Journey in Life: economics
Showing posts with label economics. Show all posts
Showing posts with label economics. Show all posts

Tuesday, April 11, 2017

Kẻ phá bĩnh thị trường ôtô



Ride-hailing apps such as Uber, Ola and Lyft are not only challenging taxi drivers around the world, they are also disrupting the car industry as a whole as people prefer to hail a ride than buy their own set of wheels.

Monday, April 10, 2017

Kẻ phá bĩnh thị trường dầu khí



Pressure to reduce carbon emissions is putting the future of fossil fuel giants in jeopardy. Their survival plans involve carbon storage and floating wind farms. Meanwhile, one small German village is showing how large companies aren't always essential.

Sunday, April 9, 2017

Tài nguyên cát: sự thiếu hụt không ngờ ở cấp độ toàn cầu

Camel ride in the Thar desert near Jaisalmer, India. Photo courtesy vil.sandi.

Nhờ hoạt động xây dựng bùng nổ ở châu Á, cát đang có nhu cầu cao.

“Cát tặc” Ấn Độ đang làm ăn phát đạt. Tờ Times of India ước tính rằng thị trường cát bất hợp pháp trị giá khoảng 150 tỷ rupee (2,3 tỷ USD) một năm; chỉ riêng một khu khai thác ở Tamil Nadu, 50.000 xe tải cát được khai thác mỗi ngày và buôn lậu sang các bang lân cận. Các băng nhóm trên khắp đất nước thường xuyên sử dụng bạo lực, tranh giành thu lợi nhuận từ sự bùng nổ xây dựng.

Phần lớn nền kinh tế toàn cầu hiện đại phụ thuộc vào cát. Hầu hết cát được đổ vào ngành công nghiệp xây dựng, nơi cát được sử dụng để làm bê tông và nhựa đường. Một số lượng cát mịn nhỏ hơn được sử dụng để sản xuất thủy tinh và thiết bị điện tử, và, đặc biệt ở Mỹ, để khai thác dầu từ đá phiến dầu trong ngành công nghiệp fracking (ngành khai thác thủy lực). Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi cát và sỏi là những vật liệu được khai thác nhiều nhất trên thế giới. Một báo cáo năm 2014 do Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) ước tính, mỗi năm, cát và sỏi chiếm đến 85% trọng lượng của tất cả sản phẩm khai mỏ trên toàn cầu.

Với việc ngành xây dựng nhà cửa ở phương Tây vẫn chưa hoàn toàn hồi phục sau cuộc khủng hoảng 2007-2008, châu Á đã và đang là nguồn cầu chính đối với cát, lớn hơn nhiều so với phương Tây. Số liệu từ công ty nghiên cứu thị trường Freedonia cho thấy, trong 13,7 tỷ tấn cát được khai thác trên toàn thế giới để phục vụ xây dựng vào năm ngoái, 70% được sử dụng ở châu Á. Chỉ riêng ở Trung Quốc đã sử dụng một nửa trong số này, khi chính phủ nước này ước tính rằng họ đã xây dựng 32,3 triệu ngôi nhà và 4,5 triệu km đường từ năm 2011 đến năm 2015.

Cát cũng thường được dùng để tạo nền móng cho chính việc xây dựng. Nhờ đổ một số lượng lớn cát xuống biển, ngày nay, diện tích của Singapore đã rộng ra hơn 20% so với thời điểm nước này độc lập vào năm 1965. Trung Quốc và Nhật Bản đã lấn biển với những vùng đất còn rộng lớn hơn thế, và Trung Quốc đã khiến cộng đồng quốc tế bức xúc khi xây dựng các đảo nhân tạo trên các bãi đá tranh chấp ở Biển Đông. Ở những nơi khác, việc lấn biển lại là sự cần thiết không mong muốn: Maldives và Kiribati phải đối phó với mực nước biển dâng bằng cách lấy cát từ các đảo nhỏ hơn hoặc dưới đáy biển để đắp lên những đảo lớn hơn. Khi mực nước biển dâng cao hơn nữa, và dân cư đô thị phình to ra—Liên Hợp Quốc dự đoán sẽ tăng gần 1 tỷ người vào năm 2030— người ta sẽ lùng sục cát thậm chí còn nhiều hơn.

Cát có vẻ như rất dồi dào, nhưng là trên thực tế, nó đang trở nên khan hiếm. Không phải tất cả các loại cát đều hữu ích: cát sa mạc quá mịn nên không thể dùng cho hầu hết các mục đích thương mại. Các vùng cát dự trữ cũng cần phải nằm ở gần địa điểm xây dựng; vì chi phí vận chuyển rất cao so với giá nên việc vận chuyển cát đi xa là không kinh tế. Tuy nhiên, điều này không thể ngăn cản các quốc gia có nguồn tài nguyên trong nước hạn chế (và rủng rỉnh về tài chính). Singapore và Qatar là các nhà nhập khẩu lớn; tòa nhà chọc trời Burj Khalifa ở Dubai được xây dựng bằng cát nhập khẩu từ Úc.

Cát đang được khai thác với tốc độ lớn hơn nhiều so với khả năng tái tạo trong tự nhiên, và sự suy giảm trữ lượng cát hiện đang làm tổn hại đến môi trường. Việc nạo vét cát ở sông và biển làm ô nhiễm môi trường sống tự nhiên, ảnh hưởng đến ngành công nghiệp đánh bắt cá và trồng trọt ở địa phương. Việc khai thác cát ở hồ Poyang, Trung Quốc— UNEP tính toán rằng đây có thể là khu khai thác cát lớn nhất thế giới—được cho là đã khiến mực nước hạ thấp. Các bãi biển ở Morocco và Caribbean đã bị nạo sạch cát, làm giảm khả năng hấp thụ nước khi thời tiết có bão. Một báo cáo gần đây về các vấn đề môi trường đang nổi lên của một nhóm nhà khoa học, đứng đầu là William Sutherland tại Đại học Cambridge, chỉ ra rằng những rủi ro đó sẽ chỉ gia tăng khi tình trạng khan hiếm cát tồi tệ hơn.

Ở phương Tây, những lo ngại như vậy đã dẫn đến việc hạn chế những nơi có thể khai thác cát. Ví dụ, ở Mỹ, việc khai thác cát xa bờ hoặc gần khu dân cư lớn bị hạn chế. Các quy định cũng đã được đưa ra tại nhiều nước đang phát triển. Việc các bờ biển cứ mỏng dần và một số hòn đảo biến mất hoàn toàn, đã khiến Indonesia và Malaysia cấm xuất khẩu cát sang Singapore. Myanmar đã cấm khai thác cát trên một số bờ biển, Campuchia và Việt Nam đưa ra những hạn chế việc xuất khẩu.

Trái ý muốn
Nhưng các quy định không phải luôn luôn được thực thi. Ông Sumaira Abdulali thuộc quỹ Awaaz Foundation, một tổ chức từ thiện ở Mumbai, cho rằng các quan chức Ấn Độ có nhiệm vụ giám sát việc khai mỏ thường bị đe dọa bởi bọn “cát tặc”; ngay cả khi các băng nhóm có giấy phép, chúng thường khai thác vượt quá giới hạn cho phép mà không hề bị phạt. Nhà nước không có nhiều nỗ lực theo dõi việc buôn bán cát, vì vậy cát khai thác bất hợp pháp có thể được giao dịch tương đối dễ dàng. UNEP ước tính rằng một nửa số cát được sử dụng trong xây dựng và công nghiệp ở Morocco có nguồn gốc từ khai thác ven biển bất hợp pháp. Trớ trêu thay, những bãi biển đang bị nạo sạch cát để giúp xây dựng các cơ sở hạ tầng du lịch. Tại Campuchia, các tổ chức từ thiện cáo buộc rằng việc xuất khẩu cát sang Singapore đã không được báo cáo đầy đủ một cách có hệ thống để che đậy việc khai thác mỏ bất hợp pháp. (Tháng 11, chính phủ Campuchia phản ứng bằng cách ngưng tất cả việc xuất khẩu cát.)

Trên thực tế, hoàn toàn có sản phẩm thay thế cát. Bùn có thể được sử dụng cho việc khai hoang lấn biển, rơm và gỗ để xây dựng nhà ở, và bột đá để làm bê tông. Nhựa đường và bê tông có thể được tái chế. Ông Zoe Biller thuộc công ty nghiên cứu Freedonia cho rằng quy trình sản xuất sẽ chuyển sang sử dụng những lựa chọn thay thế này khi giá cát tăng lên. Ở một số nước giàu, sự thay đổi này đã được tiến hành, và được khuyến khích bởi chính sách của chính phủ. Theo Hiệp hội Sản phẩm khoáng của Anh, 28% vật liệu xây dựng sử dụng ở Anh vào năm 2014 đã được tái chế. Kế hoạch tái chế 75% thủy tinh vào năm 2025 của châu Âu sẽ làm giảm nhu cầu sử dụng cát công nghiệp. Singapore có kế hoạch dựa vào các chuyên gia người Hà Lan cho dự án khai hoang lấn biến tiếp theo của mình. Sử dụng hệ thống đê điều và máy bơm, nước này sẽ ít phụ thuộc hơn vào cát.

