Journey in Life: transform
Showing posts with label transform. Show all posts
Showing posts with label transform. Show all posts

Thursday, October 17, 2019

Âm lượng trong lời nói thể hiện sự giáo dưỡng của chính bạn!

Nguồn bài, ảnh: Net; hat tip to Nguyễn Lan Anh,
-----
Một người có thể ăn nói nhẹ nhàng, khoan thai, biết tiết chế cảm xúc của mình sẽ dễ dàng nhận được thiện cảm của mọi người. Âm lượng trong lời nói sẽ phản ánh nội tâm của bạn, người có trình độ giáo dục càng cao, càng chú trọng cư xử văn minh, càng để ý đến giọng mình khi nói chuyện.

Có hai môi trường thường khiến con người khó chịu đựng nhất, một là mùi hôi, hai là tạp âm. Bất luận là xe cộ đông nghịt hay là tiếng trò chuyện ồn ào xung quanh, đều là yếu tố làm cho con người cảm thấy khó chịu.

Nhà văn Lương Thực Thu từng nói: “Một người nói chuyện lớn giọng, là bản năng; nói chuyện nhỏ giọng, là văn minh”. Kiểm soát âm lượng là thể hiện sự tôn trọng người khác, cũng là sự tu dưỡng của chính mình.

1. Lớn giọng không phải là sức mạnh
Trên các trang mạng từng đưa ra một chủ đề bàn luận: “Âm thanh mà bạn không thể chịu được nhất là gì?” Có người trả lời: “Chỉ cần ai nói chuyện lớn tiếng là tôi đều không muốn nghe, bởi vì tôi thấy sợ. Người khác vừa cất tiếng, tôi vô thức đã muốn bỏ trốn, bởi vì trong đầu tôi toàn là hình ảnh mẹ lớn tiếng la mắng tôi từ nhỏ đến lớn. Tôi từng nghi ngờ mẹ không thương mình, thậm chí ghét bỏ mình, nếu không thì tại sao luôn lớn tiếng với tôi?”

Âm lượng và cảm xúc có quan hệ trực tiếp với nhau, khi âm lượng bỗng nhiên thay đổi, đa phần đều là đã xảy ra chuyện gì khiến người ta không vui.

“Thùng rỗng thường kêu to”, có người cảm thấy nói chuyện hung hăng lớn tiếng thì người khác mới nghe theo, họ cũng mới cảm thấy vừa lòng. Thực ra không phải, loại người miệng hùm gan sứa mới hay dùng âm lượng để che giấu sự tự ti của mình.

2. Âm lượng nói chuyện cũng thể hiện nội tâm của bạn
Âm lượng nói chuyện phản ánh nội tâm của bạn, nói năng nhỏ nhẹ, càng thể hiện được sức mạnh dịu dàng.

Khoảng thời gian trước, có người bạn trung cấp kết hôn, cô ấy nói thích anh ta, nguyên cớ là từ một cú điện thoại. Lúc đó hai người vẫn chưa quen biết, cùng tham gia tiệc sinh nhật của một người bạn chung, lúc về vừa khéo cùng đường nên đi chung một chuyến taxi.

Trên đường đi, anh ấy nhận được một cuộc điện thoại, lúc nói chuyện rất dịu dàng, rành mạch, cúp máy rồi mới biết thì ra là gọi cho mẹ báo an toàn.

Khi đó người bạn của tôi trong lòng nảy sinh thiện cảm, cô ấy nói với chúng tôi: “Lần đầu tiên nghe thấy một người đàn ông nói chuyện điện thoại nhẹ nhàng như vậy, quan trọng là với người nhà của anh ấy, mẹ ai mà chẳng hay càm ràm, vậy mà anh ấy vẫn nói chuyện nhẹ nhàng suốt gần 15 phút. Khẳng định là người này hiếu thuận, tính tình điềm đạm”.

Ở chung vài năm, mới phát hiện cách anh ấy đối xử với mọi người, quả thật giống với cách anh ấy nói chuyện, tinh tế rành mạch, ổn định đáng tin.

Nói chuyện lớn giọng ở nơi công cộng, tán dóc chuyện riêng ồn ào, là biểu hiện không tôn trọng người khác, không chỉ làm phiền người khác, đồng thời còn ảnh hưởng đến bầu không khí giao tiếp.

Ở nơi công sở nói chuyện to tiếng, làm ảnh hưởng đến sự nghiêm túc, làm giảm hiệu suất công việc, còn làm cho đồng nghiệp cảm thấy bạn là người ngả ngớn, thiếu trầm ổn, làm việc không chắc chắn.

Nói chuyện to tiếng với bạn bè hoặc người thân, dễ gây ra hiểu lầm về thái độ, ảnh hưởng đến tình cảm đôi bên.

Người ôn hòa lương thiện, trước giờ nói chuyện không nhanh không chậm, thong dong thoải mái. Giọng và âm lượng phản ánh nội tâm của bạn, nói năng nhẹ nhàng tựa mưa thuận gió hòa, tưới nhuần những lạnh lẽo của thế gian.

3. Âm lượng của bạn thể hiện sự giáo dưỡng
Paul Fussel nói trong cuốn “Style” viết: “Vợ chồng ngài Blue thường la hét nhau, âm thanh xuyên qua những căn phòng; còn nhà ngài White thì kiểm soát được âm lượng của mình, có lúc còn nói quá nhỏ không nghe thấy được.”

Ngài Blue và ngài White ở đây là công nhân (áo màu xanh lam) và trí thức (áo màu trắng), Paul Fussel dùng âm lượng để phân tích sự khác biệt giữa hai giai tầng.

Một vị giáo sư đại học Thanh Hoa đã từng nói, lúc ông ở trong ký túc xá đại học Thanh Hoa, suốt vài năm trời không hề nghe thấy âm thanh tranh cãi hoặc người ta lớn tiếng với nhau. Sau khi chuyển đến thuê trọ ở một căn nhà, ông kinh ngạc phát hiện ra, mỗi ngày đều có thể nghe thấy người nhà nói chuyện to tiếng hoặc cãi lộn như bị thần kinh.

Người có trình độ giáo dục càng cao, càng chú trọng cư xử văn minh, càng để ý đến giọng mình khi nói chuyện.

Nhà văn Hồ Thích từng chia sẻ, bản thân ông có một người mẹ tốt, từ nhỏ đã từng chút một dạy ông về đối nhân xử thế, giúp ông học được cách thông cảm và khoan dung. Người mẹ nói chuyện nhẹ nhàng mềm mỏng, chính là tấm gương tốt nhất của ông. Cho nên sau này ông dù có gặp phải mâu thuẫn hay xích mích gì, đều có thể nhẹ nhàng hóa giải.

Âm lượng là một phần của quy ước xã giao, mà mục đích của quy ước xã giao là làm mọi người xung quanh đều cảm thấy thoải mái, đối xử với mọi người nhã nhặn, hạ giọng nói chuyện, chính là điểm mấu chốt trong hành vi của người cao quý.

Có người nói: “Nếu như bạn cho rằng càng ngày càng lạnh nhạt nghĩa là đã trưởng thành, kỳ thực không phải vậy, trưởng thành là trở nên dịu dàng, đối xử dịu dàng với cả thế giới”. Âm lượng chính là sự tu dưỡng của bạn, giảm âm lượng xuống chính là sự dịu dàng của bản thân.

[The dancer by Alexander Yakovlev]

Bài trước: Con rắn và cái cưa

Thursday, October 10, 2019

Con rắn và cái cưa

Một đêm nọ con rắn đang tìm kiếm thức ăn, bò vào một xưởng mộc.

