Journey in Life: partnership
Showing posts with label partnership. Show all posts
Showing posts with label partnership. Show all posts

Saturday, September 30, 2017

QUẢN LÝ HIỆU QUẢ TRONG MỘT THẾ GIỚI ĐẠI CHUYỂN ĐỔI

translated by Sơn Phạm, Quỳnh Anh, Minh Thu. July 2017.

Kinh tế và xã hội toàn cầu đang trải qua một trong những biến đổi lớn nhất trong lịch sử phát triển. Theo đó, các cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu dường như về bản chất không phải là biểu hiện của một cuộc “Đại suy thoái” như thông thường, mà thực chất là một quá trình chuyển đổi xã hội to lớn – một cuộc khủng hoảng có kiểm soát và có hệ thống – và là sự mở đầu cho một Thế giới Mới, ở đó gần như mọi thứ đều thay đổi cách thức vận hành.

Giáo sư Fredmund Malik, một trong những nhà tư tưởng và thực hành quản lý vĩ đại nhất thế kỉ 21, đã gọi đây là Sự “Chuyển đổi Vĩ đại Thế kỉ 21”. Trong bối cảnh đó, để có thể nắm bắt và làm chủ cuộc chuyển đổi này thì doanh nghiệp cần có một cuộc cách mạng trong cách thức quản lý và phương thức quản trị nhằm huy động và dịch chuyển các nguồn lực trong giới hạn để đưa ra các quyết định tối trọng.

Nhằm giới thiệu những triết lý mới để hướng đến một mô hình Quản lý
hiệu quả trong thế giới đại chuyển đổi, Vietnam Report với sự đồng ý của Giáo sư Fredmund Malik và Viện Quản lý Malik đã chọn và dịch cuốn Managing Performing Living (Quản lý hiệu quả trong một thế giới đại chuyển đổi – Phương thức đúng đắn để quản lý hiệu quả, làm việc năng suất và tận hưởng cuộc sống), một trong số những cuốn sách quan trọng và nổi tiếng bậc nhất của Giáo sư Fredmund Malik. Cuốn sách được bình chọn là một trong 100 cuốn sách hay nhất về triết lý quản trị và kinh doanh mọi thời đại bởi hội đồng bình chọn gồm các nhà phê bình sách và nhà báo nổi tiếng của Mỹ và Đức. Đây cũng là lần đầu tiên cuốn sách này được cấp quyền xuất bản bằng tiếng Việt tại Việt Nam. Vietnam Report là đơn vị giữ bản quyền dịch tiếng Việt cuốn sách này tại Việt Nam.

Trong phiên bản tiếng Việt lần đầu tiên được xuất bản tại Việt Nam này, chúng tôi muốn gửi lời cảm ơn đến đội ngũ biên dịch và hiệu đính bản dịch gồm Sơn Phạm, Quỳnh Anh Minh Thu, những người đã giúp chuyển ngữ chính xác những ý tưởng của cuốn sách sang tiếng Việt. Tiếp theo chúng tôi muốn cảm ơn Thượng tướng, PGS – TS. Nguyễn Văn Thành – Thứ trưởng Bộ Công An đã viết lời giới thiệu cho cuốn sách, TS. Nguyễn Cao Nam – Giám đốc phụ trách châu Úc và Đông Nam Á của Viện Quản lý Malik (Thụy Sĩ) đã xem xét bản tiếng Việt cuốn sách này một cách tường tận, kỹ càng và đã cho nhiều bình luận và ý kiến đóng góp bổ ích. Chúng tôi cũng muốn cảm ơn đội ngũ biên tập viên công ty Vietnam Report đã miệt mài làm việc để góp phần vào sự thành công trong lần xuất bản đầu tiên tại Việt Nam của cuốn sách này.



Bài trước: TRẬT TỰ THẾ GIỚI

Tuesday, January 31, 2017

TRẬT TỰ THẾ GIỚI

BỨC TRANH ĐỊA CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI VÀ CHÂU Á
QUA TRẬT TỰ THẾ GIỚI CỦA KISSINGER
translated by Sơn Phạm, Jan 2017.

Thế giới dưới cái nhìn của Kissinger
Trật tự Thế giới của Henry Kissinger vừa ra đời đã gây sự chú ý của nhiều độc giả, đặc biệt là các nhà khoa học và chính khách trên thế giới.