Việc nhu cầu của Singapore giảm đi có thể sẽ không khuyến khích việc khai thác bất hợp pháp ở các nước lân cận. Giá cả tăng cao cuối cùng sẽ buộc các nhà xây dựng ở các nước đang phát triển phải tìm những lựa chọn thay thế cát. Nhưng nếu việc thực thi pháp luật không được cải thiện, giá cát cao cũng làm cho việc khai thác bất hợp pháp hấp dẫn hơn. Bất chấp những hậu quả tai hại, bọn cát tặc sẽ tiếp tục cào bới cát trong một thời gian nữa.

Tuấn Minh
The Economist

Wednesday, April 5, 2017

Tái khởi động vĩ đại



Economic progress is not continual and inevitable. It can be disrupted with short downturns and, as we’ve seen in this series, periods of stasis. If we continue on this trajectory, there is the possibility of a “great reset” and there are some strong indicators that it’s already underway.

Let’s think of these indicators as “canaries in the coal mine.” Miners used to take canaries with them to provide an alarm when levels of toxic gases were too high. The birds were much more susceptible to the gases and would show signs of distress – or even die – before the miners were in grave danger.

During the Great Recession, subprime borrowers acted as the canaries. Poor credit and lower incomes made them the most susceptible to trouble in the larger financial system, and they showed signs of distress first – missed payments and foreclosures. The whole system was cracking up, but we saw it here first.

Where are the possible canaries today? The Ferguson and Baltimore riots suggest stress on America’s race relations and inner cities. Millions of men of prime working age are missing from the U.S. labor force. And what about the 2016 election? Trump’s political rise indicated serious discontent among millions of American voters, but elite political commentators, up until the very end, did not see Donald Trump becoming president.

If we look at these events as connecting the dots between stresses on the American economy, we can see some commonalities – namely, a loss of trust. People are losing trust in American institutions. Wage growth is sluggish, people are experiencing more socioeconomic segregation, and politics have us increasingly divided.

What happens if the U.S. faces a crisis? Can we respond to huge job loss from unforeseen automation? What about a foreign policy crisis, or infrastructure collapse? The American economy, with its current loss of dynamism and innovation, would have trouble responding to any sudden crisis. The federal government, with so much revenue already tied-up, would as well.

If we stay on the course of complacency, a great reset is very possible and it won’t be pleasant. But it’s not all doom and gloom. In the longer run, such a crisis could reinvigorate the American pioneer spirit, putting the U.S. back on a path of economic dynamism and growth.

Người mất tích ở Mỹ



We’re going to paint a not-so-pretty picture of the current U.S. labor force: Millions of working age (25-54) American men do not have jobs and, because they are not actively seeking work, do not count towards our primary unemployment statistic. Many of these men are living at home with their parents. They are not attending school. They are not stay-at-home dads. In fact, much of their time is going towards leisure activities such as watching television and playing video games. Almost half are on painkillers.

To be clear, this picture does not apply to every working age male without current employment, but it is accurate for a disturbingly high percentage.

If we look specifically at men without a college degree and job who are in their twenties, we find that in 2000, less than 10% had not worked at all in the past year. 15 years later, that number had more than doubled to 22%.

As of 2015, an estimated 5.5 million prime-age men (25-54) were neither working nor enrolled in school – the equivalent of the combined populations of Dallas, Philadelphia, and Chicago. It’s a worrisome trend for the economy and there’s no clear-cut answer as to why it’s happening.

Up next, we’ll discuss the possible “great reset” on the United States’ economic horizon and whether the missing men phenomenon could be a driving force.

Wednesday, March 22, 2017

Sự ngưng trệ của nước Mỹ



Disruption. This is the big buzzword when it comes to startups and Silicon Valley. Many of the top tech businesses today have caused major disruptions in their industries – from Uber, to Airbnb, and even Facebook, these tech giants are changing the game. However, if we peer outside of this small window, the narrative of fast-paced innovation and a rapid rise in startups falters.

In fact, the rate of startups forming has trended lower and lower beginning in the 1980s. Younger firms are also less likely to become successes than they have been in the past. Outside the sphere of the few highly-visible companies that have made strides in improving our standard of living, the U.S. economy is stagnating.

Lots of older firms with a lower rate of new ones starting up means fewer jobs are being created and destroyed. Established firms are enjoying a larger share of the market. Giants are sitting on their piles of cash, and sometimes acquiring other large firms, instead of investing in new ideas. This lack of dynamism shows in productivity growth, which has mostly been on the decline since 1973.

For employment, fewer young firms means less job mobility. People are, again contrary to the usual narrative, staying in the same jobs for longer than ever before. And that slowdown in productivity growth shows up in places like real wages. In fact, if the U.S. had continued at pre-1973 productivity growth, the median American household income would be about $30,000 higher.

Finally, U.S. federal revenue is increasingly on auto pilot. In 1962, roughly 65% of federal revenue fell under “fiscal discretion,” allowing for new allocations each year. Today, the vast majority of federal revenue is wrapped up in predetermined spending like debt, Medicaid, social security, and Medicare. By 2022, less than 10% of U.S. federal revenue might be considered discretionary.

All of these factors lead to a more “boxed in,” less flexible, less dynamic economy. This is not an advantageous position – living standards are increasing more slowly, sowing seeds of discontent, and it’s difficult for a federal government with little discretionary spending to respond to a crisis.

In upcoming videos, we’ll look at some of the discontent currently happening in the U.S. and what might happen if a crisis were to occur and our lives were to be truly disrupted during this time of economic stagnation.

Kỷ nguyên mới của sự phân biệt



Do you live in a “bubble?” There’s a good chance that the answer is, at least in part, a resounding “Yes.”

In our algorithm-driven world, digital servants cater to our individual preferences like never before. This has caused many improvements to our daily lives. For example, instead of gathering the kids together for a frustrating Blockbuster trip to pick out a VHS for family movie night, you can simply scroll through kid-friendly titles on Netflix that have been narrowed down based on your family’s previous viewing history. Not so bad.

But this algorithmic matching isn’t limited to entertainment choices. We’re also getting matched to spouses of a similar education level and earning potential. More productive workers are able to get easily matched to more productive firms. On the individual level, this is all very good. Our digital servants are helping us find better matches and improving our lives.

What about at the macro level? All of this matching can also produce more segregation – but on a much broader level than just racial segregation. People with similar income and education levels, and who do similar types of work, are more likely to cluster into their own little bubbles. This matching has consequences, and they’re not all virtual.

Power couples and highly productive workers are concentrating in metropolises like New York City and San Francisco. With many high earners, lots of housing demand, and strict building codes, rents in these types of cities are skyrocketing. People with lower incomes simply can no longer afford the cost of living, so they leave. New people with lower incomes also aren’t coming in, so we end up with a type of self-reinforcing segregation.

If you think back to the 2016 U.S. election, you’ll remember that most political commentators, who tend to reside in trendy large cities, were completely shocked by the rise of Donald Trump. What part did our new segregation play in their inability to understand what was happening in middle America?

In terms of racial segregation, there are worrying trends. The variety and level of racism of we’ve seen in the past may be on the decline, but the data show less residential racial mixing among whites and minorities.

Why does this matter? For a dynamic economy, mixing a wide variety of people in everyday life is crucial for the development of ideas and upward mobility. If matching is preventing mixing, we have to start making intentional changes to improve socio-economic integration and bring dynamism back into the American economy.

Bài trước: Giới tự mãn

Giới tự mãn



Restlessness has long been seen as a signature trait of what it means to be American. We've been willing to cross great distances, take big risks, and adapt to change in way that has produced a dynamic economy. From Ben Franklin to Steve Jobs, innovation has been firmly rooted in American DNA.

What if that's no longer true?

Let’s take a journey back to the 19th century – specifically, the Chicago World’s Fair of 1893. At that massive event, people got to do things like ride a ferris wheel, go on a moving sidewalk, see a dishwasher, see electric light, or even try modern chewing gum for the very first time. More than a third of the entire U.S. population at that time attended. And remember, this was 1893 when travel was much more difficult and costly.

Fairs that shortly followed Chicago included new inventions and novelties the telephone, x-ray machine, hot dogs, and ice cream cones.

These earlier years of American innovation were filled with rapid improvement in a huge array of industries. Railroads, electricity, telephones, radio, reliable clean water, television, cars, airplanes, vaccines and antibiotics, nuclear power – the list goes on – all came from this era.

After about the 1970s, innovation on this scale slowed down. Computers and communication have been the focus. What we’ve seen more recently has been mostly incremental improvements, with the large exception of smart phones.

This means that we’ve experienced a ton of changes in our virtual world, but surprisingly few in our physical world. For example, travel hasn’t much improved and, in some cases, has even slowed down. The planes we’re primarily using? They were designed half a century ago.

Since the 1960s, our culture has gotten less restless, too. It’s become more bureaucratic. The sixties and seventies ushered in a wave of protests and civil disobedience. But today, people hire protests planners and file for permits. The demands for change are tamer compared to their mid-century counterparts.

This might not sound so bad. We’ve entered a golden age for many of our favorite entertainment options. Americans are generally better off than ever before. But the U.S. economy is less dynamic. We’re stagnating. We’re complacent. What does mean for our economic and cultural future?

Thursday, February 9, 2017

Vì sao Quỹ Clinton gây tranh cãi đến vậy?