Khi con rắn bò lòng vòng trong xưởng, nó trườn qua cái cưa, và bị một vết cắt nhỏ. Ngay lập tức, nghĩ rằng cái cưa đã tấn công mình, nó quay lại và cắn thật mạnh vào cái cưa khiến cho miệng nó chảy máu.

Điều này khiến con rắn rất tức giận. Nó tấn công một lần nữa, và một lần nữa cho đến khi cái cưa đầy máu và dường như đã “chết rồi”.

Sắp chết vì những vết thương của mình, con rắn quyết định cắn một cái cuối cùng và quấn lấy cái cưa với ý định làm cho cái cưa ngạt thở với toàn bộ sức mạnh của mình. Thật không may, con rắn cuối cùng bị chết bởi 1 cái cưa vô tri vô giác.

-> Đôi khi, chúng ta phản ứng với sự giận dữ với ý định sẽ làm tổn thương những người đã đối xử tệ với mình nhưng thực ra chúng ta đã làm tổn thương chính bản thân mình.

Trong cuộc sống, có những lúc tốt hơn là mặc kệ sự việc và tốt hơn là luôn ứng xử bằng sự yêu thương và lòng vị tha, mặc dù phải nỗ lực rất nhiều.

Monday, July 15, 2019

Đừng áp đặt người khác

shared from cafef,
-----
Năm đó, Trang Tử sang thăm Huệ Tử, lúc đó đang làm tể tướng nước Lương. Có kẻ nói với Huệ Tử rằng Trang Tử sang để tranh ngôi tể tướng. Huệ Tử sợ hãi, sai người tìm Trang Tử khắp nơi suốt ba ngày đêm. Khi tới, Trang tử bảo:

"Ông có biết một con chim ở phương Nam người ta gọi là con phượng không? Khi nó cất cánh từ biển Nam mà lên biển Bắc, không phải là cây ngô đồng thì nó không đậu, không phải là hột luyện thì nó không ăn, không phải là nước suối ngọt thì nó không uống. Một con chim cú đương rỉa xác một con chuột thấy nó bay ngang, sợ bị tranh ăn mà ngửa lên nhìn nó, kêu lên một tiếng lớn dọa nó. Nay ông vì cái ngôi tể tướng nước Lương mà cũng muốn kêu doạ tôi sao?

Tôi không phải là ông, dĩ nhiên tôi không biết được ông, nhưng ông không phải là cá thì hiển nhiên là ông không biết được cái vui của cá".

Thursday, May 30, 2019

Ðừng hành động khi đang giận dữ

Một samurai đến thu nợ của người đánh cá. Người đánh cá nói: “Tôi xin lỗi, nhưng năm vừa qua thật tệ, tôi không có đồng nào để trả ngài.”

Vị samurai nổi nóng, rút kiếm ra định giết người đánh cá ngay lập tức. Rất nhanh trí, người đánh cá nói: “Tôi cũng đã học võ và sư phụ tôi khuyên không nên đánh nhau khi đang tức giận.”

Vị samurai nhìn người đánh cá một lúc, sau đó từ từ hạ kiếm xuống. “Sư phụ của ngươi rất khôn ngoan. Sư phụ của ta cũng dạy như vậy. Ðôi khi ta không kiểm soát được nỗi giận dữ của mình. Ta sẽ cho ngươi thêm một năm để trả nợ và lúc đó chỉ thiếu một xu thôi chắc chắn ta sẽ giết ngươi.”

Vị samurai trở về nhà khi đã khá muộn. Ông nhẹ nhàng đi vào nhà vì không muốn đánh thức vợ, nhưng đã rất bất ngờ khi thấy vợ mình và một kẻ lạ mặt mặc quần áo samurai đang ngủ trên giường. Nổi điên lên vì ghen và giận dữ, ông nâng kiếm định giết cả hai, nhưng đột nhiên lời của người đánh cá văng vẳng bên tai: “Ðừng hành động khi đang giận dữ.”

Vị samurai ngừng lại, thở sâu, sau đó cố tình gây ra tiếng động lớn. Vợ ông thức dậy ngay lập tức, kẻ lạ mặt cũng vậy, hoá ra đó chính là mẹ ông.

Ông gào lên: “Chuyện này là sao vậy. Suýt nữa con đã giết cả hai người rồi!”

Vợ ông giải thích: “Vì sợ kẻ trộm lẻn vào nhà nên thiếp đã cho mẹ mặc quần áo của chàng để doạ chúng.”

Một năm sau, người đánh cá gặp lại vị samurai. “Năm vừa qua thật tuyệt vời, tôi đến để trả nợ cho ngài đây, có cả tiền lãi nữa”, người đánh cá phấn khởi nói.

“Hãy cầm lấy tiền của ngươi đi.” Vị samurai trả lời, “Ngươi đã trả nợ rồi.”

Bài trước: Chuyện Lữ Mông

Tuesday, April 30, 2019

Giữ cho danh tính của mình nhỏ thôi

Một trong những lời khuyên hữu ích nhất mà tôi học được từ Internet là phải giữ cho danh tính của mình nhỏ thôi. Càng mang trong mình nhiều danh tính thì càng có nhiều định kiến, càng khó tiếp nhận cái mới. Tôi không phải là một Phật tử, nhưng tôi biết trong giáo lý Phật có nói đến "chấp", tức là giữ lấy, không chịu từ bỏ. Càng chấp thì càng khổ và càng ngu muội. Để tự do tự tại, danh tính là thứ cần phải phá chấp trước tiên, hat tip to thai_hacker,
-----

...What's different about religion is that people don't feel they need to have any particular expertise to have opinions about it. All they need is strongly held beliefs, and anyone can have those. No thread about Javascript will grow as fast as one about religion, because people feel they have to be over some threshold of expertise to post comments about that. But on religion everyone's an expert.

Then it struck me: this is the problem with politics too. Politics, like religion, is a topic where there's no threshold of expertise for expressing an opinion. All you need is strong convictions.

...The most intriguing thing about this theory, if it's right, is that it explains not merely which kinds of discussions to avoid, but how to have better ideas. If people can't think clearly about anything that has become part of their identity, then all other things being equal, the best plan is to let as few things into your identity as possible.

Tuesday, December 18, 2018

Chuyện Lữ Mông

theo Tuệ Tâm, hat tip to lê quang hải,
-----
Nhận thức của con người đều theo nguyên tắc: cái gì tiến nhập vào trước thì sẽ trở thành quan niệm. Cha mẹ, thầy cô, hàng xóm, bạn bè...từ nhỏ gieo vào đầu một đứa trẻ hệ quan niệm Đúng/Sai, Tốt/Xấu, Nên/Không nên, Giỏi/Dở,....và chúng ta đánh giá người khác dựa trên hệ nhận thức đó. Tuy nhiên, nếu một người luôn dùng ánh mắt của quá khứ đi nhìn người khác, thì sẽ không tránh được những kết luận sai lầm.

Có một số người bạn thời tiểu học, trung học và đại học đã để lại ấn tượng rất sâu sắc, nhưng chỉ mấy năm sau cà phê với nhau, mình phát hiện rằng những người này cũng chỉ có nhiêu đó nói miết. Nhiều thầy cô xưa mình ngồi nghe thấy ngưỡng mộ, nhưng gặp lại thì thấy cách nghĩ của họ đã cũ quá rồi. Ông bà cha mẹ mình cũng vậy, mỗi lần gặp là thấy họ nghĩ nhỏ và áp đặt quá, cứ nói với mình sự chắc ăn và ổn định, an toàn, danh lợi bé con con, miếng đất cái nhà, cái xe, cái công việc. Mình trước mặt họ thì vẫn vui vẻ, nhưng trong lòng đã nghĩ khác. Những giá trị nhân sinh và nghề nghiệp tiếp cận không còn giống nhau nữa, tuy tình cảm cá nhân vẫn còn đầy, nhưng không sao trò chuyện lâu được nữa.