Trước đó, Kissinger cũng đã xuất bản một loạt các tác phẩm khác về chính trị thế giới và khu vực. Lợi thế của tác giả là vừa kết hợp được chiều sâu của một nhà nghiên cứu chính trị, với một kinh nghiệm thực tiễn phong phú ở tầm ngoại giao chiến lược quốc tế trên mọi châu lục. Và Trật tự thế giới hiện diện như một tác phẩm tổng kết lại cách nhìn của Kissinger về bức tranh địa chính trị thế giới, cũng được một số ý kiến cho đây có thể là tác phẩm cuối cùng của ông.

Trong tác phẩm, Kissinger xuất phát từ Hòa ước Westphalia (chương 1) để phân tích về tương quan giữa các nước, chủ yếu là các cường quốc và các khu vực giữ một vai trò đặc biệt đối với bức tranh địa chính trị thế giới, với những khác biệt trong thế giới quan và vị trí địa lý đã ảnh hưởng đến chính sách ngoại giao của mỗi nước như thế nào. Tác giả dành chương cuối (chương 9) để bàn về vấn đề toàn cầu hoá trong thời đại khoa học công nghệ, đặc biệt là tin học và truyền thông đại chúng lan tràn đã tác động mạnh mẽ đến dư luận, các nhà lãnh đạo và các quyết định chính trị đương thời.

Theo cách nhìn của Kissinger thì trật tự thế giới ngày nay cần được đặt trên hai yếu tố căn bản: 1. Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của mỗi quốc gia có tính chính danh dựa trên căn bản của các hiệp ước và tổ chức quốc tế; 2. Và để đảm bảo duy trì hòa bình và ổn định trên thế giới cũng như các khu vực, cần phải dựa trên một sự cân bằng quyền lực mà chủ yếu phụ thuộc vào các cường quốc thế giới và khu vực.

Điểm qua một loạt các quốc gia tiêu biểu trải dài từ châu Âu, châu Á đến Trung Đông và Bắc Mỹ, và mặc dù đã lưu ý đến đặc điểm của các quốc gia và khu vực, nhưng Kissinger vẫn nghiêng về xu hướng tán đồng một kiểu trật tự thế giới do phương Tây xây dựng từ sau Thế chiến II dựa theo khuôn mẫu của Hòa ước Westphalia. Tác giả cũng không hề giấu diếm việc đề cao vai trò của Mỹ trong bối cảnh tương quan lực lượng của thế giới hôm nay.

Để hiểu được sự tự tin, phần nào ngạo nghễ của Kissinger như thấu kính phóng đại niềm tự hào Mỹ như một quốc gia dị biệt, cần phải xem xét vấn đề địa chính trị của nó.

Hợp chúng quốc Hoa Kỳ nằm gần như hoàn toàn trong Tây Bán cầu, hầu như tách biệt với phần còn lại của thế giới với tây giáp Thái Bình Dương, đông giáp Đại Tây Dương. Vị trí địa lý được hai đại dương che chở đã giúp Mỹ hầu như không bị tổn hại trong Thế chiến I, để từ đó nhanh chóng vươn lên thành một cường quốc. Cũng chính sự che chở đó đã làm người Mỹ tiếp tục tự tin trong những hành động chính trị trên khắp thế giới sau này. Bên cạnh đó, lịch sử lập quốc đã trao cho họ niềm tin vào sứ mệnh thiêng liêng từ mạc khải của Chúa, với hình ảnh của một thành phố ở trên đồi tỏa ánh sáng muôn nơi trong Kinh Thánh, cùng với sức mạnh kinh tế, chính trị và quân sự, khiến các chính khách Mỹ và người dân Mỹ qua nhiều thế hệ cho rằng mình mang sứ mệnh của Chúa cũng như nghĩa vụ của con người để đem giá trị Mỹ mà chính họ coi là tiêu biểu cho toàn nhân loại đến với toàn cầu.

