ trưởng quốc phòng dưới thời Tổng thống Obama và Tổng thống Mỹ George W. Bush, cho biết ông đã tiến cử ông Tillerson cho ông Trump. Ông Gates, người có công ty tư vấn đại diện cho Exxon Mobil, cho biết ông Tillerson thừa khả năng làm nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ: "Tôi cho rằng Rex là một người thực tế có đôi mắt cứng rắn, và tôi nghĩ ông ấy hoàn toàn sẽ đặt lợi ích của Mỹ lên hàng đầu trong bất kỳ đàm phán nào."

Quỳnh Anh
NYTimes