Mình quan sát thấy, người có đầu óc mở có sự biến đổi nhận thức rất nhanh. Có bạn lúc nhỏ rất nhu nhược, thiếu quyết đoán, nhưng hiện tại tư duy lại sắc bén, nhanh nhẹn; có người vốn vô tư hào phóng thì nay lại trở nên hết sức nhỏ nhen, tham lam; có người lắm mồm lắm miệng nay lại trở nên trầm mặc ít nói; lại có người vốn là lạnh lùng ít nói, giờ thành người nói chuyện sắc sảo vô cùng, có người xưa ganh đua tỵ nạnh tham lam, sau ngộ ra mà hào sảng phóng khoáng hay giúp đỡ người khác rất đẳng cấp; có người xưa học dở mà giờ thành công vang dội; có bạn xưa học giỏi cực kỳ, giờ lại chật vật kiếm sống qua ngày hoặc công danh nhạt như nước ốc. Vì sao vậy?

Có một câu nói nổi tiếng trong Tam Quốc Chí: “kẻ sỹ ba ngày không gặp, khi gặp lại phải dùng con mắt khác mà đối đãi". Đây vốn là câu nói của nhân vật "hữu dũng vô mưu” Lữ Mông, tướng Đông Ngô, theo quân xuất chinh từ năm mười lăm mười sáu tuổi. Lữ Mông không theo quan văn, Tôn Quyền vì thế đã phải giảng giải đạo lý: “Nay các vị đều thân giữ trọng trách, nắm giữ việc quản lý lãnh đạo, cần phải đọc nhiều sách để khiến tự mình tiến bộ”.

Lữ Mông thoái thác: “công việc bề bộn, chỉ e không có thời gian đọc sách”. Thường ai không đọc sách hay thể dục, luôn nói câu "không có thời gian".

Tôn Quyền kiên nhẫn chỉ dạy: “Ta nào có bảo các ngươi phải dùi mài kinh sử để làm tiến sỹ. Các người nói xem có ai bận nhiều việc như ta không? Nhưng lúc còn trẻ ta đã đọc qua Kinh Thi, Thượng Thư, Lễ Ký, Tả truyện, Quốc ngữ,...Từ khi ta chấp chính đến nay lại cẩn thận nghiên cứu tất cả binh pháp gia, bản thân đã nhận được rất nhiều lợi ích. Ngươi có khí chất thông minh, có trí nhớ, học tập nhất định sẽ nhanh đạt kết quả. Tào Tháo cũng nói chính mình là lão già hiếu học, nên có được giang sơn. Các ngươi vì điều gì mà hết lần này đến lần khác không thể tự đọc sách?”.

Lỗ Túc, một trí thức lớn, sau khi thay Chu Du nắm giữ quân Ngô, trên đường đi ngang qua nơi đóng quân của Lữ Mông thì dừng chân. Lữ Mông bày rượu đãi. Lỗ Túc lúc ấy vẫn cho rằng Lữ Mông hữu dũng vô mưu, khinh khi trong lòng, nhưng do lỡ quá bước thì đành tiếp chuyện. Nhưng trong tiệc rượu, Lỗ Túc thấy dáng đi cách nói của Lữ Mông khác biệt 1 cách tự nhiên, sang trọng hẳn lên. Rồi hai người luận bàn việc thiên hạ, Lỗ Túc vô cùng kinh ngạc nói: ”Ta luôn cho rằng đệ chỉ có sức lực chứ không có đầu óc, cho đến hôm nay ta đã thấy sai".

Lữ Mông nói: “Kẻ sĩ (tức người có đọc sách, có triết học sâu, trọng logic và sự thật, khách quan) ba ngày không gặp, khi gặp lại phải nhìn bằng cặp mắt khác xưa. Những đánh giá người khác khi mình còn trẻ....đều không còn đúng nữa".

Sunday, September 2, 2018

Nếu như bạn mất đi một cơ hội

Photo courtesy Jason McELweenie.

Never lose a chance of saying a kind word.
~ William Makepeace Thackeray

Không bao giờ để mất cơ hội nói một lời tử tế.

Thursday, October 26, 2017

Sự bao dung của Sở Trang Vương

shared via yeugiadinh.info,
-----
Sở Trang Vương một hôm cho bày yến tiệc linh đình, thiết đãi các đại thần. Trong tiệc, gió lớn nổi lên bỗng thổi tắt hết đèn nến. Khi ấy, một quan viên lợi dụng đêm tối, kéo áo chọc ghẹo cung nữ của nhà vua. Người cung nữ ấy nhanh tay giật đứt giải mũ của ông này rồi tâu lên Sở Trang Vương, sau đó muốn thắp đèn nến lên, tìm xem ai là người đã chọc ghẹo mình và xử tội.

Đùa giỡn ái cơ của vua có nghĩa là làm nhục đến nhà vua. Đó là hành vi đại nghịch và coi thường đạo lý vua tôi. Nhưng, Trang Vương nghĩ một lát rồi cao giọng nói to lên:

“Khoan hãy châm nến! Hôm nay trẫm muốn cho các khanh được vui vẻ sảng khoái. Không cần phải mũ áo thật chỉnh tề, mọi người hãy giật đứt hết các giải mũ thì mới vui?”.

Văn võ bá quan ngơ ngác, nhưng lệnh vua nào ai dám trái, thế là các đại thần văn võ đều giật đứt giải mũ của mình! Nhân thế, người trêu ghẹo cung nữ kia không bị lộ mặt nữa.

Hai năm sau, nước Sở đánh nhau to với nước Tấn. Qua năm trận kịch chiến, quân Sở có một võ tướng liều mình, tả xung hữu đột, không màng sống chết, luôn đi tiên phong. Quân Sở nhờ vậy thường thắng luôn. Sau này Sở Trang Vương lấy làm lạ, bèn cho gọi đến hỏi ngọn ngành.

Người ấy bèn thưa: “Thần chịu nghĩa xưa, đội ơn dày của bệ hạ đã tha cho tội khi quân. Vốn mong muốn liều chết để báo đền ân đức bệ hạ, đến nay thần mới có dịp. Thần là Tưởng Hùng, là người năm xưa trêu ghẹo cung nữ của bệ hạ trong tiệc rượu”.

Sở Trang Vương quả thực có lòng hào hiệp, bụng dạ cũng không chút hẹp hòi, nhỏ nhen. Nếu không tha thứ cho Tưởng Hùng lỗi lầm trên bàn rượu đêm hôm ấy thử hỏi lấy ai là kẻ tiên phong, xông vào mũi tên hòn đạn mà chiến đấu hết mình cho ông đây?

Bài trước: Hạnh phúc là gì?

Sunday, June 4, 2017

Dụ ngôn Lazarus và phú ông


Lazarus và Phú ông là một dụ ngôn được chép trong Phúc âm Lu-ca. Câu chuyện này là chủ đề được yêu thích của nhiều họa sĩ và nhà thần học, bởi vì dụ ngôn này là bức tranh sống động về sự sống đời sau từng được ghi lại trong Tân Ước. "Người giàu và Lazarus sống hai cuộc đời khác biệt, nên phần của họ ở đời sau cũng khác biệt như vậy".

“Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khó tên là Lazarus, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta. Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Abraham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.

"Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Abraham ở tận đàng xa, và thấy anh Lazarus trong lòng tổ phụ. Bấy giờ ông ta kêu lên: "Lạy tổ phụ Abraham, xin thương xót con, và sai anh Lazarus nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!". Ông Abraham đáp: "Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn Lazarus suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, Lazarus được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được".