Trong tác phẩm, Kissinger dẫn lời của cựu Tổng thống Ronald Reagan trong phát biểu tại Diễn văn từ nhiệm năm 1989:
“Tôi đã nói về thành phố tỏa sáng trong cả cuộc đời chính trị của tôi, nhưng tôi không biết liệu mình đã bao giờ truyền đạt thành công những gì tôi thấy khi tôi nói về nó chưa. Nhưng trong tâm trí của tôi, đó là một thành phố ở trên cao đầy tự hào được xây dựng trên những tảng đá mạnh mẽ hơn những đại dương, nơi có gió thổi qua, được Chúa ban phước và đầy chật người dân thuộc mọi tầng lớp sống trong hòa hợp và an bình – một thành phố với những bến cảng tự do, ngân nga bài ca của thương mại và sáng tạo, và nếu phải có những bức tường thành phố, những bức tường sẽ có các cửa ra vào, và các cửa rộng mở cho bất kỳ ai có ý chí và trái tim có thể tới được nơi đây. Đó là cách tôi đã thấy và vẫn còn thấy nó.”

Bên cạnh đó, Kissinger cũng thừa nhận tính nước đôi trong quan hệ chính trị và ngoại giao quốc tế của Mỹ nhằm cân bằng quyền lực và giữ gìn trật tự thế giới:
“Các cuộc tranh luận trong nước Mỹ thường được miêu tả như là cuộc đối đầu giữa chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa thực tế. Nhưng đối với Mỹ và phần còn lại của thế giới, nếu Mỹ không thể hành động theo cả hai chủ nghĩa, kết cục có thể là nó sẽ không thể hiện thực hóa chủ nghĩa nào cả.”

Địa chính trị châu Á trong trật tự thế giới
Mô hình theo Hòa ước Westphalia có thể phù hợp với lịch sử và địa lý của phương Tây, và qua thời gian, nó được bồi đắp và định hình dần như là một trật tự thế giới. Tuy nhiên với các quốc gia ở Trung Đông và châu Á, với một lịch sử lâu đời và vị trí riêng, lại không cho là như vậy. Các quốc gia này muốn một luật chơi riêng, hoặc ít nhất là phải được tham gia vào hình thành luật chơi chứ không phải chỉ thực hiện luật chơi do phương Tây tạo ra.

Trung Đông, nơi tồn tại của một thế giới Hồi giáo rộng mênh mông, tự cho rằng thế giới này trước sau phải là một vương cung thánh đường Hồi giáo, nơi được cai trị bởi Sultan, vua của các vị vua, người duy nhất có quyền ban phát chức tước cho những vị vua ở các quốc gia khác. Hồi giáo chia thế giới thành hai, một bên là thế giới Hồi giáo, bên kia là phi Hồi giáo, và nhiệm vụ của thế giới Hồi giáo là biến phần còn lại thành thế giới Hồi giáo trong một sứ mệnh jihad (thánh chiến). “Cách nhìn trật tự thế giới của họ coi Hồi giáo có thiên mệnh bành trướng khắp "vương quốc chiến tranh" như họ gọi tất cả các vùng đất do dân vô thần cư trú, cho đến khi cả thế giới là một hệ thống đơn nhất, không thể chia tách, được lời phán truyền của Đấng tiên tri Muhammad làm cho hài hòa.”

Trung Hoa, một quốc gia rộng lớn với dân số đông, xung quanh là những quốc gia nhỏ bé hơn, đã tự cho mình là quốc gia nằm ở trung tâm của thế giới, vua của nó không được coi là vị vua bình thường mà là vua của các vua dưới danh xưng “hoàng đế”, được mệnh danh là “thiên tử”, có quyền cai trị mọi quốc gia khác trong “thiên hạ”, và vua các quốc gia khác, một mặt phải chịu sự sắc phong của nó, mặt khác phải tiến hành việc triều cống vốn nặng về nghi lễ thuần phục hơn là ý nghĩa kinh tế. Vì vậy, nó không dễ dàng chấp nhận một trật tự thế giới theo luật chơi do phương Tây đã định sẵn. Trung Hoa chưa bao giờ từ bỏ ý định trở thành trung tâm của thế giới. Điều đó càng làm sâu sắc thêm tham vọng bá quyền của quốc gia này hôm nay khi nó đang trỗi dậy.

Kissinger cũng điểm qua Ấn Độ với tư cách một quốc gia có trọng lượng đáng kể ở khu vực này, với dân số đông và một sức mạnh quân sự đáng nể. Ấn Độ từ lâu đã chủ trương một đối sách trong quan hệ quốc tế: không đi theo bất kỳ một bên nào. Quốc gia này đặt lợi ích của mình như là nguyên tắc trong quan hệ với các quốc gia khác, chứ không phải là vấn đề ý thức hệ hay các liên minh. Nó cố gắng tránh xung đột và đứng về một bên xung đột với các quốc gia khác, trừ những cuộc đụng độ quân sự ở biên giới với Pakistan vốn dai dẳng qua các thập kỷ. Ấn Độ không tự đặt mình vào như là một cường quốc trong cán cân thăng bằng của trật tự thế giới, dù nó vẫn có những động thái hỗ trợ huấn luyện quân sự và dân sự cho các quốc gia bạn bè, trong đó có Việt Nam.