được thành lập vào năm 1997, đây là một quỹ từ thiện nhằm hỗ trợ nhiều sáng kiến ​​từ thiện khác nhau, từ phát triển kinh tế ở các vùng nghèo khó của thế giới, tới chống biến đổi khí hậu, cải thiện đời sống của phụ nữ và trẻ em gái, hay cung cấp thuốc men cho những người nhiễm HIV.

nhưng, vì được dẫn dắt bởi một cựu tổng thống và một người được hy vọng sẽ được bầu làm tổng thống -> các nhà tài trợ dường như hy vọng có thể tiếp cận được các hành lang quyền lực chính trị thông qua những khoản đóng góp của họ.

Trong 15 năm qua, Quỹ Clinton đã quyên được một số tiền đáng kinh ngạc, lên gần 2 tỷ USD, từ những tập đoàn lớn, các chính phủ nước ngoài, các nhà tài trợ chính trị, các ngân hàng và tổ chức tài chính, từ các công ty dược và các nhóm lợi ích đặc biệt khác. Và, có lẽ các nhà tài trợ gây tranh cãi nhất của Quỹ chính là các chính phủ nước ngoài hoặc các tổ chức nước ngoài khác, chẳng hạn như các chính phủ Oman và Kuwait, vốn theo luật định không được phép đóng góp bất kỳ khoản tài trợ nào cho các chính trị gia Mỹ đang tranh cử.

Saturday, January 21, 2017

Vì sao việc làm ngành chế tạo kiểu cũ sẽ không quay lại phương Tây?

khi các chính trị gia nói về ngành chế tạo, họ có xu hướng nói về các dây chuyền sản xuất: lắp ráp các bộ phận vào ô tô, máy giặt hay máy bay, hoạt động vốn tạo ra ít giá trị gia tăng hơn trước đây. Ngày nay, chính các quá trình đi cùng việc lắp ráp – như thiết kế, quản lý chuỗi cung ứng, và dịch vụ – mới mang lại giá trị gia tăng. Chế tạo, và các công việc trong ngành chế tạo, đã thay đổi theo những cách mà theo đó các công việc cũ sẽ không bao giờ quay trở lại các nước giàu.

Between the 1840s and the 1960s in Britain, manufacturing’s share of employment hovered at around a third; today official data show around one in ten workers is involved in manufacturing. In the late 1940s in America, it accounted for one in three non-farm jobs. Today’s figure is just one in 11.

...cách mà các số liệu chính thức được tính toán hàm nghĩa rằng sự sụt giảm của ngành chế tạo đã bị phóng đại. Một số quy trình từng được gắn chặt với nhau thì bây giờ được dàn trải ra trên khắp thế giới. Các công ty chế tạo ngày càng sử dụng nhiều các công ty khác để thực hiện những công việc như tiếp thị hay kế toán. Nhiều khía cạnh của nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế sản phẩm và thử nghiệm kỹ thuật hiện nay được thực hiện bởi các công ty riêng biệt, cùng với rất nhiều các dịch vụ kế toán, hậu cần, vệ sinh, quản lý nhân sự và công nghệ thông tin.

...Trong tương lai, các nhà cung cấp dịch vụ sẽ thâm nhập thậm chí sâu hơn nữa vào lãnh địa của các nhà chế tạo, thậm chí là các nhà chế tạo sẽ xem bản thân mình ngày càng giống như các nhà bán hàng dịch vụ. Máy móc công nghiệp và hàng hóa mà họ tạo ra đang ngày càng được đóng gói với các bộ cảm biến kết nối internet. Do đó, các nhà chế tạo có thể thu thập dữ liệu về việc máy móc của họ hoạt động như thế nào trên thế giới. Sự am hiểu về các sản phẩm và các dữ liệu mà chúng tạo ra giúp họ biến hàng hóa trở thành dịch vụ.

kết luận: Advanced manufacturing provides good jobs but they need skill and adaptability. Improved education to ensure that engineers and techies are in good supply is required, as is vocational training, along the lines that Germany uses to support programmes to refurbish the skills of current and former workers. Simply threatening companies that seek to move jobs overseas, as Mr Trump has done, will not help. Using tariffs to disrupt the complex cross-border supply chains on which manufacturers rely, as he has suggested doing, would damage the sector he purports to champion. Clamping down on migrants who have skills that manufacturers cannot find at home will do further harm. And policies that favour production-line workers over investment in automation will end up making domestic industry less competitive.

Monday, December 19, 2016

Dưới sự dẫn dắt của Rex Tillerson, Exxon Mobil đã tạo nên con đường riêng ra thế giới

Tác giả: Ben Hubbard, Dionne Searcey và Nicholas Casey
Ngày 13 tháng 12 năm 2016.

Tổng thống Vladimir V. Putin của Nga trao tặng huy chương cho ông Rex W. Tillerson, Tổng giám đốc điều hành của Exxon Mobil, vào năm 2012 tại St. Petersburg. Photo credit Mikhail Klimentyev (NYTimes).

Trong tình hình cố gắng không để Iraq tan rã, các nhà ngoại giao Mỹ đã thúc đẩy một đạo luật vào năm 2011 để phân chia nguồn tài nguyên dầu mỏ của nước này giữa các vùng khó kiểm soát.


Dưới sự dẫn dắt của Tổng giám đốc điều hành tập đoàn, ông Rex W. Tillerson, người khổng lồ về dầu khí này đã bỏ qua Baghdad và Washington và ký kết một thỏa thuận trực tiếp với chính quyền người Kurd ở phía bắc Iraq. Động thái này làm suy yếu chính quyền trung ương Iraq, củng cố thêm tham vọng độc lập của người Kurd và đi ngược lại mục tiêu đề ra của Mỹ.

Việc ông Tillerson sẵn sàng ký thỏa thuận bất chấp những hậu quả chính trị đã nói lên rất nhiều về tầm ảnh hưởng của Exxon Mobil. Trong trường hợp Iraq, ông Tillerson và tập đoàn dầu mỏ của ông qua mặt Bộ Ngoại giao, mà giờ đây ông được Tổng thống mới đắc cử Donald J. Trump đề cử làm người đứng đầu Bộ này.

"Họ đầy quyền lực trong khu vực, và họ không hề quan tâm đến những gì Bộ Ngoại giao muốn làm", Jean-François Seznec, một thành viên cao cấp tại Hội đồng Đại Tây Dương, một nhóm nghiên cứu ở Washington, cho hay về những đeo đuổi của Exxon Mobil ở Trung Đông.

Là tập đoàn dầu mỏ lớn nhất của Mỹ, với các hoạt động trên sáu châu lục và giá trị thị trường hơn 390 tỷ USD, Exxon Mobil có thể được coi là một nhà nước nằm trong một nhà nước. Trong khi ông Tillerson chưa bao giờ chính thức là một nhà ngoại giao, ông được cho là đã để lại dấu chân nước Mỹ tại nhiều quốc gia khác hơn bất kỳ ứng cử viên nào trước ông -- với một chương trình làm việc ở nước ngoài mà không phải lúc nào cũng ăn khớp với chương trình nghị sự của chính phủ Mỹ.

Dưới sự dẫn dắt của ông Tillerson, Exxon Mobil đã thực hiện giao dịch làm ăn sinh lợi với các chính phủ áp bức ở châu Phi, đã đụng độ với Trung Quốc và kết bạn với Việt Nam trên lãnh thổ tranh chấp ở Biển Đông, đã rút được kinh nghiệm khó khăn tại Venezuela, và xây dựng mối quan hệ gần gũi với Nga tại thời điểm nghi ngờ giữa Kremlin và phương Tây đang ngày càng sâu sắc.

Ông Trump nhấn mạnh vai trò đặc biệt của ông Tillerson trong việc theo đuổi lợi ích của tập đoàn trên toàn thế giới, và công bố lựa chọn vào hôm thứ ba bằng cách tuyên bố rằng "sự kiên trì, kinh nghiệm rộng rãi và sự hiểu biết sâu sắc về địa chính trị của ông Tillerson khiến cho ông này là một sự lựa chọn tuyệt vời cho vị trí Ngoại trưởng."

Nhưng đây là một nhiệm vụ mới đối với ông Tillerson, bởi vì với tư cách là giám đốc điều hành ông đã nói rõ rằng các lợi ích quốc gia và các ưu tiên ngoại giao không phải là mối quan tâm chính của ông. Ông tập trung vào vấn đề tiếp cận với năng lượng.

"Và nếu chúng tôi có thể làm điều đó, nguồn gốc đến từ đâu không mấy quan trọng gì đối với chúng tôi, miễn là đáng tin cậy," ông cho biết tại Hội đồng Quan hệ đối ngoại trong tháng 6 năm 2012.

Thử thách lớn đầu tiên ở nước ngoài của ông Tillerson được thực hiện ngay sau khi ông trở thành giám đốc điều hành của Exxon Mobil trong năm 2006, khi ông đối đầu trực tiếp với chính phủ Venezuela -- và đã phải chịu hậu quả.

Tập đoàn đã làm ăn tại Venezuela trong nhiều thập kỷ, nhưng sau đó, Tổng thống Hugo Chávez kêu gọi một cuộc cách mạng kiểu xã hội chủ nghĩa để mang lại lợi ích cho người nghèo, đã bắt đầu đàm phán lại các hợp đồng của ngành công nghiệp này. Đến năm 2007, chính phủ Venezuela để mắt đến những dự án liên quan tới những gã khổng lồ ngành công nghiệp dầu lửa như Exxon Mobil, Chevron và Total.