Ông nhà giàu nói: "Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Lazarus đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!". Ông Abraham đáp: "Chúng đã có Moses và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó". Ông nhà giàu nói: "Thưa tổ phụ Abraham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối". Ông Abraham đáp: "Moses và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin".
— Luca 16:19-31,

Diễn giải
Dụ ngôn này minh họa chủ đề chung trong một số dụ ngôn của Chúa Giê-xu: cách đối xử với những người bần cùng trong xã hội là thước đo chính xác lòng sùng tín. Phú ông thỏa mãn những đức hạnh của thế gian và tuân giữ luật pháp của loài người, song những điều này không thể bù đắp cho thái độ vô cảm đối với những người bần cùng trong xã hội. Nhiều lần Chúa Giê-xu dạy rằng Vương quốc của Thiên Chúa là của linh hồn không phải của luật pháp, trái với sự hiểu biết của người Pharisee về Đấng Messiah.

Điều khiến dụ ngôn này càng sắc nét hơn là sự kiện tác giả Phúc âm Lu-ca cũng là người viết sách Công vụ các Sứ đồ, ký thuật những sự kiện xảy ra sau khi Chúa Giê-xu phục sinh. Lúc ấy, có những người không chỉ muốn có lời của Moses và các nhà tiên tri, mà còn muốn nghe lời chứng của người chết sống lại. Đối với các tín hữu Cơ Đốc thời kỳ tiên khởi, dụ ngôn này giải đáp những thắc mắc của họ tại sao Chúa Giê-xu, sau khi sống lại, đã không giảng dạy và đưa ra những lời cảnh báo cho người còn sống.

Một nét riêng của dụ ngôn này là, không giống các dụ ngôn khác, trong đó Chúa Giê-xu chỉ nhắc đến những nhân vật trong dụ ngôn như là "có một người", hoặc "một người gieo giống"..., ở đây nhân vật được nhắc đến bằng một cái tên. Do đó, có quan điểm được một số người chấp nhận, cho rằng đây không chỉ là một dụ ngôn, nhưng là một câu chuyện liên quan đến một người hành khất tên Lazarus và một phú ông.

Đời sau
Quan điểm Cơ Đốc luận giải rằng câu chuyện là một sự hé lộ một số chi tiết về đời sau. Hầu hết tín hữu Cơ Đốc tin vào sự phán xét đặc biệt và nhận thấy câu chuyện phù hợp với niềm tin ấy. Theo cách giải thích của họ, Lazarus được rước lên thiên đàng, còn phú ông bị đày xuống âm phủ.

Theo quan điểm thế tục, câu chuyện thể hiện niềm tin của người Do Thái vào thế kỷ thứ nhất, theo đó Sheol ("Hades" trong Hi văn) là nơi đến của tất cả người chết. Ở đây, có một số người được yên nghỉ trong khi những người khác phải chịu đau đớn cho đến Ngày Phán xét. Trong câu chuyện này, cả Lazarus và người giàu đều đến Sheol, ở đó người chết được chia ra theo tư cách đạo đức của họ. Lazarus đến nơi an ủi với sự hiện diện của Abraham, trong khi phú ông chịu đọa đày trong lửa.

Sunday, May 14, 2017

Dụ ngôn Người Pharisee và người thu thuế

Người Pharisee và Người Thu thuế là một dụ ngôn của Chúa Giê-xu được chép trong Phúc âm Lu-ca. Trong dụ ngôn này, một người Pharisee, tự hào vì những đức hạnh của mình, lại bị xem là xấu hơn người thu thuế là người luôn cảm thấy hổ thẹn vì cuộc sống tội lỗi. Bài học rút ra từ dụ ngôn này là lòng khiêm nhường tìm kiếm sự tha thứ là tốt hơn sự kiêu ngạo khoe khoang những đức hạnh của bản thân.

Dụ ngôn
Phúc âm Lu-ca 18:9-14,

"Ngài lại phán thí dụ này về kẻ cậy mình là người công bình và khinh dễ kẻ khác: Có hai người lên đền thờ cầu nguyện: một người Pharisee và một người thâu thuế. Người Pharisee đứng cầu nguyện thầm như vầy: Lạy Thiên Chúa, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thâu thuế này. Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi. Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội! Ta nói cùng các ngươi, người này trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên."

Luận giải
Trong thế kỷ 1, giới Pharisee là những người có địa vị cao và được tôn trọng trong cộng đồng tôn giáo do danh tiếng của họ về lòng nhiệt thành tuân giữ Luật pháp Moses một cách nghiêm nhặt. Từ nguyên của Pharisee trong tiếng Hebrew nghĩa là biệt lập, ngụ ý họ là những người được biệt riêng ra để theo đuổi nếp sống thánh khiết nên đôi khi họ còn được gọi là giới biệt phái. Ngược lại, giới thu thuế là những người Do Thái cộng tác với Đế chế La Mã, thường bị dân chúng khinh miệt và xa lánh vì họ bị xem là những kẻ lợi dụng chức quyền để nhũng nhiễu.

Trong dụ ngôn này, Chúa Giê-xu đưa ra hình ảnh tiêu biểu của hai giới đối cực trong bối cảnh xã hội thời bấy giờ. "Một bên là một vị thánh đẹp đẽ và kiêu hãnh, người Pharisee; bên kia là một tội nhân khốn khổ, khiêm nhu và thống hối", để chúng ta có thể chứng kiến "một sự phán xét lạ lùng và kỳ diệu, hoàn toàn đi ngược lại sự khôn ngoan và lý trí của con người, đó là những vị thánh vĩ đại bị xem là những kẻ bất nghĩa; còn những tội nhân khiêm cung được chấp nhận và được kể là công chính và thánh khiết."

Người Pharisee dạn dĩ bước vào đền thánh, đứng thẳng cầu nguyện bằng cách liệt kê những đức hạnh của mình, cũng như tự phân biệt mình với những người còn lại, với niềm tin rằng Thiên Chúa không thể làm gì khác hơn là phải chấp nhận một người có đời sống đạo đức hoàn hảo như thế. Trong khi đó, người thu thuế, với nhận thức về gánh nặng tội lỗi trên vai, khiêm nhường nài xin ơn thương xót từ Thiên Chúa. Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, trong mắt Thiên Chúa, người xưng nhận tội lỗi và cầu xin tha thứ được tôn trọng hơn người không hề chịu xét mình nhưng cứ tự đặt mình cao hơn người khác, như một lần Chúa quở trách họ, "Sao ngươi dòm thấy cái rác trong mắt anh em ngươi, mà chẳng thấy cái đà trong mắt mình?" (Phúc âm Matthew 7:3).
Người thu thuế.

Bài trước: Dụ ngôn Kho báu

Sunday, May 7, 2017

Dụ ngôn Kho báu

Dụ ngôn Kho báu là một dụ ngôn của Chúa Giêsu được chép trong Phúc âm Mátthêu của Tân Ước. Dụ ngôn này minh họa về giá trị lớn lao của Nước Trời, mà đã từng được đề cập trong dụ ngôn Ngọc quý trước đó.


Tường thuật
“Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.”
— Matthew 13:44,

Luận giải
Ở đây, giả thiết là có một người nào đó đã chôn giấu kho báu của mình trong ruộng đất trước khi qua đời. Thời gian sau, một người khác - có thể là một người làm công nghèo - vô tình đào thấy kho báu này. Anh ta vùi lấp lại để giấu mọi người và tìm mọi cách để mua cho bằng được thửa ruộng ấy, dù phải bán đi những gia sản hiện có, nhằm hợp thức hóa việc sở hữu kho báu. Anh ta đã so sánh được giá trị giữa gia sản mình đang có không thể bằng kho báu mà anh tìm thấy.