Kissinger bàn về Việt Nam hoàn toàn khác. Ông không nhìn Việt Nam như một nhân tố tham gia vào trật tự thế giới, mà chỉ với tư cách là tác nhân ảnh hưởng đến một cường quốc tham gia vào trật tự thế giới: Mỹ. Tại chương 8 “Hoa Kỳ: Siêu cường nước đôi”, ông dành một mục cho Việt Nam: Việt Nam và sự tan vỡ đồng thuận quốc gia, ngụ ý cuộc chiến tranh tại Việt Nam đã làm tan vỡ đồng thuận quốc gia của Mỹ. Trong Chiến tranh Lạnh, để ngăn chặn làn sóng cộng sản mà đứng đầu là Liên Xô, Mỹ đã quyết định can thiệp và ngày càng lún sâu vào cuộc chiến ở Việt Nam.

Không đi sâu phân tích về diễn biến cuộc chiến và sự sa lầy của Mỹ trong cuộc chiến này, mà Kissinger soi chiếu từ góc độ cuộc chiến đã làm nội bộ nước Mỹ bị xáo động khủng khiếp và mâu thuẫn, các giá trị Mỹ bị nghi ngờ.

Dưới con mắt của nhà chính trị lão luyện Kissinger, nơi một trật tự thế giới được lập ra bởi các cường quốc mà không đếm xỉa gì đến các quốc gia nhỏ bé dù đó cũng là các quốc gia độc lập có chủ quyền, thì châu Á là nạn nhân chứ không phải là người chơi trong trật tự quốc tế do chủ nghĩa thực dân phương Tây áp đặt.

Qua đây, có thể thấy rằng, mặc dù Mỹ và Trung Hoa có những quan niệm khác nhau về vai trò của mình trong cán cân quyền lực thế giới, nhưng vì đây đều là hai siêu cường với những quyền lợi gắn bó chặt chẽ, nên đều tự nhận thấy phải kìm chế và tránh đụng độ trực tiếp vì thiệt hại mà nó gây ra là khôn lường.

Trong khi đó, mối quan hệ giữa Trung Hoa và các quốc gia Đông Á lại đang trở thành vùng nóng có thể châm ngòi bất kỳ lúc nào.

Thiết nghĩ, những luận điểm này rất cần thiết đối với một Việt Nam trên bờ Biển Đông trong bối cảnh phức tạp hôm nay.

TS. Võ Minh Tuấn


Tuesday, October 25, 2016

CUỘC ĐÀO THOÁT VĨ ĐẠI

“Cuộc đào thoát vĩ đại”: Đâu là cái gốc của đói nghèo?
bài giới thiệu sách của Nguyễn Đức Thành, shared via Tia Sáng,

Dù ở cấp độ tư duy cá nhân hay cấp độ chính sách xã hội, trong môn kinh tế học nói riêng hay khoa học xã hội nói chung, chúng ta thường mắc kẹt vào những câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng có ý nghĩa lớn lao: mối quan hệ giữa sự thịnh vượng và bất bình đẳng, giữa thu nhập và sức khỏe, giữa sự thành công và lối sống (của cá nhân hay cả một dân tộc) v.v…
Angus Stewart Deaton, nhà kinh tế đoạt giải Nobel năm 2015.

Trong tác phẩm "Cuộc đào thoát vĩ đại1" mang tính đúc kết sự nghiệp nghiên cứu uyên thâm bền bỉ của mình, nhà kinh tế đoạt giải Nobel (2015), Ngài Angus Stewart Deaton lần đầu tiên cung cấp một phân tích sáng rõ về các mối liên hệ nhằng nhịt giữa các vấn đề này.

Angus Deaton là nhà kinh tế gốc Scotland, mang cả quốc tịch Anh và Mỹ, dành phần lớn thời gian trong sự nghiệp học thuật của mình tại Đại học Princeton, Mỹ. Ông khởi đầu sự nghiệp với mối quan tâm sâu về kinh tế vi mô, nghiên cứu hành vi của đường cầu, và dành nhiều công sức cho việc thiết kế và phân tích các cuộc điều tra hộ gia đình.