Các tập đoàn nước ngoài đã sớm bắt đầu hợp tác với chính phủ của ông Chavez, nhưng Exxon Mobil và một tập đoàn khác, ConocoPhillips, ngần ngại thay đổi.

"Ngay từ đầu, Exxon đã gửi tín hiệu mạnh mẽ rằng họ sẽ không chịu bị chèn ép, họ sẽ sử dụng tất cả các quyền lợi hợp pháp của mình, và họ sẽ còn cứng rắn hơn", Francisco Monaldi, một nhà tư vấn trước đây cho PDVSA - công ty dầu khí nhà nước Venezuela, cho hay.

Đáp lại, Venezuela quốc hữu hóa tài sản của cả hai tập đoàn. Exxon Mobil đưa Venezuela ra tòa án trọng tài, và nhận được một kết quả đáng thất vọng. Năm 2014, bảy năm sau khi tranh chấp bắt đầu, tòa án trọng tài quốc tế của Ngân hàng Thế giới phát hiện thấy điều có lợi cho tập đoàn này, nhưng chỉ trao lại một phần mười giá trị khối tài sản mà Exxon Mobil định giá.

Tập đoàn đã không còn hoạt động tại Venezuela kể từ đó.

"Theo ý kiến của tôi, ông ấy đã cá nhân hóa vấn đề với Chávez," Ghassan Dagher, nhà tư vấn ngành công nghiệp dầu mỏ của Venezuela cho biết và nói thêm rằng ông Tillerson "hoàn toàn rơi vào bẫy."

Đó là một bài học mà có thể đã giúp ích cho ông Tillerson trong giao dịch với Tổng thống Nga Vladimir V. Putin, ông nói.

"Một khi Exxon kết thúc câu chuyện với ông Chavez, họ nói, ‘Chúng tôi sẽ không mắc phải sai lầm tương tự.’ Đó là lý do vì sao họ trở nên gần gũi với Putin đến vậy."

Ông Tillerson đã thành công dẫn dắt tập đoàn của mình qua các lộn xộn chính trị của ngành kinh doanh dầu khí ở Nga.

Các nhà điều hành của Exxon Mobil cho biết ông Tillerson không thể thực hiện cuộc phỏng vấn. Nhưng họ cho hay ông Tillerson và ông Putin không phải là bạn, phản bác lại chỉ trích trong nước Mỹ cho rằng ông Tillerson quá thân thiết với Nga nên không thể có một lập trường mạnh mẽ chống lại Nga. Ông Putin đã trao tặng ông Tillerson huân chương hữu nghị cho việc ký kết những giao dịch kinh doanh ở Nga.

Không lâu sau đó, Mỹ đã áp đặt lệnh trừng phạt ngành công nghiệp dầu mỏ của Nga vào năm 2014 do sự can thiệp nguy hiểm của Moscow ở Ukraine, dẫn tới việc chính sách đối ngoại của Mỹ và mục tiêu đầu tư của tập đoàn bị lệch nhau. Exxon Mobil hiện tại có hàng tỷ USD trong các giao dịch mà sẽ chỉ có thể được tiếp tục thực hiện một khi lệnh trừng phạt được dỡ bỏ.

Một số quan chức và giám đốc điều hành cho rằng cách tiếp cận với tư duy kinh doanh của ông Tillerson đối với Nga có thể giảm bớt tình hình căng thẳng, quan điểm này bị nhiều nhà ngoại giao, các nhóm nhân quyền và những người ủng hộ giải trừ quân bị nghi ngờ.

Yuri Ushakov, cố vấn chính sách đối ngoại của ông Putin, đã dành lời khen ngợi cho ông Tillerson, và cho hay nước Nga đã sẵn sàng tìm cách giải quyết "tình trạng vô lý" giữa hai cường quốc. "Chúng tôi muốn thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng này," ông nói.

Ở Tây Phi, Exxon Mobil đã thực hiện những hợp đồng béo bở với chính phủ của Equatorial Guinea, chính phủ này tùy tiện bắt giữ và tra tấn các nhà phê bình, coi thường các cuộc bầu cử, và đã phải đối mặt với công tố quốc tế cho việc sử dụng lợi nhuận từ dầu khí để làm giàu cho cá nhân gia đình tổng thống.

Tutu Alicante, giám đốc của cơ quan giám sát EG Justice, cho biết bằng cách kinh doanh tại Equatorial Guinea, Exxon Mobil là đồng lõa củng cố cho Tổng thống Teodoro Obiang Nguema Mbasogo -- một lãnh đạo chính trị quyền lực đã giữ chức vụ kể từ năm 1979.

"Exxon chắc chắn đã giúp củng cố một chính phủ mà ngày trước vốn rất hà khắc nhưng không có đủ nguồn lực để giữ quyền lực," ông Alicante nói.

Đối với việc lựa chọn ông Tillerson làm Ngoại trưởng, ông nói thêm, "Đối với bất kỳ ai quan tâm đến tính minh bạch trong ngành công nghiệp khai khoáng, đây là một lựa chọn khủng khiếp."

Ông Obiang và gia đình ông đã phải đối mặt với cuộc điều tra tại Mỹ và các nơi khác cho việc sử dụng phi pháp hàng trăm triệu đô la từ ngân quỹ Equatorial Guinea để mua bất động sản tại Malibu và Paris, cùng với những bức tượng Michael Jackson cỡ người thật.

Con trai của vị tổng thống này đang bị điều tra vì hoạt động rửa tiền tại Pháp và Thụy Sĩ, nơi mà các cơ quan chức năng thu giữ 11 chiếc xe sang trọng bao gồm một chiếc Bugatti Veyron trị giá khoảng 2 triệu USD.

Hầu hết dân số của Equatorial Guinea sống dưới một đô-la một ngày.

Tài liệu ghi nhận những hoạt động đáng nghi vấn tại Equatorial Guinea bắt đầu trước khi ông Tillerson nhậm chức Tổng giám đốc điều hành.

Năm 2004, một tiểu ban Thượng viện Mỹ đã xác định được một ngân hàng ở Washington, nơi Exxon Mobil và các công ty dầu khí khác gửi hàng trăm triệu đô-la tiền nợ Equatorial Guinea cho các hoạt động tại đó. Báo cáo của tiểu ban cho thấy rằng nguồn tiền kể trên đi tới gia đình tổng thống.

"Chính phủ đã sử dụng tài nguyên dầu mỏ của đất nước như một máy ATM cá nhân, theo nghĩa đen", ông Arvind Ganesan, giám đốc Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho biết.

Hành vi như vậy vẫn tiếp tục, ông nói thêm.

Nhưng Alan Jeffers, phát ngôn viên của Exxon Mobil, cho biết khi giao dịch với các quốc gia có tiền sử tham nhũng, công ty đã cẩn thận tuân thủ Đạo luật chống tham nhũng ở nước ngoài của Mỹ, trong đó nghiêm cấm hối lộ quan chức nước ngoài để kinh doanh.

"Chúng tôi là một công ty tuân thủ pháp luật", ông Jeffers nói. "Khi không có điều luật ngăn cấm điều gì đó, chúng tôi sẽ đánh giá vấn đề trên cơ sở từng trường hợp kinh doanh."

Tập đoàn đã nhận được cả khen ngợi lẫn chỉ trích ở Nigeria, nước sản xuất dầu lớn nhất châu Phi.

Khi Exxon, tiền thân của Exxon Mobil, mua lại hoạt động của Mobil tại Nigeria vào cuối năm 1990, tập đoàn đã có công khi sửa đổi những hành vi xấu bao gồm hối lộ và quản lý cẩu thả, Matthew Page, một nhà tư vấn gần đây đã trở thành chuyên gia hàng đầu của Bộ Ngoại giao về Nigeria cho hay. "Họ đến với một nền văn hóa quản lý cứng rắn hơn, bài bản hơn và hoàn toàn làm sạch hoạt động của Mobil tại đó", ông nói.

Gần đây hơn, trong nhiệm kỳ của ông Tillerson, công trình ngoài khơi Exxon Mobil đã bị tấn công bởi các chiến binh vùng châu thổ sông Niger vốn cho rằng tài nguyên dầu mỏ của quốc gia chủ yếu đem lại lợi ích cho một nhóm nhỏ giới thượng lưu ở Nigeria, do đó gây thiệt hại sâu rộng về môi trường như sự cố tràn dầu.

Tập đoàn cho biết phải coi trọng việc bảo vệ môi trường, kể cả ở những nơi có quy định và thực thi pháp luật yếu kém.

"Chúng tôi sẽ áp đặt các tiêu chuẩn môi trường đối với hoạt động của chính mình cho dù pháp luật không nhất thiết yêu cầu," ông Jeffers nói.
"Đó là hành vi tốt với tư cách là một công ty có trách nhiệm."

Ông Page cho biết kinh nghiệm của ông Tillerson trong giao dịch đàm phán trên thế giới sẽ giúp ông trong vai trò nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ.