Kho báu trong dụ ngôn tượng trưng cho Nước Trời, mang giá trị to lớn hơn mọi của cải vật chất ở trần thế này. Tuy nhiên, Nước Trời không thể hiện một cách hữu hình mà ở trạng thái vô hình, giống như kho báu bị chôn vùi dưới lòng đất vậy. Chỉ có những tín hữu thực tâm tìm kiếm và thông minh sáng suốt như người làm công trong dụ ngôn mới hiểu được giá trị của Nước Trời.

Sunday, April 30, 2017

Dụ ngôn Người gieo giống

Người Gieo giống là dụ ngôn của Chúa Giê-xu được chép trong ba sách Phúc âm đồng quan (Mark 4. 1-20, Matthew 13. 1-23, và Luca 8. 1-15) cũng như trong thứ kinh Phúc âm Thomas (Thomas 9).

Phúc âm Matthew

Cũng ngày ấy, Chúa Giê-su ra khỏi nhà, ngồi bên mé biển. Đoàn dân nhóm họp xung quanh Ngài đông lắm, đến nỗi Ngài phải xuống thuyền mà ngồi, còn cả đoàn dân đứng trên bờ. Ngài dùng Ví dụ mà giảng nhiều điều cùng họ. Ngài phán như vầy: Có người gieo giống đi ra đặng gieo. Khi đương gieo, một phần giống rơi dọc đường, chim bay xuống và ăn. Một phần khác rơi nhằm chỗ đất đá sỏi, chỉ có ít đất thịt, bị lấp không sâu liền mọc lên; song khi mặt trời mọc lên, thì bị đốt, và vì không có rễ, nên phải héo. Một phần khác rơi nhằm bụi gai, gai mọc rậm lên, phải nghẹt ngòi. Một phần khác nữa rơi nhằm chỗ đất tốt, thì sanh trái; hoặc một hạt ra được một trăm, hoặc một hạt sáu chục, hoặc một hạt ba chục. Ai có tai, hãy nghe!

Môn đồ bèn đến gần Ngài mà hỏi rằng: Sao thầy dùng ví dụ (dụ ngôn) mà phán cùng họ vậy? Ngài đáp rằng: Bởi vì đã ban cho các ngươi được biết những điều mầu nhiệm của nước thiên đàng, song về phần họ, thì không ban cho biết. Vì sẽ cho thêm kẻ nào đã có, thì họ sẽ được dư dật; nhưng kẻ nào không có, thì lại cất luôn điều họ đã có nữa. Vậy nên ta phán ví dụ cùng họ; vì họ xem mà không thấy, lắng tai mà không nghe, và không hiểu chi hết. Vậy, về họ, đã được ứng nghiệm lời tiên tri Isaiah rằng:
Các ngươi sẽ lóng tai nghe mà chẳng hiểu chi;
Lấy mắt xem mà chẳng thấy chi,
Vì lòng dân này đã cứng cỏi;
Đã làm cho nặng tai,
Và nhắm mắt mình lại,
E khi mắt mình thấy được,
Tai mình nghe được,
Lòng mình hiểu được,
Họ tự hối cải lại,
Và ta chữa họ được lành chăng.

Nhưng phước cho mắt các ngươi, vì thấy được; phước cho tai các ngươi, vì nghe được! Quả thật, ta nói cùng các ngươi, có nhiều đấng tiên tri, nhiều người công chính đã ao ước thấy điều các ngươi thấy, mà chẳng được thấy; ước ao nghe điều các ngươi nghe, mà chẳng được nghe.

Ấy vậy, các ngươi hãy nghe nghĩa ví dụ về kẻ gieo giống là gì. Khi người nào nghe đạo nước thiên đàng, mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp điều đã gieo trong lòng mình; ấy là kẻ chịu lấy hạt giống rơi ra dọc đàng. Người nào chịu lấy hạt giống nơi đất đá sỏi, tức là kẻ nghe đạo, liền vui mừng chịu lấy; song trong lòng không có rễ, chỉ tạm thời mà thôi, đến khi vì đạo mà gặp sự cực khổ, sự bắt bớ, thì liền vấp phạm. Kẻ nào chịu lấy hạt giống nơi bụi gai, tức là kẻ nghe đạo; mà sự lo lắng về đời này, và sự mê đắm về của cải, làm cho nghẹt ngòi đạo và thành ra không kết quả. Song, kẻ nào chịu lấy hạt giống nơi đất tốt, tức là kẻ nghe đạo và hiểu; người ấy được kết quả đến nỗi một hạt ra một trăm, hạt khác ra sáu chục, hạt khác ba chục.


Ba sách phúc âm đồng quan (phúc âm nhất lãm) thuật lại việc Chúa Giê-xu trích dẫn sách Isaiah, "Các ngươi hãy nghe, nhưng chẳng hiểu chi; hãy xem, nhưng chẳng thấy chi" vì họ là những kẻ "nặng tai, nhắm mắt, e rằng họ thấy được, nghe được, hiểu được, bèn trở lại mà được chữa lành chăng!" (Isaiah 6. 9,10). Các sách phúc âm giải thích dụ ngôn như sau:


Người gieo giống đi ra gieo lời của Thiên Chúa.
- Hạt giống rơi dọc đường biểu thị cho những người nghe phúc âm thì tiếp nhận, nhưng đánh mất liền sau đó – theo các sách phúc âm, kẻ dữ (lời của Matthew), hoặc Satan (theo Mark) là kẻ đến cướp mất lời Thiên Chúa khỏi lòng người tiếp nhận.
- Hạt giống rơi trên đất đá sỏi biểu thị cho những người nghe phúc âm, tiếp nhận cách sơ sài – họ sẽ mau chóng chối bỏ phúc âm khi bị rơi vào hoàn cảnh hoạn nạn hoặc khi bị bách hại vì niềm tin.
- Hạt giống rơi vào bụi gai biểu thị cho những người nghe và chấp nhận phúc âm, nhưng lại để những lo toan về đời này cùng lòng ham mê tiền bạc làm nghẹt ngòi hạt giống đức tin.
- Hạt giống rơi trên đất màu mỡ biểu thị cho những người nghe phúc âm và thấu hiểu với cả tấm lòng, và Lời của Thiên Chúa kết quả sai trái trong đời sống của họ.

Sunday, April 16, 2017

Dụ ngôn Hai người con


Hai người con là một dụ ngôn của Chúa Giê-xu được Matthew chép trong sách Phúc âm mang tên ông ở chương 21 từ câu 28-32. Dụ ngôn này thuật lại cách đối xử của hai người con đối với cha mình, ngụ ý hai thái độ khác nhau đối với Lời Chúa, hoặc hai hạng người có tính cách đối nghịch nhau nhưng luôn tồn tại kề cận nhau trong hội thánh.

Nội dung
“Các ông nghĩ sao: "Một người kia có hai con trai. Ông ta đến nói với người thứ nhất: "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho". Nó đáp: "Con không muốn đâu!". Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi. Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: "Thưa ngài, con đây!" nhưng rồi lại không đi. Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?". Họ trả lời: "Người thứ nhất". Đức Giê-su nói với họ: "Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy".”
— Matthew 21:28-32,

Ý nghĩa
Dụ ngôn khắc họa hai tính cách đối nghịch nhau. Khi cha yêu cầu ra làm việc ngoài vườn nho, phản ứng tức thì của hai người con hoàn toàn khác nhau: Đứa con đầu liền dạ vâng nhưng không làm gì cả, đứa con thứ hai phản kháng, nhưng lại ăn năn và tuân phục cha.