Những khám phá về các hành vi của con người trong thực tiễn đã thúc đẩy ông đi tới các vấn đề phát triển căn bản như đói nghèo, ý tế, sức khỏe, bất bình đẳng, tăng trưởng kinh tế, v.v…. Đúng như kinh tế gia bậc thầy Robert Lucas (nhận giải Nobel Kinh tế năm 1995) từng nói, khi anh bắt đầu nghiên cứu về kinh tế phát triển, anh chẳng muốn tìm hiểu về cái gì khác nữa.

Trong cuộc phiêu lưu truy tầm câu trả lời cho những vấn đề phát triển căn bản nhất, như nguồn gốc của sự tăng trưởng, nguồn gốc của bất bình đẳng giữa các cá nhân và xã hội, Deaton đã dấn thân vào cuộc hành trình đi ngược lại toàn bộ quá trình phát triển của loài người, xuyên qua các nền văn minh và thời đại, sử dụng kiến thức liên ngành của nhiều môn khoa học.

Vì thế, tác phẩm này có hàm lượng tri thức được kết tinh và cô đọng cao độ, khiến người đọc, nhất là những người không chuyên, có thể thấy đôi chỗ mệt mỏi và choáng ngợp. Nhưng nỗ lực của bạn đọc sẽ được đền đáp xứng đáng, như bất kỳ một cuộc leo núi nào, khi bạn đứng trên đỉnh núi do mình tự chinh phục và hưởng làn gió mát trong lành tinh khiết chỉ có trên tầng cao khí quyển.

Sự vô nghĩa của thịnh vượng
Ý tưởng chính trong tác phẩm này, như Deaton chỉ ra, là nếp suy nghĩ rằng có thu nhập cao hơn sẽ mang tới sức khỏe tốt hơn, rằng xã hội thịnh vượng, giàu có hơn sẽ tự động mang lại tiến bộ nhân văn tốt hơn, chẳng hạn như một xã hội bình đẳng hơn, biết chia sẻ hơn, là một nếp suy nghĩ còn quá thô sơ.

Lối suy nghĩ này đã đưa tới một loạt chính sách phát triển gây lãng phí, và nhiều khi làm tổn thương con người và xã hội.Theo tác giả, chính tình trạng sức khỏe là yếu tố đầu tiên tạo ra sự khác biệt giữa các cá nhân về tuổi thọ, trí tuệ và khả năng làm việc, và dẫn tới sự thành công khác nhau ở mỗi cá nhân. Có rất nhiều nguyên nhân chi phối sức khỏe cá nhân, như nguồn gốc gia đình, thu nhập, tri thức, yếu tố bẩm sinh, và môi trường xã hội (yếu tố thể chế).

Điều này dẫn tới sự khác nhau (bất bình đẳng) ngày càng xa giữa con người. Sự thiết lập xã hội (thể chế) có thể nhằm duy trì sự bất bình đẳng tiếp diễn và liên tục được tái tạo, hoặc làm mềm khuynh hướng này, và qua đó tác động đến sức khỏe của mỗi cá nhân trong cộng đồng đó. Đến lượt nó, bất lợi sức khỏe của cá nhân sẽ giam hãm những người thiệt thòi hơn, kém dinh dưỡng hơn, ít tri thức hơn, trong một địa vị thấp kém hơn, được hưởng ít quyền lợi kinh tế- xã hội hơn và có một cuộc sống ngắn ngủi hơn.

Còn những người có lợi thế và may mắn hơn, tiếp tục được duy trì các đặc quyền trên tầng lớp cao hơn của xã hội. Một xã hội giàu có hơn, như Deaton chỉ ra, không nhất thiết mang lại phúc lợi đồng đều cho các thành viên của mình, và do đó, hố sâu ngăn cách giữa họ sẽ tăng lên nhanh chóng, và kết cục là xét về tổng thể, không nhất định bảo đảm sức khỏe bình quân của toàn xã hội được cải thiện.

