Journey in Life: 09/05/14

Friday, September 5, 2014

Cafe Mộc - 76 Hàng Nón



Một cốc sữa chua nếp cẩm trong đêm Trung thu...

Bài trước: Nét Huế - 36C Mai Hắc Đế

Đi chợ Trung thu trên phố Hàng Mã






biển người đổ về phố cổ Hà Nội...





Mê tín trong đầu tư

Photo credit: loopcayman.com.

Hắc miêu thị: Thói quen đầu tư phi lý khiến giảm lợi nhuận

Nhằm chứng minh may mắn có thể được lập trình từ trước, Thế vận hội Bắc Kinh đã được khai mạc lúc 8 giờ 8 phút tối ngày 8 tháng Tám năm 2008, gợi đến (invoke) điềm tốt lành (auspicious) của số tám. Trong tiếng Trung, từ 'bát' (số tám) phát âm gần giống 'phát' (thịnh vượng). Ngược lại, 'tứ' (số bốn) nghe rất giống với 'tử' (chết), được cho là mang lại tai họa (misfortune). (Nhiều tòa nhà ở Trung Hoa nhảy thẳng từ tầng ba lên tầng năm, cũng giống như một vài tòa nhà ở phương Tây bỏ qua tầng 13.) Những điều mê tín như vậy thường được coi là đặc trưng văn hóa vô thưởng vô phạt. Tuy nhiên, chúng sẽ trở nên tai hại nếu được dùng như một nguyên tắc đầu tư.

Một công trình* gần đây nghiên cứu các niềm tin này ảnh hưởng đến thị trường tài chính như nào bằng cách kiểm tra các lệnh giới hạn (limit order, giao dịch mua bán chứng khoán ở một mức giá nhất định) trên thị trường chứng khoán Đài Loan. Các tác giả đo độ mê tín của các nhà đầu tư theo quy luật (regularity) họ chọn giá có đuôi số tám, và ráng sức (strenuous) tránh số bốn như nào. Các tổ chức và cá nhân đầu tư nước ngoài nói chung không thiên lệch (unbias) trong vấn đề này, và không có quy luật giá nào. Tuy nhiên, các nhà đầu tư trong nước, nhiều khả năng hơn 50% đặt lệnh tại giá có đuôi số tám hơn số bốn.

Sự phi lý này gây hao tiền tốn của: lợi nhuận trong ngày của nhóm (quintile) các nhà đầu tư mê tín nhất thấp hơn 0,03% so với nhóm không mê tín trong các giao dịch với giá có đuôi số tám. Tổn thất này tương đương với khoản thâm hụt hàng năm, 8,8% một năm, trùng hợp với tính toán của The Economist 's. Tránh số bốn ít thiệt hại hơn, nhưng lợi nhuận vẫn thấp hơn khoảng 2% một năm.

Thiệt hại của sự thiên lệch này còn vượt ra ngoài các giao dịch có liên quan đến các con số bốn và tám. Khi độ mê tín tăng một độ lệch chuẩn, lợi nhuận hàng ngày sẽ giảm 0,02% (tương đương 4% cả năm, một sự trùng hợp khác). Điều này cho thấy mê tín có liên quan đến các thiên lệch khác khiến giảm lợi nhuận của các nhà đầu tư một cách rộng hơn. Một vài trong số đó cũng liên quan đến số, chẳng hạn ưu tiên đầu tư đối với các số chẵn. Nghiên cứu cũng bóng gió (allude) các nhà đầu tư mê tín có 'hạn chế nhận thức tổng quát liên quan đến việc ra quyết định tài chính', cách nói ngoại giao ám chỉ họ ngu đần (nitwit).

Các nhà đầu tư nhỏ lẻ thường được cho là tự tin thái quá, ngoại suy (extrapolation) ngụy tạo (spurious) và dành ưu tiên cho những gì quen thuộc. Những thiên lệch này khiến họ dễ dàng trở thành nạn nhân (easy target) của các nhà giao dịch dùng thuật toán (algorithmic trader), hay "quants", khai thác các hành vi dễ đoán trước như vậy.

Tuy nhiên, may mắn là, các nhà nghiên cứu thấy định kiến về số này giảm (abate) theo thời gian. Có lẽ chán nản vì mất quá nhiều tiền, các nhà đầu tư Đài Loan đã rút kinh nghiệm và có xu hướng vứt bỏ sự mê tín vớ vẩn này.