"Exxon có tiếng là không nhân nhượng trong các cuộc đàm phán ở các nước khác, và Tillerson là một chuyên gia", ông nói. "Ông ấy sẽ bay vòng quanh thế giới đàm phán các giao dịch với những người đứng đầu các quốc gia nước ngoài. Từ góc nhìn đó, ông ấy sinh ra để làm Ngoại trưởng."

Tuy nhiên, dưới thời ông Tillerson, Exxon Mobil cũng bị chỉ trích vì sự thiếu minh bạch trong các giao dịch với chính phủ Nigeria. Ủy ban Tội phạm Kinh tế và Tài chính của quốc gia này đang điều tra một thỏa thuận cấp lại giấy phép năm 2009 cho Exxon Mobil, sau cáo buộc rằng tập đoàn đã bị một đối thủ cạnh tranh của Trung Quốc trả giá thầu cao hơn rất nhiều. Các nhà phê bình cho rằng thỏa thuận này đã được thực hiện bất hợp pháp.

"Họ đã thực hiện một quá trình cấp lại giấy phép đầy tham nhũng và không rõ ràng," Olanrewaju Suraju, chủ tịch của Mạng xã hội Dân sự Chống Tham nhũng ở Nigeria, nói về chính phủ Nigeria đang cầm quyền vào thời điểm đó.

Một số nhà phân tích cho rằng, Exxon Mobil có một mục tiêu duy nhất ở nước ngoài.

"Một trong những xu hướng rõ ràng xuyên suốt chính sách đối ngoại của Exxon đó là họ hoàn toàn chỉ vì kinh doanh và thực hiện những gì tốt nhất cho các cổ đông," Ben Van Heuvelen, biên tập viên quản lý của Báo cáo Dầu khí Iraq cho biết. "Họ sẵn sàng tìm kiếm cách khác khi đối mặt với một loạt vấn đề."

Nhưng Robert M. Gates, người từng là bộ trưởng quốc phòng dưới thời Tổng thống Obama và Tổng thống Mỹ George W. Bush, cho biết ông đã tiến cử ông Tillerson cho ông Trump. Ông Gates, người có công ty tư vấn đại diện cho Exxon Mobil, cho biết ông Tillerson thừa khả năng làm nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ: "Tôi cho rằng Rex là một người thực tế có đôi mắt cứng rắn, và tôi nghĩ ông ấy hoàn toàn sẽ đặt lợi ích của Mỹ lên hàng đầu trong bất kỳ đàm phán nào."

Quỳnh Anh
NYTimes


Sunday, November 20, 2016

Vì sao dân Ấn muốn tẩy chay hàng Tàu?

- vì thâm hụt thương mại:
./ Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ, năm ngoái là 71 tỷ USD; nhưng Trung Quốc cũng là nước khiến Ấn Độ có mức thâm hụt thương mại lớn nhất, tăng 9% lên 53 tỷ USD giai đoạn 2015-2016.
./ Hàng công nghiệp nhẹ của Trung Quốc cạnh tranh trực tiếp và có thành công vượt trội so với các ngành công nghiệp nhỏ của Ấn Độ, huyết mạch trong khu vực sản xuất và nguồn tạo công ăn việc làm của quốc gia này; xuất khẩu của Ấn Độ sang Trung Quốc chủ yếu là nguyên liệu thô.
-> 572 biện pháp chống bán phá giá từ năm 1995 đến năm 2015, 146 biện pháp nhắm vào hàng hóa do Trung Quốc sản xuất.

- và địa chính trị:
từ lâu Ấn Độ đã cố gắng để đưa Masood Azhar, lãnh tụ của Jaish-e-Mohammad (JEM), một nhóm thánh chiến đóng căn cứ tại Pakistan, vào danh sách khủng bố của Liên Hợp Quốc. Nhưng hai lần trong năm nay, Trung Quốc đã sử dụng quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an để ngăn chặn việc đưa tên Azhar vào danh sách trừng phạt của Liên Hợp Quốc -> nhấn mạnh sự ủng hộ vô điều kiện của Bắc Kinh đối với chính quyền Pakistan (đối thủ lâu đời của Ấn Độ).

Friday, November 18, 2016

Vì sao Vương quốc Anh đang ve vãn Ấn Độ?

Thủ tướng Anh có chuyến công du 3 ngày tới Ấn Độ, bắt đầu từ Chủ nhật, 6/11 nói chuyện về hình thành "vai trò toàn cầu mới", về tự do thương mại nói chung. Ý tưởng là thúc đẩy mối hợp tác giữa DNNVV hai nước, nhưng việc hình thành mối quan hệ kinh tế khăng khít hơn với Ấn Độ sẽ tỏ ra khó khăn hơn bà May tưởng.

Trên bề mặt, các dấu hiệu có vẻ tốt: Ấn Độ có 1,3 tỷ dân, nhiều trong số đó sẽ trở thành người tiêu dùng tầng lớp trung lưu lần đầu tiên. Nước này đang hình thành thị trường chung cho hàng hóa và dịch vụ, giảm các rào cản bên trong lẫn bên ngoài đối với thương mại và giải quyết nạn tham nhũng và tệ quan liêu. nền kinh tế Ấn Độ trị giá hơn 2.000 tỷ usd, tăng trưởng nhanh nhất thế giới, có lẽ trong nhiều năm tới, và tới 2030 có thể trở thành lớn thứ 3 thế giới. Thủ tướng Narendra Modi muốn tạo điều kiện dễ dàng cho các doanh nghiệp hoạt động tại đây, và thu hút thêm nhiều đầu tư nước ngoài và hợp đồng thương mại. Các doanh nghiệp Anh vốn đã là những nhà đầu tư lớn nhất ở Ấn Độ. Hiện nay, Ấn Độ đang mở cửa cho nước ngoài trong một số ngành có thể đặc biệt phù hợp với doanh nghiệp Anh như bảo hiểm, quốc phòng, đường sắt và bán lẻ. Đồng thời, các doanh nghiệp lớn của Ấn Độ - như Tata, sở hữu Jaguar Land Rover và Tata Steel - có trụ sở ở Anh. London cũng đã trở thành địa bàn cho các doanh nghiệp Ấn, ví dụ trong tư vấn kinh doanh, để tiếp cận thị trường Liên minh châu Âu. Ngôn ngữ chung, cùng các mối liên hệ văn hóa, lịch sử, pháp lý và thể thao chung, cộng với ảnh hưởng của cộng đồng (diaspora) người Ấn ở Vương quốc Anh, hứa hẹn những mối liên hệ khăng khít hơn.

Vì thế, Bà May có lẽ đúng khi reach out, nhưng bất kỳ ai nghĩ rằng sẽ có thành công nhanh chóng sẽ phải thất vọng. Ví dụ, một trong những ưu tiên của Ấn Độ là tránh những phức tạp đối với thỏa thuận thương mại tự do từ lâu đã bị đình trệ với Liên minh châu Âu, bắt đầu đàm phán từ tháng 6/2007. Sau 12 vòng đám phán, mới có một số nhất trí đối với các vấn đề về gạo, đường, dệt may và dược phẩm. Không rõ các nhà đám phán quá mệt mỏi (overstretched) của Ấn Độ có thấy nhiều lợi ích trong việc chuyển một phần nỗ lực sang đàm phán với riêng nước Anh, nhất là khi làm vậy sẽ khó kết thúc đàm phán với thị trường Liên minh châu Âu rộng lớn hơn. Một số điểm tắc nghẽn (sticking point) đó là thuế 150% đối với nhập khẩu whisky từ from Scotland. Tuy nhiên, mối e ngại lớn hơn là thái độ lạnh nhạt của Anh đối với người Ấn muốn du lịch và học tập ở nước này. Dưới thời Đảng Bảo thủ, nước Anh đã có 6 năm qua không hoan nghênh người nước ngoài, chủ yếu từ Nam Á, những người muốn sang học đại học và sau đó sẽ tìm việc làm. Lệ phí visa đắt đỏ (eye-wateringly), thủ tục lấy visa ngày càng khó khăn, sinh viên không có quyền tìm việc làm sau khi tốt nghiệp, một số tin đồn còn nói rằng sinh viên Ấn xuất sắc được học bổng vào trường Anh nhưng bị từ chối visa. Tinh thần bài ngoại (xenophobia) tăng cao ở Anh cũng làm người Ấn nản lòng.

-> bà May không chỉ nói về đầu tư và thương mại, mà còn nói rõ nước Anh -cụ thể là các trường đại học-sẽ hoan nghênh người Ấn trở lại: du khách, nhập cư, sinh viên và gia đình.

Sunday, November 6, 2016

Quảng cáo kỹ thuật số: Hóa đơn không đúng

Họ uống đấy nhưng bạn vẫn không thể tin. Photo credit: The Economist.

Vấn đề lòng tin của ngành công nghiệp quảng cáo

Tuần lễ quảng cáo -- một chuỗi các buổi gặp mặt hằng năm của ngành công nghiệp này, bắt đầu từ ngày 26 tháng 9 tại New York -- thường có tính chất là một buổi tụ họp để tán gẫu và tự khen. Nhưng sự kiện năm nay bị hoen ố vì sự nghi ngờ. Trong tuần lễ trước đó, ông lớn Dentsu thừa nhận đã chi quá tay cho bộ phận quảng cáo kỹ thuật số của mình tại Nhật Bản; và gã khổng lồ Facebook tuyên bố họ đã thổi phồng thời gian xem video quảng cáo trung bình của người dùng.