Vì vậy, tăng trưởng kinh tế về lâu dài có thể không được duy trì. Chính những phát minh và khám phá mới trong khoa học và y tế đã giúp lan tỏa hiểu biết của con người về dinh dưỡng và điều trị bệnh tật, giúp thúc đẩy các xã hội tiên tiến cải thiện sức khỏe cho người dân của mình, và từ đó lan tỏa ra toàn nhân loại. Đây chính là cuộc Đào thoát Vĩ đại mà con người đã làm được trong hơn hai thế kỷ quá: thoát khỏi bệnh tật, yếu ớt, chết sớm và nhờ đó thoát khỏi đói nghèo.

Mỗi chương của cuốn sách này tập trung vào một chủ đề tương đối độc lập, và đem lại cho độc giả nhiều tri thức mới, đầy thú vị, qua mỗi trang sách. Chúng dẫn ta trở về thời nguyên thủy khi loài người còn săn bắt hái lượm. Vì khả năng bảo quản thức ăn kém nên con người phải chia sẻ toàn bộ thức ăn cho nhau, do dó họ có một xã hội khá quân bình và sức khỏe đồng đều. Rồi tác giả dẫn chúng ta tới xã hội nông nghiệp, một phát kiến lớn lao của nhân loại, nhưng cùng với nó là khả năng tích trữ lương thảo, vở bi kịch đầu tiên về sự bất bình đẳng giữa con người được trình diễn trên một sân khấu vĩ đại.

Tác giả cũng dẫn chúng ta hành trình qua đất nước Ấn Độ nghèo đói, đất nước Trung Quốc đang nỗ lực vươn lên, và nước Mỹ giàu có nhưng hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng mở rộng.

Một ví dụ sinh động và gây ấn tượng mạnh, về cách mà bất bình đẳng có thể kìm hãm tăng trưởng như thế nào, được tác giả phân tích trong trường hợp Ấn Độ. Đó là sự bất bình đẳng nam nữ ở phía Bắc Ấn Độ đã kìm hãm chiều cao của người phụ nữ, do họ được đầu tư về dinh dưỡng kém hơn nhiều so nam giới. Nhưng chính những người phụ nữ đó lại trở thành những người mẹ trong tương lai, sinh ra cả bé trai lẫn gái. Vì thế, các thế hệ tiếp theo, bất kể nam hay nữ, ở Bắc Ấn Độ có thân hình ngày càng nhỏ hơn so với người Nam Ấn Độ, nơi nam-nữ bình đẳng hơn nhiều, và chiều cao của họ cùng được cải thiện theo thời gian.

Viện trợ cũng có thể "giết chết" các nước nghèo
Bởi vì mối quan hệ giữa sự thịnh vượng và bất bình đẳng kết nối với nhau qua mối liên hệ chí tử là tương quan sức khỏe của các cá nhân trong cộng đồng, thể chế trở nên một nhân tố đặc biệt quan trọng. Độc giả sẽ tìm thấy cây cầu thú vị nối cuốn sách này với tác phẩm “Vì sao các quốc gia thất bại” của hai kinh tế gia hàng đầu Daron Acemoglu và James Robinson .

Một lần nữa, thể chế giải thích vì sao, một quốc gia lại như chính nó đang là: hoặc là cùng một lúc đạt được thịnh vượng và công bằng dưới nền dân chủ, hoặc là cùng một lúc cùng quẫn trong đói nghèo và chật vật trong hố sâu phân biệt giàu-nghèo, dưới một chính quyền độc tài tham lam.

Từ đây, tác giả đi tới chương cuối cùng liên quan đến chủ đề viện trợ kinh tế. Ông cho rằng các khoản viện trợ từ các nước giàu có thực ra đa phần làm các nước nghèo tiếp tục bị giam cầm trong cùng quẫn.

Lý do là vì các nước nghèo vốn đã có một thể chế kém, một sự phân phối bất minh và lệch lạc về nguồn lực giữa các thành viên xã hội, nên khi có thêm các khoản viện trợ, các chính phủ cai trị có thêm nguồn lực để duy trì tình trạng hiện thời. Nếu không có các khoản viện trợ này, thì chính phủ phải thỏa hiệp nhiều hơn với người dân để có nguồn lực, và do đó, sẽ phải chấp nhận nhiều cải cách thể chế có lợi hơn cho người dân.

Tuy nhiên, Deaton không phủ nhận toàn bộ các nỗ lực viện trợ từ các nước giàu đến các nước nghèo. Ông cho rằng, nếu các nước giàu hỗ trợ trực tiếp để cải thiện sức khỏe người dân, đặc biệt ở những tầng lớp yếu đuối, thiệt thòi nhất, sẽ giúp giảm bất bình đẳng xã hội, giúp đất nước đó có tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội tốt hơn.