Sơn Phạm
The Economist

* “Do Superstitious Traders Lose Money?” by Utpal Bhattacharya, Wei-Yu Kuo, Tse-Chun Lin and Jing Zhao, 2014, SSRN Working Paper.

Người Cơ đốc giáo ở Iraq và Syria

Kurdistan Lalesh temple Yazidi. Photo courtesy jan Sefti.

Không mấy ai ở phương Tây biết về người Yazidi cho tới khi họ trở thành nạn nhân của phong trào Hồi giáo cực đoan ở miền bắc Iraq. Người Yazidi theo một tôn giáo cổ xưa và bí mật, tôn thờ (revere) Thiên thần Khổng tước (Peacock Angel) như vị đứng đầu 7 thiên thần Chúa trời gửi xuống thế gian. Những người láng giềng Cơ đốc (Christian) ở Iraq cũng là nạn nhân như họ, nhưng có lẽ được biết đến nhiều hơn vì tôn giáo của họ phổ biến nhất trên thế giới. Tuy vậy, vẫn nhiều người còn lầm tưởng người Cơ đốc giáo ở Iraq mới chỉ cải đạo từ Hồi giáo sang chưa lâu dù cộng đồng của họ đã xuất hiện trước (predate) đạo Hồi ít nhất 3 thế kỉ. Dù kiến thức lịch sử ra sao thì hẳn những ai theo dõi tin tức đều đã nghe ở cả Syria và Iraq, người Cơ đốc giáo đang phải chịu gánh nặng quá lớn (disproportionate) những tai họa (woe) diễn ra trên hai nước này. Ở Iraq, số người theo đạo Cơ đốc trước năm 2003 vào khoảng 1,5 triệu người – tức 5% dân số giờ chỉ còn dưới 400.000. Trước khi Syria chìm trong nội chiến, số người theo đạo Cơ đốc ở đây vào khoảng 1,8 triệu, tương ứng 10% dân số; ít nhất 500.000 người đã bị trục xuất.

Tình cảnh của người Cơ đốc giáo ở Iraq và Syria thể hiện một bức tranh mơ hồ, lộn xộn. Trên “Con đường Ngay thẳng” (Street called Straight – trích Kinh thánh) xuyên suốt Damascus, có tới 3 vị giáo chủ (prelate) sử dụng danh hiệu Đức thượng phụ Antioch (Patriarch of Antioch) (và còn 2 người khác ở Lebanon cũng nhận chức danh này về mình). Có ít nhất 14 giáo phái (denomination) hiện diện ở Iraq. Một số có liên hệ với Rome, một số với Cơ đốc giáo Chính thống (Orthodox Christianity) toàn cầu còn một số khác thì chẳng có mối liên hệ nào. Để hiểu sự khác nhau giữa các giáo phái ấy, cần nhìn lại các xung đột trong nội bộ Cơ đốc giáo hồi thế kỉ 15 khi các bộ óc tinh hoa (subtle mind) cố gắng giải thích Jesus vừa hoàn toàn là Thiên Chúa, vừa hoàn toàn là con người. Với hầu hết người Thiên chúa giáo (Catholic) và Cơ đốc giáo Chính thống, vấn đề đã được giải quyết ở Chalcedon (giờ là ngoại ô Istanbul) năm 451, nơi h xác định hai bản thể của chúa Jesus cùng tồn tại ‘không lẫn lộn, không thay đổi, không phân chia và không tách biệt’. Nhưng không phải ai cũng đồng ý. Trước Chalcedon, một nhóm với tên gọi Nestorian đã thoát li khỏi dòng chính khi nhấn mạnh sự đối lập giữa bản chất của thần và người. Ngay ở Chalcedon, một nhóm bất đồng chính kiến (dissident) lớn đã phản đối, cho rằng công thức được chọn hạ thấp sự thống nhất trong con người Chúa.