Những tiết lộ như vậy càng cho thấy sự lo ngại giữa các nhà quảng cáo hiện nay: họ đang bị lừa khi làm quảng cáo trực tuyến. Tại một cuộc thảo luận bàn về “sự tin tưởng” vào ngày 28 tháng 9, Giám đốc điều hành của Hiệp hội quảng cáo Quốc gia (ANA) Bob Liodice nói các thành viên của hiệp hội đã nghi ngờ nhau quá nhiều.

Câu chuyện đáng lẽ không nên như vậy. Câu nói yêu thích quen thuộc trong ngành là: ngân sách của một nhà quảng cáo luôn bị lãng phí một nửa nhưng không ai biết đó là một nửa như nào. Quảng cáo kỹ thuật số được cho là sẽ giúp ích. Cookies và các cách gắn thẻ khác sẽ định hướng, chuyển đúng quảng cáo tới đúng người, dựa trên những hoạt động trực tuyến của họ. Các công cụ kỹ thuật số sẽ theo dõi để biết quảng cáo nào khiến người tiêu dùng mua sản phẩm. Thật vậy, ngày 21 tháng 9 Facebook đã công bố những phương thức mới để làm việc đó.

Nhưng khi các nhà quảng cáo giành được nhiều quyền kiểm soát hơn trong một số khía cạnh, họ lại đánh mất ở vài khía cạnh khác. Một nỗi sợ hãi rất thực tế: họ đang trả tiền cho những quảng cáo trực tuyến mà người tiêu dùng không nhìn thấy, vì chúng hoặc được hiển thị cho robot, hoặc bị kẹt ở những nơi chẳng ai để ý tới. Nhưng có hai vấn đề còn khó giải quyết hơn.

Đầu tiên, đơn giản ai cũng thấy là Facebook và Google đã trở nên quá thống trị. Theo Mary Meeker của công ty đầu tư mạo hiểm Kleiner Perkins Caufield & Byers, năm ngoái, hai hãng công nghệ này chiếm hơn 75% tăng trưởng quảng cáo trực tuyến tại Mỹ. Ông Liodice cho biết "Google và Facebook đã bổ sung thêm nhiều giá trị cho thị trường của chúng ta nhưng cũng làm tăng những mối lo ngại." Các nhà quảng cáo rất lo lắng về sự thiếu minh bạch. Những con số khai khống của Facebook không dẫn đến gian lận trong thu phí, nhưng có thể sẽ khiến các công ty quảng cáo càng chi nhiều hơn cho nó. Google và Facebook đã bắt đầu cho phép bên thứ ba xác minh một số dữ liệu, nhưng dĩ nhiên nhiều số liệu vẫn còn là độc quyền.

Vấn đề thứ hai là các hãng quảng cáo hiện nay không còn hành động vì lợi ích của khách hàng. Theo Jason Karlin, một người nghiên cứu về quảng cáo tại Đại học Tokyo, Nhật Bản, "hãng quảng cáo có thể chi phối được khách hàng của mình.” Ở Mỹ, một cuộc điều tra do Hiệp hội Quảng cáo quốc gia hỗ trợ chỉ ra rằng các hãng mua không gian quảng cáo và bán lại cho các khách hàng với mức cộng vào giá vốn lên đến 90%. Một số hãng thu thập giảm giá chưa công bố từ các công ty truyền thông để mua không gian quảng cáo. 4As – Hiệp hội các công ty quảng cáo được cấp phép – lại chỉ trích rằng bản báo cáo là ”phiến diện”.

Tuy vậy đã có những sự thay đổi dù nhỏ nhoi. Hiệp hội Quảng cáo quốc gia đã nghĩ ra một hợp đồng mẫu nhằm bảo vệ lợi ích của các thành viên. Những phản đối gay gắt gần đây có thể khiến Facebook và Google cởi mở hơn. Facebook cho biết sẽ cho phép bên thứ ba tính toán được thời gian hiển thị của quảng cáo đối với người xem, tuy nhiên vẫn chưa nói rõ là khi nào. Một số thậm chí chuẩn bị "bỏ phiếu bằng chân": hai công ty đa quốc gia là khách hàng của một hãng quảng cáo vừa giảm chi phí cho quảng cáo trên Facebook.

Tuy nhiên, các nhà tiếp thị sẽ không bỏ qua được Facebook hay Google; hai hãng này quá lớn. Và các công ty cũng sẽ không từ bỏ các hãng quảng cáo. Ở Nhật, Dentsu kiểm soát rất chặt chẽ truyền thông và quảng cáo; ở bất kỳ đâu, các nhà tiếp thị vẫn phải phụ thuộc vào các hãng quảng cáo để thông tỏ đường đi lối lại trong ngành. Vì vậy, sự hoài nghi sẽ vẫn tồn tại. Như Brian Wieser của công ty nghiên cứu Pivotal nói "Bạn hoặc là một kẻ hoài nghi hoặc là không bận tâm”.

Bích Nhàn
The Economist

Monday, October 24, 2016

Phải chăng đế chế của Elon Musk sẽ sụp đổ?

kế hoạch của Elon Musk sáp nhập Tesla với SolarCity đang gây tranh cãi ở Phố Wall, 

Jim Chanos - một nhà quản lý quỹ phòng hộ, người nhìn rõ vụ Enron - cho rằng Musk đang gặp khó khăn về tài chính, nên thay vì chinh phục các hành tinh, một số người cho rằng Musk đã và đang trở thành Icarus, bay quá gần mặt trời (và rơi xuống đất chết tốt :).

Đế chế của Musk rất phức tạp, gồm 2 công ty đại chúng (Tesla và SolarCity), và một công ty tư nhân - SpaceX - là công ty duy nhất sinh tiền. Tesla đang có kế hoạch gia tăng sản xuất (ramp up) Model 3, mục tiêu 500.000 chiếc/năm (tất cả các models) vào năm 2018, so với 85.000 hiện nay -> cần số tiền đầu tư rất lớn. Trong khi đó, SolarCity tài chính kém cỏi. Tổng cộng, có lẽ Musk Inc sẽ ngốn 2,3 tỷ USD tiền mặt trong năm 2016, và hiện đã nợ 6 tỷ USD, mà Musk còn thế chấp cổ phiếu Tesla để vay cá nhân từ công ty 500 triệu USD. Trong khi Musk nghĩ rằng tập đoàn của mình là một công ty công nghệ, thì công ty này thiếu tỷ lệ sinh lời cao và vốn đầu tư tối thiểu của các công ty thành công nhất ở Thung lũng Silicon.

Tuy nhiên Musk Inc cũng sẽ không hết tiền ngay lập tức, nó có 5 tỷ USD tiền mặt và thấu chi ngân hàng chưa sử dụng đến, và Musk có lịch sử dài cả thập kỷ defy the odds. Nhưng nếu tập đoàn tiếp tục đầu tư mạnh tay, nó sẽ đối mặt với thiếu hụt vốn lớn. -> có thể phải gọi thêm vốn chủ sở hữu, mà Musk do dự không muốn làm việc này, vì nếu thế sẽ làm loãng cổ phiếu của Musk ở 2 công ty kia xuống dưới 20% -> lựa chọn khác là thu hẹp quy mô đầu tư, nhưng như thế lại đánh vào giá cổ phiểu 'bong bóng' của Tesla (dựa trên một tương lai màu hồng). Các nhà đầu tư đưa ra dự báo tài chính điển hình là công ty tăng trưởng doanh thu nhanh như Google, Amazon và Apple trong thời kỳ đỉnh cao giữa những năm 2000.

-> Musk vừa muốn huy động tiền mặt vừa muốn giữ quyền kiểm soát đồng thời giá cổ phiếu vẫn phải cao -> có vẻ là tam giác bất khả thi (impossible trinity: tam nan kinh tế)

-> kết luận là: sẽ die sớm thôi, và nhiều nhà đầu tư sẽ "thâm tím mặt mày" đấy.

Tuesday, October 18, 2016

Mô hình tài chính vi mô trên điện thoại di động: Yêu cầu chuyển tiền

Tiền ơi, hiện ra. Photo credit: Michael Pollak.

Mô hình cho vay vi mô có lẽ sẽ hiệu quả hơn nếu hai bên không quá “tình thân mến thân”.

Vay một món tiền nhỏ dễ hơn nhiều so với vay ngân hàng. Nhưng ở phía đông châu Phi, nhiều người đang được tiếp cận với một nguồn tín dụng còn dễ dàng hơn thế nhiều. Chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại, bạn sẽ nhận được một khoản vay ngắn hạn, được gửi gần như ngay lập tức qua một tài khoản điện tử . Nhà kinh tế học phát triển Dean Karlan tại Đại học Yale cho biết, sự phát triển này vừa hấp dẫn vừa khiến người ta dè chừng.

Các loại ví điện tử như M-PESA và Tigo Cash đã thay đổi hoàn toàn mô hình tài chính vi mô. Ở các quốc gia châu Phi, nơi hình thức này đang rất phổ biến, những người cho vay cỡ nhỏ không còn cần phải đi giao và thu cả núi tiền mặt -- một nhiệm vụ thường rất phiền hà và nguy hiểm. Quỹ VisionFund, thuộc tổ chức từ thiện World Vision International, đã chuyển 95% các khoản vay ở Kenya và 98% các khoản vay ở Tanzania qua ví điện tử.