Hình ảnh quan trọng mà Deaton sử dụng trong suốt cuốn sách, về sự Đào thoát khỏi ngục tù của đói nghèo và yếu ớt, một lần nữa được lặp lại. Đó là những người đã thoát khỏi nhà ngục, luôn muốn quay lại cứu những người còn đang bị giam cầm. Nhưng cuộc Đào thoát chỉ có thể thực hiện được khi chính kẻ bị giam cầm mong muốn được thoát ra. Người đã tư do có thể tuồn cho tù nhân một miếng bánh, nhưng là để ăn mà lấy sức trèo tường ra, chứ không phải là ngồi ăn cho qua cơn đói mỗi ngày và thỏa mãn với miếng bánh miễn phí từ người bạn tốt bụng.

Tiếc thay, trong nhiều thập niên, rất ít quốc gia có thể dùng miếng bánh cứu trợ để lấy sức thoát ra khỏi đói nghèo.

Wednesday, September 30, 2015

NHỮNG THỜI KHẮC QUYẾT ĐỊNH

shared via Alpha Books.
-----
translated by Sơn Phạm, August 2015.

Những thời khắc quyết định là cuốn hồi ký duy nhất của cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush tính đến thời điểm này. Được phát hành vào ngày 9 tháng 11 năm 2010, hai năm sau khi Bush rời Nhà Trắng, cùng với đó là những chương trình giới thiệu sách trên truyền hình quốc gia và khắp nước Mỹ, hơn hai triệu bản in của cuốn sách đã được bán ra chỉ sau khi phát hành chưa đầy hai tháng, phá vỡ kỷ lục về doanh số trước đó của cuốn hồi ký My Life của cựu Tổng thống Bill Clinton. Những thời khắc quyết định cũng nhanh chóng nằm trong danh mục những cuốn sách bán chạy nhất theo bình chọn của tờ New York Times.

Cuốn sách giống như một thước phim quay chậm với hai chương đầu tiên được Bush dành để tái hiện lại cuộc sống của mình trước nhiệm kỳ tổng thống với những sự kiện đáng chú ý trong cuộc sống của ông như quyết định bỏ rượu năm 1986, quyết định chạy đua chức Thống đốc Texas rồi sau đó là tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ. Mười hai chương còn lại đề cập chi tiết đến những sự kiện quan trọng trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của ông: sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001, các cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan, các vấn đề trong nước và cải cách nhập cư, nghiên cứu tế bào gốc phôi, v.v… Khi nhìn lại các quyết định đã đưa ra, Bush viết: “Lịch sử có thể tranh luận về các quyết định tôi đưa ra, các chính sách tôi chọn và những công cụ tôi để lại. Nhưng không thể tranh luận về thực tế rằng: Sau cơn ác mộng ngày 11 tháng 9, nước Mỹ đã trải qua bảy năm rưỡi mà không có bất kỳ ý đồ tấn công khủng bố nào được thực hiện thành công. Nếu phải tóm tắt thành tựu có ý nghĩa nhất của tôi trên cương vị tổng thống chỉ trong một câu, thì đó sẽ là câu này.”

Vì lẽ đó, Bush không hề biện hộ cho thực tế rằng ông đã bắt giữ các phần tử khủng bố al-Qaeda và chỉ đạo CIA hỏi cung các phần tử khủng bố bắt được thông qua việc áp dụng các kỹ thuật tăng cường mà cao nhất là hình thức trấn nước với các thủ lĩnh cấp cao của al-Qaeda. Sau đó, khi Giám đốc CIA George Tenet hỏi liệu ông ta có được phép áp dụng các kỹ thuật thẩm vấn tăng cường, bao gồm trấn nước, đối với Khalid Sheikh Mohammed – kẻ cầm đầu al-Qaeda, kẻ chủ mưu ngày 11 tháng 9, tổng thống Bush trả lời: “Hiển nhiên rồi.” Bush viết rằng “có khoảng một trăm tên được đưa vào các chương trình (thẩm vấn) của CIA. Khoảng một phần ba trong số đó bị hỏi cung thông qua việc áp dụng các kỹ thuật tăng cường. Ba tên bị trấn nước.” Bush cũng tỏ rõ sự quyết đoán khi phát động cuộc chiến tranh Iraq nhằm tiêu diệt Saddam Hussein, thay thế chế độ độc tài của Saddam bằng một nền dân chủ cho đất nước Iraq.