Dù đề kháng, bất tuân, và vô lễ, cuối cùng đứa con thứ hai cũng chịu xét mình, ăn năn tội và thực thi bổn phận làm con. Phản ứng tự nhiên của người sống trong tội lỗi là thù nghịch với giáo huấn của Thiên Chúa, như cách đứa con thứ hai đối với cha mình. Họ không muốn tuân phục, kính sợ Chúa, cũng không làm ra vẻ tôn kính ngài. Họ chỉ muốn khước từ ngài. Song, sau khi bị bắt phục về tội lỗi, họ ăn năn, quay trở lại và thể hiện lòng hối cải bằng hành động thuận phục của người làm con.

Còn đứa con kia là kẻ khoác lác, dễ hứa mau quên, và hoàn toàn vô trách nhiệm. Dù luôn tỏ ra tôn kính và thuận phục cha mình, người này chưa bao giờ thực sự quan tâm đến bổn phận làm con. Sự mâu thuẫn giữa lời nói và việc làm bộc lộ tính cách thật của người ấy: đạo đức giả. Đứa con đầu không chịu ra vườn làm việc là vì đối với người ấy sự vâng phục bằng lời nói là đủ rồi, và vì người ấy không hề quan tâm đến tình cảm, lợi ích, cùng sự kỳ vọng của cha mình.

Khi giải thích dụ ngôn, Chúa Giê-xu bảo cho các thầy tế lễ và các trưởng lão trong dân – trước đó những người này tìm đến để bắt bẻ Chúa Giê-xu[4] - biết rằng chính những kẻ tội lỗi và bị khinh miệt trong xã hội (bọn thu thuế và phường kỹ nữ) là những người sẽ đáp ứng với thông điệp phúc âm, còn họ "dẫu thấy vậy cũng không chịu ăn năn." Sự cứng lòng cũng là một đặc tính cố hữu của những người đạo đức giả.

Sunday, April 9, 2017

Dụ ngôn Tôi tớ trung tín

An etching by Jan Luyken illustrating Luke 13:41-48 in the Bowyer Bible, Bolton, England.

Dụ ngôn Người tôi tớ trung tín là một dụ ngôn của Chúa Giêsu được ghi chép trong ba Phúc âm: Mátthêu 24:42-51, Máccô 13:34-37 và Luca 12:35-48 - thường được gọi chung là Phúc âm Nhất lãm. Trong Phúc âm Mátthêu, dụ ngôn này đi trước dụ ngôn Mười trinh nữ, cả hai đều đề cập đến việc chuẩn bị cho ngày Thiên Chúa phán xét.

“Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay. Khi chủ về mà thấy những đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ. Thầy bảo thật anh em: chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ. Nếu canh hai hoặc canh ba ông chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy, thì thật là phúc cho họ.

Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông đã không để nó khoét vách nhà mình đâu.Anh em cũng vậy, hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con người sẽ đến".

Bấy giờ ông Phêrô hỏi: "Lạy Chúa, Chúa nói dụ ngôn này cho chúng con hay cho tất cả mọi người?" Chúa đáp: "Vậy thì ai là người quản gia trung tín, khôn ngoan, mà ông chủ sẽ đặt lên coi sóc kẻ ăn người ở, để cấp phát phần thóc gạo đúng giờ đúng lúc? Khi chủ về mà thấy đầy tớ ấy đang làm như vậy, thì thật là phúc cho anh ta. Thầy bảo thật anh em, ông sẽ đặt anh ta lên coi sóc tất cả tài sản của mình.

Nhưng nếu người đầy tớ ấy nghĩ bụng: "Chủ ta còn lâu mới về", và bắt đầu đánh đập tôi trai tớ gái và chè chén say sưa, chủ của tên đầy tớ ấy sẽ đến vào ngày hắn không ngờ, vào giờ hắn không biết, và ông sẽ loại hắn ra, bắt phải chung số phận với những tên thất tín.

"Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị sẵn sàng, hoặc không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều. Còn kẻ không biết ý chủ mà làm những chuyện đáng phạt, thì sẽ bị đòn ít. Hễ ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, và ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn".”
— Luca 12:35-48,

Luận giải
Trong Phúc âm Mátthêu 24:42 có câu: "Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến". Nói cách khác, người môn đệ Chúa Giêsu phải luôn giữ mình trong sự tỉnh táo và chuẩn bị cho ngày Chúa Giêsu tái lâm. Mặc dù việc Chúa Giêsu giáng sinh là một dấu hiệu tiên báo, nhưng thời gian mà Ngài tái lâm không ai được biết trước, ví như ông chủ đi xa thình lình quay trở về nhà vào thời điểm mà tôi tớ trong nhà không hay biết.


Bởi Phillip Medhurst – Photo by Harry Kossuth, FAL, Liên kết

Sunday, March 26, 2017

Dụ ngôn Người giàu ngu dại

Rembrandt - The Parable of the Rich Fool

"Sau đó Người nói với họ dụ ngôn này: "Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, mới nghĩ bụng rằng: "Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa màu!". Rồi ông ta tự bảo: "Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!". Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: "Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?". Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó".”
— Luca 12: 16-21,

Chúa Giê-xu đã kể câu chuyện này sau khi một người tìm đến xin ngài phân xử việc thừa kế:
“Có người trong đám đông nói với Đức Giê-su rằng: "Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi". Người đáp: "Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh?". Và Người nói với họ: "Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu". ”
— Lu-ca 12:13-15,

Diễn giải
Nên biết rằng mục tiêu của cuộc sống không phải là thu trữ của cải vật chất đời này. Ai cũng biết mọi người đều trắng tay khi lìa đời. Tài sản người ấy cả đời tích lũy sẽ sang tay người khác, là người chẳng hề lao khổ để có được chúng. Tác giả Sách Huấn Ca (Truyền đạo) trong Cựu Ước cũng có quan điểm tương tự, "Ta cũng ghét mọi công lao ta đã làm ở dưới mặt trời, vì phải để lại cho người sau mình" (Huấn ca 2:18)

Khi một người ấn định mục tiêu duy nhất cho cuộc đời mình là làm giàu thì người ấy sẽ hiếm khi có cơ hội hưởng thụ sự giàu sang mà người ấy đã nhọc công gây dựng. Bởi vì mạng sống của con người ở trong tay Chúa, không phải trong tay họ, mặc dù những người giàu có thường tỏ ra tự mãn với suy nghĩ họ đang làm chủ cuộc đời mình, như trường hợp của người giàu trong dụ ngôn này.

Ham hố tích lũy của cải cho đời này không phải là phước hạnh, cũng không phải là một chọn lựa khôn ngoan, nhưng sự khôn ngoan và phước hạnh vĩnh cửu là tích lũy của cải cho cuộc sống vĩnh hằng. Vì vậy, "hãy cẩn thận… vì sự sống của người ta không phải cốt tại của cải mình dư dật đâu".


Bởi Rembrandt – www.uni-leipzig.de : Home : Info : Pic, Phạm vi công cộng, Liên kết

Sunday, March 19, 2017

Dụ ngôn Người làm công trong vườn nho

Người làm công trong vườn nho tranh gỗ của Jacob Willemszoon de Wet, thế kỷ 17.