Ở Iraq ngày nay, giáo phái lớn nhất là Thiên chúa giáo Chaldean (Chaldean Catholic), một nhóm có nguồn gốc Nestorian đã hòa giải (reconcile) với Rome từ 1672. Giáo hội Assyria Đông phương (Assyrian Church of the East) phản đối sự hòa giải này. Ở Syria, nhóm lớn nhất thường được gọi là Chính thống giáo Hy Lạp – nói cách khác là những người Cơ đốc chấp nhận Chalcedon và hiệp thông (communion) với các nhà thờ ở Nga (mối liên hệ mật thiết này hình thành vào thế kỉ 19), Hy Lạp v.v… Một vài nhóm lớn khác là Thiên chúa giáo Melkite Hy Lạp – chấp nhận cả Chalcedon và quyền lực của Rome (cho tới thế kỉ 17); Chính thống giáo Syia – phủ nhận Chalcedon và khẳng định Jesus chỉ có một bản thể duy nhất là Thiên Chúa. Giáo hội chính của Armenia có mặt cả ở Syria và Iraq, tương tự cũng phủ nhận Chalcedon nhưng một số người Armenian lại theo đạo Thiên chúa hoặc Tin lành (Protestant).

Với những người có đức tin gần với với thời kì đầu đầy nhiệt huyết của Cơ đốc giáo như thế, khác biệt về thần học (theology) là quá quan trọng để có thể bỏ qua. Tuy nhiên, những khác biệt ấy lại có thể được xóa mờ (transcended) do những đau khổ chung. Tháng Tư năm ngoái, 2 giám mục (bishop) từ Aleppo – một từ Chính thống giáo Hy Lạp và một từ Chính thống giáo Syria đã bị bắt cóc và hiện vẫn chưa có thông tin gì về số phận của họ. Tất cả những gì chúng ta biết là có khi họ đang thảo luận về bản chất của Chúa Jesus, nhưng cuộc tranh luận có lẽ diễn ra trong tình thân ái (amicable).

Đăng Duy
The Economist

"Call someone on the carpet" nghĩa là gì?

Logs and loggers in Michigan, 1890s photo. Photo courtesy paukrus.

'Call someone on the carpet' nghĩa đen là gọi người nào tới trước tấm thảm. Carpet là tấm thảm, và nghĩa bóng là gọi người nào đến để khiển trách hay đổ lỗi là người đó làm điều sai quấy. Trong thế kỷ 19 tại nước Mỹ chỉ có những người giàu sang mới mua thảm để lót sàn nhà, và gọi người phạm lỗi tới đứng trên tấm thảm để khiển trách hay chỉ trích. Do đó mới có thành ngữ 'to call someone on the carpet'.

Ví dụ
He is on the carpet for charging £300 on his expenses for a kilt jacket and the hacks have gone potty.
Even the cold lump of dough on the carpet could not damp his spirits.
Unusually, he found himself on the carpet when he went back to basics to mark NHS Week.

The timber industry (ngành công nghiệp đốn gỗ) promised not to log (cắt, đốn cây) anymore of the northwest wildernesss (vùng rừng núi hoang vu) and then removed hundreds of acres of trees! Not surprisingly, environmentalist groups called them on the carpet. Of course, they deserved to be criticized.

I feel sorry for the coach (huấn luyện viên). He’s always getting called on the carpet every time one of the players does something wrong. If the team’s owner blames (khiển trách) him again, I swear he’s going to quit (thôi việc).

Huyền Trang
VOA

"Come down hard on someone" nghĩa là gì?

Drive Drunk, Get Nailed. Photo courtesy Chuck Coker.

'Come down hard on someone' có từ hard là mạnh mẽ, nặng nề. Thành ngữ này có nghĩa là trừng phạt, chỉ trích hay khiển trách nghiêm khắc một người nào.

Ví dụ
This is Jack’s second offense (phạm tội) for drunk driving (lái xe trong khi say rượu). The police really came down hard on him. After being put in jail for a few days, he lost his license for a year and had to pay a stiff fine (tiền phạt khá lớn).

My parents were rather easy going (tỏ ra khá dễ dãi) with me as I was growing up. One weekend I nearly set the house on fire when they were away, yet they didn’t come down hard on me. I was lucky (may mắn) not to have been severely punished (phạt nặng).

So, I was ready to come down hard on the Chamber’s bad economics; but what they’ve actually just shown is that even when they’re paying for the study, the economics of climate protection look quite easy.

There is a growing group of people like her (weiguan), netizens who are moving from cyberspace to the real world,” Ms. Xia said. “Putting her into a labor camp shows that the government is prepared to come down hard on these people.”

Huyền Trang
VOA