Tuy nhiên trong suốt các nhiệm kỳ của mình, không phải lúc nào Bush cũng hành động nhanh và dứt khoát. Bush thừa nhận những sai lầm khác của mình. Về cách xử lý hành chính của chính ông trong cơn bão Katrina, Bush cho hay: “Là người đứng đầu chính quyền liên bang, tôi đáng lẽ nên nhận ra những thiếu sót này sớm hơn và can thiệp nhanh hơn. Bản thân tôi tự hào về khả năng đưa ra những quyết định dứt khoát và hiệu quả của mình. Tuy nhiên, trong những ngày sau cơn bão Katrina, điều đó không xảy ra. Vấn đề không phải là tôi đưa ra những quyết định sai lầm. Vấn đề là tôi mất quá nhiều thời gian để quyết định.” Về Iraq, ông thừa nhận, “cuộc chiến tranh cũng dẫn đến những hậu quả mà chúng tôi không lường trước. Trong những năm qua, tôi đã dành rất nhiều thời gian suy nghĩ về những gì sai lầm ở Iraq và tại sao. Tôi đã phát hiện ra rằng chúng tôi đã mắc phải hai lỗi sai, nguyên nhân chính dẫn đến nhiều thất bại mà chúng tôi phải đối mặt.”

Khi nhìn lại những ngày cuối cùng còn tại nhiệm, Bush viết: “Tôi suy ngẫm về tất cả những gì chúng tôi đang phải đối mặt. Trong vài tuần qua, chúng tôi đã chứng kiến sự thất bại của hai tổ chức thế chấp lớn nhất của Mỹ, sự phá sản của một ngân hàng đầu tư lớn, việc rao bán một ngân hàng khác, việc quốc hữu hóa công ty bảo hiểm lớn nhất thế giới và giờ đây sẽ là sự can thiệp quyết liệt nhất vào thị trường tự do kể từ thời tổng thống Franklin Roosevelt. Ngoài ra, Nga cũng đem quân đến Georgia, bão Ike đã đánh vào Texas, Mỹ đang chiến đấu cùng lúc trên hai mặt trận ở Iraq và Afghanistan. Đây thật là một cách kết thúc nhiệm kỳ tổng thống chẳng đẹp đẽ gì.” Dẫu vậy, Bush vẫn giữ trong mình niềm tin rằng, “ở mỗi quyết định, tôi đã làm những gì mình tin là vì lợi ích tốt nhất cho đất nước chúng ta.” Kể từ đó, ông thoải mái trở lại với cuộc sống đời thường của mình. Ông kể rằng ngay sau khi chuyển đến Dallas, ông đưa chú chó Barney đi dạo lúc sáng sớm xung quanh khu phố. “Barney phát hiện bãi cỏ nhà hàng xóm của chúng tôi và nhanh chóng giải quyết nỗi buồn. Tôi, cựu tổng thống Hoa Kỳ, đứng đó với túi nhựa trên tay, nhặt những gì mà tôi đã né tránh trong suốt tám năm qua.”

Được viết bằng phong cách văn chương mạch lạc, cuốn hút, lối kể chuyện sắc nét, Những thời khắc quyết định đã soi chiếu và cung cấp cho người đọc rất nhiều thông tin về những tình huống mà George W. Bush phải đối mặt cũng như quá trình ra quyết định của ông. Có rất nhiều những bình luận xoay quanh cuốn sách này nhưng chúng tôi xin trích dẫn lời nói của Cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton để kết thúc phần giới thiệu cho bản dịch tiếng Việt: “Những thời khắc quyết định là cuốn sách thú vị từ những dòng đầu cho đến những câu cuối cùng. Dù bạn yêu mến hay không có thiện cảm với George W. Bush, cuốn sách này cũng rất đáng đọc.”

Xin trân trọng giới thiệu tới độc giả.


Mua sách:
bản giấy ở Alpha Books,
bản điện tử ở Alezaa.
-----
Obadiah Newcomb Bush (ông tổ và người sáng lập gia đình chính trị Bush)
James Smith Bush (kị của Bush con)
Samuel Prescott Bush (cụ của Bush con)
Prescott Sheldon Bush (ông của Bush con)