"Vả, nước thiên đàng giống như người chủ nhà kia, tảng sáng đi ra để mướn người làm công cho vườn nho mình. Khi người chủ đã định giá với người làm công, mỗi ngày một đơ-ni-ê, thì sai họ vào vườn nho mình. Ước chừng giờ thứ ba, người chủ lại ra, thấy những kẻ khác rảnh việc đứng trong chợ, thì nói cùng họ rằng: Các ngươi hãy đi vào vườn nho ta, và ta sẽ trả tiền công phải cho. Họ liền đi. Ước chừng giờ thứ sáu và giờ thứ chín, người chủ lại ra, cũng làm như vậy. Ước chừng giờ thứ mười một, chủ ra, lại thấy những kẻ khác đứng trong chợ, thì hỏi rằng: Sao các ngươi đứng đây cả ngày không làm gì hết! Họ trả lời rằng: Vì không ai mướn chúng tôi. Người chủ nói với họ rằng: Các ngươi cũng hãy vào đi trong vườn nho ta.

Đến tối, chủ vườn nho nói với người giữ việc rằng: Hãy gọi những người làm công mà trả tiền công cho họ, khởi từ người rốt cho đến người đầu. Những người làm công mướn từ giờ thứ mười một đến, lãnh mỗi người một đơ-ni-ê. Rồi tới phiên những người đầu đến, tưởng lãnh được nhiều hơn; song họ cũng lãnh mỗi người một đơ-ni-ê. Khi lãnh rồi, lằm bằm cùng chủ nhà, mà rằng: Những người rốt ấy chỉ làm một giờ, mà chủ đãi cũng như chúng tôi, là kẻ đã chịu mệt nhọc cả ngày và giang nắng. Song chủ trả lời cho một người trong bọn họ rằng: Bạn ơi, ta không xử tệ với ngươi đâu; ngươi há chẳng định cùng ta một đơ-ni-ê sao? Hãy lấy của ngươi mà đi đi; ta muốn trả cho kẻ rốt này bằng như đã trả cho ngươi vậy. Ta há không có phép dùng của cải ta theo ý muốn ta sao? Hay là ngươi thấy ta ở tử tế mà lấy mắt ganh sao? Đó, những kẻ rốt sẽ nên đầu và kẻ đầu sẽ nên rốt là như vậy."
Phúc âm Matthew 20:1-15 (KTTV 1934)

Luận giải
Đơ-ni-ê là đồng tiền đúc bằng bạc được sử dụng trong thời Đế quốc La Mã. Giờ làm việc bắt đầu vào lúc 6 giờ sáng, như vậy giờ thứ mười một là khoảng 4 hoặc 5 giờ chiều. Người làm công đa phần là người nghèo nhận những công việc thời vụ trong mùa thu hoạch, họ cần tiền để đắp đổi qua ngày. 

Cựu Ước cũng khuyên dạy những người thuê mướn họ:
Không được ức hiếp người làm thuê nghèo khó và bần cùng, dù người đó là anh em mình hay là ngoại kiều tạm cư trong xứ và trong thành của anh em. Phải thanh toán tiền công cho người ấy mỗi ngày, trước khi mặt trời lặn, vì người ấy vốn nghèo khó chỉ còn biết trông chờ vào đó. Nếu không, người ấy sẽ kêu van Đức Giê-hô-va về anh em và anh em phải mắc tội.
– Phục truyền luật lệ ký 24: 14 – 15

Câu chuyện lấy bối cảnh trong cuộc sống hằng ngày nhưng ngụ ý về Vương quốc Thiên đàng. Vườn nho biểu trưng cho hội thánh, chủ vườn là Chúa. Những người làm công biểu trưng cho những người đáp lời kêu gọi của Chúa, thời gian trong ngày là đời người, và tiền công là sự sống vĩnh cửu. Sự kêu gọi đến với mỗi người vào những thời điểm khác nhau trong suốt cuộc đời. Một số đáp lời sớm, một số trễ hơn, và số khác chỉ đáp lời lúc cuối đời. Nhưng bất cứ ai chấp nhận lời mời đều sẽ được hưởng sự sống đời đời. Bởi vì con người được cứu rỗi bởi ân điển của Thiên Chúa, không phải bởi nỗ lực bản thân.

Thông điệp của dụ ngôn này thật rõ ràng. Trong khi chúng ta vẫn mặc định rằng người làm việc khó nhọc hơn xứng đáng với tiền công lớn hơn, thì người chủ vườn nho hành động ngược lại; do đó một số người xem đó là không công bằng. Nhưng chủ vườn bảo với họ rằng không ai bị xử tệ cả, bởi vì họ đã đồng ý với chủ vườn về số tiền họ sẽ nhận cho ngày làm việc của họ (một đơ-ni-ê cho một ngày công là tiền lương khá hậu hĩnh vào thời đó). Ông cũng bảo cho họ biết ông đang sử dụng tài sản của ông theo ý ông muốn. Luật lệ trên Vương quốc Thiên đàng là do Thiên Chúa thiết lập: sự cứu rỗi dành cho loài người hoàn toàn phụ thuộc vào ân điển của Ngài, không do công đức hoặc nỗ lực hoặc nếp sống khổ hạnh của bất cứ ai, bởi vì không ai có thể đáp ứng những chuẩn mực đạo đức của đấng chí thánh.

Ai là người làm công được nhận vào giờ thứ mười một? Có thể là những người tiếp nhận ân điển lúc lâm chung, cũng có thể là những kẻ bị rẻ rúng dưới mắt những tín đồ lâu năm luôn sốt sắng trong các bổn phận tôn giáo. Nhưng chớ vội vàng kết luận. Trong ý nghĩa sâu xa hơn, tất cả chúng ta đều là người làm công giờ thứ mười một, và chúng ta đều được Chúa mời vào vương quốc của ngài cách vinh dự. Vì vậy, không cần phải đoán định ai là người làm công giờ thứ mười một. Thông điệp của dụ ngôn là chúng ta được cứu rỗi chỉ bởi ân điển của Thiên Chúa, không bởi những gì chúng ta có.

Phản ứng của một vài người trong số những người làm công trong vườn nho đối với điều họ cho là bất công, biểu trưng cho sự tự mãn thuộc linh thường dễ nhận thấy trong vòng những tín hữu lâu năm. Họ tin rằng phần thưởng dành cho họ phải tương xứng với thời gian họ phụng sự Thiên Chúa. Đó là kết quả của cách suy nghĩ cho rằng sự cứu rỗi đến từ công đức, và đó là điều mà dụ ngôn này muốn bác bỏ.


Bởi Jacob de Wet (I) (fl. 1632–1675) – The Yorck Project: 10.000 Meisterwerke der Malerei. DVD-ROM, 2002. ISBN 3936122202. Distributed by DIRECTMEDIA Publishing GmbH., Phạm vi công cộng, Liên kết

Sunday, March 12, 2017

Dụ ngôn Cây vả không ra trái


X Lời Chúa: (Lc 13,1-9)
1 Lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Ðức Giêsu nghe chuyện những người Galilê bị tổng trấn Philatô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. 2 Ðức Giêsu đáp lại rằng: "Các ông tưởng mấy người Galilê đó có tội lỗi hơn hết mọi người Galilê khác bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao? 3 Tôi nói cho các ông biết, không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy. 4 Cũng như mười tám người kia bị tháp Silôa đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giêrusalem sao? 5 Tôi nói cho các ông biết, không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy".

6 Rồi Ðức Giêsu kể dụ ngôn này: "Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, 7 nên bảo người làm vườn: "Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất?" 8 Nhưng người làm vườn đáp: "Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. 9 May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi".