Hiện nay, các nhà khai thác mạng di động và các đối tác tài chính của họ đang đua nhau mở ra hình thức cho vay này. Tập đoàn công nghiệp GSMA cho biết có tới 45 dịch vụ tín dụng điện tử đang hoạt động trong tháng 12 năm 2015, 4/5 số đó đều ở các nước châu Phi hạ Sahara. Một số dịch vụ đang phát triển rất nhanh chóng: M-PAWA, một dịch vụ tiết-kiệm-và-cho-vay trên điện thoại di động ở Tanzania, đã đạt 1 triệu khách hàng chỉ trong vòng năm tháng.

Các mạng di động này hiếm khi cạnh tranh trực tiếp với những người cho vay vi mô. Vì hầu hết các khoản vay đó ở quy mô rất nhỏ -- đúng hơn là siêu nhỏ -- và phải được hoàn trả trong một hoặc hai tháng. Các nhà mạng này mạnh nhất ở châu Phi, nơi thường rất hiếm những người cho vay vi mô. Tuy nhiên, giờ đây một số nhà mạng đang cung cấp các khoản vay lớn hơn và dài hạn hơn. Hình thức thanh toán trên điện thoại di động cũng đang lan rộng: nó đã thành công ngay cả ở Bangladesh, nơi khai sinh ra hình thức cho vay vi mô.

Mike Gama-Lobo của FINCA (Tổ chức quốc tế phi lợi nhuận về Hỗ trợ Cộng đồng), và là người tiên phong trong phong trào tài chính vi mô, rất hào hứng trước khả năng kết hợp hoạt động thanh toán trên điện thoại di động với hoạt động cho vay vi mô truyền thống. Các nhà khai thác mạng điện thoại di động thu được nhiều thông tin về khách hàng của mình nhờ lịch sử cuộc gọi trên điện thoại, cũng như lịch sử giao dịch trong ví điện tử của họ. FINCA và các tổ chức khác đang cố gắng sử dụng những dữ liệu trên để phân loại khách hàng tiềm năng.

Mô hình cho vay vi mô cho ta thấy người dân quê và những người sống trong các khu ổ chuột rất giỏi đánh giá khả năng tài chính của nhau. Nhưng chiếc điện thoại mới lại là thứ hiểu họ rõ hơn. Và chẳng ai phao tin nói xấu điện thoại bao giờ.

Phương Anh
The Economist


Tuesday, October 11, 2016

Làm sao cho hiệu quả: Cách làm của các công ty gia đình

Ferrero Rocher goodness... Photo courtesy Omarukai.

Vấn đề đặc biệt đòi hỏi cần có giải pháp riêng biệt.

Các doanh nghiệp Nhật Bản đã tìm ra một giải pháp hợp lý khi có những người thừa kế đáng thất vọng: tìm người tốt hơn. Cách dễ nhất là thuyết phục cô con gái kết hôn với một người tài năng. (Nhật Bản có một câu ngạn ngữ "Bạn không thể chọn con trai, nhưng bạn có thể chọn con rể".) Một cách khác là nhận một nhân viên xuất sắc làm con trai. Để có hiệu quả tốt nhất, hai cách này có thể kết hợp: thuyết phục người con nuôi kết hôn với người chị/em mới của anh ta. Một nghiên cứu về các công ty hàng đầu của Nhật Bản kể từ sau Thế chiến thứ II cho thấy, khoảng 10% các công ty gia đình có người thừa kế là con rể hoặc con nuôi. Công ty xây dựng Kajima đã có người thừa kế không cùng huyết thống qua ba thế hệ. Tập đoàn Suzuki Motors cũng đã có những người thừa kế không cùng huyết thống trong nhiều thế hệ. Osamu Suzuki, bản thân ông cũng là con nuôi, đã chọn con rể làm người kế nhiệm, mặc dù sau đó anh này đã qua đời. Việc nhận con nuôi không chỉ cho phép các gia đình này lựa chọn được những tài năng từ bên ngoài mà nó còn gây áp lực lên những người con ruột bằng cách cho họ thấy khả năng họ sẽ bị gạt sang một bên.

Nhưng các giải pháp của Nhật Bản khó có thể áp dụng ở các quốc gia khác. Các công ty gia đình khác trên thế giới đã có những giải pháp đặc biệt để giải quyết vấn đề này, và chúng đang ngày càng hoàn thiện. Một phần là do họ dựa vào một lượng lớn những kiến thức và truyền thống của gia đình và công ty. Một nhân vật quan trọng trong một công ty phương Tây nổi tiếng đang hoạt động tại châu Á nói rằng các tỷ phú mới nổi của Trung Hoa liên tục hỏi ông những bí kíp duy trì công ty gia đình lâu như vậy. Một phần đó cũng là nhờ ngành lý thuyết quản lý cuối cùng đã nghiêm túc xem xét các công ty gia đình.

Bí mật của mô hình “Kim tự tháp”
Thách thức lớn nhất đối với các công ty này là làm thế nào để vừa quản lý gia đình vừa cạnh tranh với các công ty đại chúng có thể thu hút lượng vốn lớn trên thị trường. Một giải pháp là gắn bó với một thị trường ngách ở quy mô toàn cầu. Nhiều DNNVV của Đức (Mittelstand) cho rằng, họ thành công vì biết tránh sân chơi của các ông lớn ("đừng chơi chỗ voi giày"). Chiến lược thứ hai là tạo mối quan hệ gần gũi với một ngân hàng địa phương.Đây từng là cách làm quen thuộc của nhiều dòng họ Quaker ở Anh quốc và hiện vẫn là chuẩn mực ở nhiều nước châu Âu. Nhưng giải pháp thành công nhất là cơ cấu công ty sao cho tách bạch giữa quyền sở hữu lợi nhuận với quyền đưa ra quyết định ở ban điều hành.

Cách phổ biến nhất để thực hiện giải pháp này là xây dựng hệ thống tài chính có mô hình kim tự tháp. Yoshisuke Aikawa, người sáng lập tập đoàn Nissan ở Nhật Bản thời kỳ tiền chiến, cho rằng mô hình kim tự tháp là giải pháp lý tưởng cho những gì ông gọi là "thế tiến thoái lưỡng nan của nhà tư bản". Nếu anh chỉ sử dụng tiền riêng của mình hoặc của gia đình, quy mô của công ty sẽ rất nhỏ. Nếu anh tận dụng thị trường vốn bên ngoài, anh có nguy cơ mất quyền kiểm soát công ty. Mô hình Kim tự tháp cho ta phần tốt nhất của cả hai lựa chọn: đảm bảo quyền kiểm soát và khả năng tiếp cận không giới hạn vào nguồn vốn. Các thành viên trong gia đình sẽ chiếm vị trí trên cùng của kim tự tháp, và có lượng cổ phần (khoảng 51%) đủ có thể chi phối cấp độ tiếp theo, và cứ như vậy cho đến đáy kim tự tháp. Mô hình này cho phép các gia đình giữ quyền quyết định đối với các khoản đầu tư của họ (và, như họ nói thì, giúp các nhà đầu tư thụ động thu được lợi nhuận tối đa từ năng lực quản lý của các thành viên gia đình tài năng). Dòng họ Wallenberg ở Thụy Điển và dòng họ Agnelli ở Ý đều kiểm soát nhiều mảng lớn trong nền kinh tế của hai nước này thông qua cấu trúc kim tự tháp.

Cách thứ hai là phát hành cổ phiếu hai tầng (dual-class share), tầng trên có quyền bỏ phiếu cao hơn. Cách làm này rất phổ biến trong giới truyền thông. Các thành viên nhiệt tình nhất trong mô hình Kim tự tháp cũng sử dụng cổ phiếu hai tầng: nhà Wallenberg chỉ góp 40% vốn nhưng kiểm soát 80% số phiếu cổ đông. Loại cổ phiếu hai tầng này có rất nhiều biến thể: loại có giới hạn quyền bỏ phiếu của các cổ đông không phải thành viên gia đình; loại sở hữu chéo cho phép thành viên gia đình nắm giữ cổ phần trong công ty của nhau; loại cổ phiếu vàng mang quyền đặc biệt, chẳng hạn như chặn việc bán tháo công ty; và hội đồng quản trị xen kẽ không thể thay đổi dù phần lớn cổ phiếu đổi chủ.

Cách thứ ba để tách việc thu lợi nhuận và việc điều hành là giao quyền sở hữu công ty cho một quỹ tín thác hay một quỹ ủy quyền. Nhiều công ty lớn nhất thế giới, bao gồm New York Times, Walmart và Ford, đều do các quỹ tín thác gia đình sở hữu. Nhiều dòng họ kinh doanh thành công nhất ở Đức và Bắc Âu đã giao hóa đơn thuế của công ty cho các quỹ ủy quyền quản lý, bao gồm Bertelsmann, Heineken, Carlsberg, Robert Bosch, Novo Nordisk và Maersk. Quỹ tín thác và quỹ ủy quyền không chỉ cho phép gia đình giữ quyền kiểm soát của công ty vô thời hạn, mà còn để các thành viên trong gia đình thể hiện tinh thần làm việc tự giác: vị trí này được dành riêng cho các thành viên tài năng và tận tụy nhất.