X Suy Niệm
Ðiều làm chúng ta khó sám hối đó là cảm thấy mình ở trong tình trạng an toàn. Ðức Giêsu nói về hai biến cố nóng hổi tính thời sự, một do sự tàn ác của Philatô, một do tai nạn lao động. Cả hai đều dẫn đến cái chết thảm khốc; những người Galilê bị đổ máu ngay lúc dâng lễ ở Ðền Thờ, mười tám người chết vì bị tháp Silôa đè bẹp. Vào thời Ðức Giêsu, họ bị coi là kẻ có tội, bị Chúa phạt. Những người khác dễ nghĩ mình vô tội, vì còn được bình yên. Ðiều này đưa đến sự tự hào và an toàn giả tạo. "Ðừng tưởng...": Ðức Giêsu đưa ta ra khỏi ảo tưởng về mình. Ngài nhắc mọi người sám hối vì biết ai nặng tội hơn ai. Lúc còn được sống yên lành là lúc cần hoán cải. Có thể đây là cơ hội cuối cùng, trước khi cái chết ập xuống. 

Cây vả trong dụ ngôn cũng ở trong tình trạng an toàn. Nó không cho trái độc, không làm hại nho, không phá cảnh quan. Nó chỉ phạm một tội thôi: tội làm hại đất, tội sử dụng đất màu mỡ mà không sinh trái. Chúng ta có thể cảm thấy an toàn như cây vả cằn cỗi. Tự hào vì mình không làm điều xấu, chẳng làm hại ai, nhưng lại quên rằng mình đã phạm tội không làm điều tốt, những điều tốt có thể làm được và phải làm. Có bao nén bạc Chúa giao không được đầu tư (Mt 25,18), bao người túng thiếu mà ta không giúp đỡ (Mt 25,42). Khi không làm điều tốt cho đời, cho người, ta tiếp thêm sức mạnh cho sự dữ tung hoành. Sống đạo không phải chỉ là lo tránh tội, mà còn là tích cực gieo rắc phát huy cái tốt. Một Kitô hữu sống an phận, cằn cỗi là một phản chứng. Thế giới cần những Kitô hữu dấn thân biết bao! 

Dụ ngôn cây vả cho ta thấy khuôn mặt Thiên Chúa. Chúa Cha là người chủ vườn kiên nhẫn: "Ðã ba năm nay..." Ngài đã nuôi bao hy vọng: "Tôi ra tìm trái mà không thấy". Quyết định chặt cây chỉ đến sau những lần hụt hẫng. Ngài chỉ phạt khi đã làm đủ cách để lay động tim ta. Chúa Giêsu là người làm vườn kiên nhẫn không kém: "Xin ông cứ để nó lại năm nay nữa". Ngài không ngừng ấp ủ chút hy vọng mong manh: "Tôi sẽ vun xới, bón phân, may ra sang năm nó có trái". Nhưng đừng quên lời đe dọa cuối cùng: "Nếu không ông chủ cứ chặt nó đi". Kiên nhẫn, hy vọng, chăm bón, nhưng cương quyết đòi hỏi: đó là thái độ của Thiên Chúa đối với tội nhân. Ðức Giêsu vừa thôi thúc chúng ta mau mau hoán cải, vừa chấp nhận cho ta có thời gian trì hoãn.

Hoán cải là đón lấy những săn sóc tế nhị của Chúa, là đừng để thui chột những ơn lành Ngài ban. Mùa Chay không phải chỉ là để thú tội, mà còn thú cả sự cằn cỗi, ì ạch của mình. Ước gì cây đời của ta có nhiều trái hơn và ngọt hơn.

X Gợi Ý Chia Sẻ
Tội thiếu sót việc bổn phận, tội sống vô trách nhiệm, tội không làm điều lẽ ra phải làm: có khi nào bạn phạm những tội này không? Bạn có thấy xã hội xấu đi vì nhiều người thản nhiên phạm thứ tội này không?

Bạn nghĩ gì về cây vả của đời bạn? Tình trạng này hiện nay của nó ra sao? Làm sao để có thêm nhiều trái ngọt?

Saturday, March 11, 2017

Dụ ngôn Lúa mì và cỏ lùng

But while men slept, his enemy came and sowed tares., anonymous, c. 1900. Photo courtesy wikipedia.

"Đức Giê-su trình bày cho dân chúng nghe một dụ ngôn khác: "Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện. Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: "Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?". Ông đáp: "Kẻ thù đã làm đó!". Đầy tớ nói: "Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không?". Ông đáp: "Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi".”
— Matthew 13:24-30,

Phần sau của chương 13 đưa ra lời giải thích:
“Bấy giờ, Đức Giê-su bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng: "Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe". Người đáp: "Kẻ gieo hạt giống tốt là Con người. Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần. Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. Con người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe".”
— Matthew 13:36-43,

Luận giải
Ý nghĩa của dụ ngôn này không đơn giản: Dụ ngôn không được trình bày với mục đích kêu gọi con người ăn năn hầu có thể tránh khỏi hỏa ngục mà hưởng nước thiên đàng, nhưng được dùng để miêu tả sự nhẫn nại của Thiên Chúa đối với lòng vô tín của thế gian. Dụ ngôn cũng là câu chuyện giàu hình ảnh thể hiện sâu sắc tình trạng đạo đức giả trong vòng hội thánh. Cỏ lùng và lúa mì trông rất giống nhau, và khi cỏ lùng mọc lên lẫn lộn giữa lúa mì thì sự phân biệt bằng mắt thường càng khó khăn hơn. Vì những lý do khác nhau, nhiều người không thực sự chấp nhận đức tin Cơ Đốc nhưng khoác lên mình chiếc áo đạo đức và hoạt động tích cực trong hội thánh. Dù khéo léo ẩn mình trong lớp vỏ công chính, hành vi và thái độ của họ cũng sẽ chỉ ra rằng họ không phải là những tín hữu chân chính.

Tuy nhiên, Thiên Chúa luôn luôn nhẫn nại trong sự phán xét. Giống người chủ trong dụ ngôn không muốn tôi tớ của mình do lẫn lộn mà nhổ cả lúa mì, Chúa Giê-xu nhắc nhở các môn đệ chớ vội vàng phán xét mà săn đuổi những kẻ giả hình trong hội thánh.

Song, điều này không ngăn cấm hội thánh trục xuất những người công khai xúc phạm luật pháp của Thiên Chúa, như trong trường hợp người đàn ông phạm tội loạn luân được nhắc đến trong Thư Corinthians.

Từ một góc nhìn khác, dụ ngôn Lúa mì và Cỏ lùng cũng có thể được hiểu như là một cách giải thích lịch sử thế giới. Thế giới là cánh đồng mà hạt giống tốt đã được gieo. Thế giới là sự sáng tạo của Thiên Chúa, và mọi điều tay ngài làm đều là trọn lành và tốt đẹp. Nhưng kẻ ác đã đến và gieo hạt giống xấu – dẫn dụ con người sa vào tội lỗi. Tình trạng của thế giới hiện nay là vẫn còn đó những hạt giống tốt – những người quay trở lại để chấp nhận ân điển của Thiên Chúa – và những hạt giống xấu – những người khước từ tình yêu của Thiên Chúa và tiếp tục chống nghịch ngài. Lý do khiến Thiên Chúa không chịu hủy diệt những kẻ phản loạn này là vì sự hiện hữu của những người chấp nhận sự cứu rỗi của ngài, bởi vì những người này có thể bị tổn hại nếu mùa gặt đến sớm. Tuy nhiên, ngày phán xét rồi sẽ đến, khi người thiện kẻ ác được phân biệt rạch ròi – người công chính sẽ được tập hợp lại để hưởng sự sống đời đời và kẻ ác sẽ bị diệt vong.

Những tín hữu Cơ Đốc chống đối án tử hình cũng thường dùng dụ ngôn này để hậu thuẫn luận cứ cho rằng Chúa Giê-xu không muốn chúng ta xử tử bất kỳ ai, bởi vì làm như vậy là khước từ họ cơ hội chấp nhận ân điển của Thiên Chúa và sớm đẩy họ vào hỏa ngục.