Những người phê bình cho rằng mô hình này đi ngược lại các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp lành mạnh. Các dòng họ có thế lực có thể sử dụng mô hình kim tự tháp để chuyển tiền đến các công ty cấp thấp hơn và sử dụng cổ phiếu hai tầng để loại bỏ quyền bỏ phiếu của các nhà đầu tư khác. Hai thập kỷ trước, mô hình này không dành được nhiều sự ủng hộ. Nhưng người sáng lập của các công ty công nghệ rất quan tâm đến nó, và cho rằng cách làm này sẽ bảo vệ công ty khỏi những hành động vì lợi ích trước mắt. Alibaba, một công ty thương mại điện tử khổng lồ của Trung Hoa, quyết định niêm yết trên sàn chứng khoán New York (nơi cho phép cổ phiếu hai tầng) mà không phải Hồng Kông, đã tạo ra áp lực mạnh mẽ để đảo ngược lệnh cấm.

Một thách thức lớn cho các công ty gia đình là làm thế nào để chuyên nghiệp hóa việc quản lý mà không để công ty rơi vào tay người khác. Lý tưởng nhất là đào tạo các thành viên gia đình trở thành những chuyên gia quản lý tài năng. Brown-Forman, một hãng sản xuất các loại rượu mạnh như Jack Daniel's và Southern Comfort, coi sự thành công trong hơn 140 năm qua là nhờ chính sách "gia đình trị được lập trình". Nhiều công ty để con cái mình, những vị hoàng tử công chúa, phải trải qua thử thách để chứng tỏ tài năng. John Elkann, Chủ tịch Fiat (và là thành viên hội đồng quản trị của tờ The Economist), đã âm thầm làm việc tại một số doanh nghiệp khác nhau của gia đình trước khi bước lên vị trí cao nhất. Tất cả các thành viên của dòng họ Mulliez, nếu muốn làm việc trong một trong các công ty của gia đình hoặc tham gia vào quỹ liên doanh, đều phải trải qua một kỳ thực tập nghiêm ngặt. Dòng họ De Kuyper, tập đoàn kinh doanh rượu nổi tiếng của Hà Lan, có riêng một ban giám sát độc lập chịu trách nhiệm đánh giá và lựa chọn các thành viên gia đình muốn làm việc trong công ty. Họ phải có bằng đại học và có năm năm kinh nghiệm làm việc trong một công ty không liên quan tới gia đình.

Một số công ty gia đình thuê người ngoài quản lý nhưng luôn thận trọng theo dõi họ. Freudenberg Group, tập đoàn khổng lồ trong khối Mittelstand của Đức, đã được điều hành bởi tám thế hệ Freudenberg liên tiếp và có cơ sở vững chắc tại thị trấn quê nhà Weinheim. Nhưng nhà Freudenberg đã lui về giám sát và lựa chọn một người Iran gốc Mỹ, Mohsen Sohi, để thực hiện quá trình toàn cầu hóa của tập đoàn.

Estée Lauder, một công ty mỹ phẩm lớn, đã chọn một con đường khác. Công ty này luôn gắn bó với truyền thống gia đình: phần lớn diện tích tầng thứ 41 của tòa nhà General Motors ở New York, nơi đặt trụ sở chính của công ty, đã được dành làm nơi trưng bày văn phòng của người sáng lập cùng tên, bà Estée Lauder, và một phòng mô phỏng phòng khách của bà trong ngôi nhà ở Palm Beach. Nhưng trong năm 2009, William Lauder quyết định từ chức Giám đốc điều hành và mời Fabrizio Freda, một giám đốc điều hành cao cấp của Procter & Gamble. Vào thời điểm đó, công ty đã đi lệch hướng quá lâu, và William thấy công việc quá vất vả. "Làm CEO của một công ty như nhận một án tù," ông hay nói vậy. "Làm CEO của một công ty gia đình như nhận một án tù chung thân vì các cổ đông lớn nhất có số điện thoại nhà riêng của bạn và không ngần ngại gọi cho bạn dù ngày hay đêm." Sự chuyên nghiệp của Freda đã tạo ra kỳ tích: giá cổ phiếu đã tăng khoảng 145% kể từ khi ông lên nắm quyền và giá trị vốn hóa thị trường tăng từ 6,5 tỷ USD lên 30,8 tỷ USD. Nhưng William Lauder vẫn tích cực tham gia công việc: ông và Freda có văn phòng đối diện nhau, và trong một cuộc phỏng vấn với phóng viên, người này thường kết thúc câu của người kia.

Gìn giữ hòa bình
Kỹ năng quan trọng nhất đối với bất kỳ công ty gia đình nào chính là kỹ năng quản lý gia đình. Các nhà quản lý chuyên nghiệp chỉ cần làm tốt một điều: quản lý công ty mà họ đang được giao phó. Nhưng người quản lý là thành viên gia đình phải làm tốt cả hai việc: quản lý cả công ty và quản lý gia đình họ. Việc thứ hai là điều kiện tiên quyết cho việc đầu tiên.

Các gia đình khôn ngoan thực hiện cả hai nhiệm vụ trên với cùng sự cẩn trọng tỉ mỉ. Họ xây dựng các quy chế dòng họ để phân công quyền hạn và trách nhiệm. Họ bổ nhiệm các văn phòng gia đình để điều hành các công việc liên quan đến gia đình. Họ thường tổ chức các buổi họp gia đình và những chuyến đi xa riêng, có trang web riêng tư và đăng tải những câu chuyện lịch sử của dòng họ để nuôi dưỡng lòng tự hào về gia tộc.

Tập đoàn Bonnier của Thụy Điển, chuyên về xuất bản và truyền thông, được điều hành bởi một hội đồng gia tộc gồm 76 thành viên, trong đó vài người chịu trách nhiệm điều hành công ty mẹ (chỉ đạo việc kinh doanh của gia đình) và một số người khác quản lý quỹ ủy quyền (điều hành các biệt thự của gia đình cũng như một vài quỹ chi nhánh). Gia tộc này thường xuyên tổ chức các buổi gặp mặt để giới thiệu truyền thống của gia tộc với những thành viên trẻ và thắt chặt sự gắn bó. Gia tộc Haniel ở Đức cũng vậy, luôn khuyến khích 650 thành viên cư xử như một người chủ có trách nhiệm và tổ chức nhiều sự kiện để họ có thể gặp gỡ giao lưu.

Michele Ferrero, ông chủ lâu năm của thương hiệu chocolate nổi tiếng Ferrero Rocher, người qua đời hồi đầu năm nay ở tuổi 89, có thể coi là một những doanh nhân điển hình của mô hình công ty gia đình thời hậu chiến. Ông chỉ có một cuộc phỏng vấn duy nhất với báo chí và không cần lời khuyên của các nhà tư vấn hoặc chủ ngân hàng vì ông tin rằng ông biết việc kinh doanh của mình rõ hơn bất kỳ ai khác. Sự thành công của thương hiệu chocolate của ông là không cần tranh cãi, nhưng các công ty gia đình hiện nay ở trong một thế giới rất khác. Họ cần phải áp dụng các kỹ thuật mới để tồn tại trước sự can thiệp của công nghệ và toàn cầu hóa.

Các công ty gia đình ngày càng sẵn sàng thuê các công ty PR và các hãng luật. Họ cũng sẵn sàng nhận lời khuyên từ các hãng tư vấn chuyên nghiệp và các trường kinh doanh. McKinsey và BCG hiện đang cạnh tranh xem hãng nào có thể đưa ra nghiên cứu mới nhất về các công ty gia đình. Trường kinh doanh IMD của Thụy Sĩ cũng tập trung chủ yếu vào họ, và trường Kinh doanh Harvard mở riêng một khóa học quản trị dành cho các đối tượng đặc biệt này. Các gia đình giàu có đang có xu hướng tạo hình ảnh cho mình là một tập đoàn đa ngành, bao gồm từ hoạt động từ thiện đến ngành kinh doanh cốt lõi. Họ cũng đang trở nên thực tế và có chiến lược hơn trong việc giải quyết các vấn đề riêng tư. Những người giàu nhất có truyền thống giao cho các công ty quản lý tài sản phụ trách vấn đề tài chính cá nhân của họ, và thuê các nhà quản lý tài sản, kế toán, luật sư và trợ lý. Hiện nay một thế hệ mới các công ty quản lý tài sản gia đình đang mở rộng dịch vụ, hướng tới các gia đình có khối tài sản nhỏ hơn (multi-family office, quản lý tài sản cho từ hai đến 50 gia đình, thay vì cho một gia đình duy nhất như single family office). Những công ty này đang ngày càng mở rộng sang các lĩnh vực mới. Tập đoàn Salamanca của Anh bắt đầu cung cấp bảo hiểm cho các khách hàng giàu có từ Trung Đông; bây giờ nó còn có dịch vụ tư vấn cho mọi vấn đề, từ cách đưa con cái vào được các trường công lập tốt nhất của Anh, hay cách quản lý danh mục tài sản cho đến việc bảo vệ các doanh nghiệp của họ khỏi tội phạm công nghệ cao.

Minh Thu
The Economist