Journey in Life: history
Showing posts with label history. Show all posts
Showing posts with label history. Show all posts

Monday, October 8, 2018

Pyotr Đại đế làm gì ở Hà Lan?

bài về Đại Phái bộ Sứ thần: phái bộ sứ thần đông đảo của nước Nga (gồm hơn 250 người) mà vào năm 1697 Pyotr Đại đế dẫn đi thăm viếng thăm chính thức Anh Quốc, Đan Mạch, Rôma, Hà Lan, Brandenburg và Venezia (theo kế hoạch ban đầu), đi vắng khỏi Nga trong 18 tháng.
-----
...đến Zaandam (xưởng đóng tàu tư nhân Lynst Rogge) và Amsterdam để học đóng tàu,

viếng giảng đường và phòng thí nghiệm của Fredrick Ruysch, Giáo sư cơ thể học nổi danh toàn châu Âu. Ông trở nên chú tâm đến khoa giải phẫu đến nỗi thấy khó mà ra về; ông muốn ở lại và quan sát thêm. Ông dùng bữa tối cùng Ruysch, lắng nghe lời tham mưu của Giáo sư về cách chọn lựa bác sĩ giải phẫu để mời về phục vụ cho lục quân và hải quân Nga. Pyotr Đại đế bị lôi cuốn vào môn cơ thể học và sau đó tự xem mình có trình độ như y sĩ giải phẫu. Dù sao đi nữa, ông có thể hỏi, có mấy ai ở Nga được cơ hội học với Giáo sư Ruysch nổi tiếng?.

...Ở Leyden, ông đến thăm Tiến sĩ Boerhaave nổi danh, phụ trách một vườn thực vật phong phú, cũng là giảng viên môn cơ thể học, và khi Boerhaave hỏi ngày giờ vị khách muốn đến thăm, Sa hoàng chọn sáu giờ sáng hôm sau. Ông cũng đến xem phòng thí nghiệm giải phẫu học của Boerhaave và say mê xem xét một xác người.

Ở Delft, ông đến thăm nhà thiên nhiên học nổi tiếng Anton van Leeuwenhoek, người phát minh kính hiển vi. Pyotr Đại đế hỏi chuyện ông này trong hai giờ đồng hồ và nhìn qua món thiết bị kỳ diệu qua đó Leeuwenhoek đã khám phá ra tinh trùng :))

Saturday, October 6, 2018

Xã hội Nhật Bản thời kỳ Minh Trị

...Việc công nghiệp hóa đã kéo theo nhiều thay đổi xã hội. Với sự thi hành chính sách giảm phát để thúc đẩy các xí nghiệp công nghiệp, giá nông phẩm hạ xuống làm cho đời sống của nông dân trở nên khó khăn, họ không đủ sức trả địa tô và phải đi vay nặng lãi. Nhiều nông dân phá sản và phải bán tháo đất đai cho những kẻ cho vay nặng lãi. Đây được gọi là đám "địa chủ ăn bám" (ký sinh địa chủ = kisei jinushi). Nông dân mất hết đất đai và rơi xuống hàng tá điền, phải canh tác thuê cho địa chủ hoặc phải bắt đầu đi lao động thuê ở các hãng xưởng, điều kiện làm việc rất cực khổ.

Yokoyama Gennosuke (Hoành Sơn Nguyên Chi Trợ) đã viết cuốn sách "Nhật Bản hạ tầng xã hội, 1899" mô tả: lương công nhân chỉ đủ tiền cơm gạo, trong khi thời gian làm việc rất dài, như công nhân dệt phải làm 12 giờ/ngày (lúc gấp rút thì phải đến 18 giờ). Nơi ở của họ là một buồng ngủ chật chôi, vệ sinh kém vì phải chứa tới 10 người, mỗi người chỉ có diện tích đủ để trải một chiếc chiếu ngủ. Những công nhân mắc phải bệnh truyền nhiễm thì bị đuổi việc ngay chứ không hề được chạy chữa hay hưởng bảo hiểm.

Nhìn chung, sự phát triển của kinh tế Nhật Bản đã hình thành nên một giai cấp mới, giai cấp công nhân Nhật Bản. Việc bị bóc lột nặng nề và điều kiện làm việc ngày càng tồi tệ dẫn đến sự đấu tranh của giai cấp công nhân. Theo Edwin O.Reischauer, năm 1901, đảng Xã hội dân chủ Nhật Bản được thành lập với mục tiêu đòi công bằng cho người lao động. Nhưng năm 1900, Chính phủ Nhật (nội các Yamagata Aritomo) đã ra tay đàn áp bằng cách ban bố Đạo luật trị an và cảnh sát, hạn chế việc người lao động kết hợp thành công đoàn (quyền kết xã) và đình công (quyền bãi công). Theo mệnh lệnh của triều đình, những tài liệu và các bài báo có nội dung xã hội chủ nghĩa sẽ bị trừng trị, các chủ bút bị giam trong khoảng từ năm đến mười năm, và tịch biên luôn những nhà in. Năm 1908, đã xảy ra Vụ án cờ đỏ (Akahata jiken, "Xích kỳ sự kiện") với việc bắt giữ 3 đảng viên Xã hội dân chủ chỉ vì họ đã phất cờ đỏ ngoài đường (cờ đỏ tượng trưng cho xã hội chủ nghĩa), những người này đã lãnh án cao nhất là khổ sai 2 năm rưỡi. Năm 1911, công nhân thành phố Tōkyō thành công trong cuộc bãi công đòi tăng lương, nhưng người lãnh đạo của họ là Katayama Sen bị bắt giữ.

Tuesday, July 31, 2018

Lịch sử thành phố Lviv

chỉ trong 3 năm 1914-1917, 7 lần thay đổi chế độ, là chiến trường của nga, đức, ukraine, ba lan,...; giờ là một phần của ukraine,
-----
In the twentieth century, L’viv…, now a city in Ukraine, experienced war not just once but many times. Between 1914 and 1947, the city went through seven regime changes (thay đổi chế độ) and was shelled (bị nã pháo) by Russian, Ukrainian, German, and Soviet artillery (pháo) and bombed (bom) by German and Soviet planes (máy bay). 

In November 1918, Poles and Ukrainians fought one another for control (kiểm soát) of the city. Twnety-five years later, both sides were prepared to battle it out again. During the same period, the city’s Jewish population lived through several pogroms (cuộc tàn sát người Do thái (dưới thời Sa hoàng); cuộc hành quyết (vì tôn giáo, chủng tộc)) and experienced repeated bouts (đợt) of anti-Semitic (bài Do thái) violence (bạo lực) up until the time when almost all of Jews of L’viv were murdered (giết) by Nazi Germany. 

After World War II, the Soviet government forced the Polish population to leave the city…In 1914 half of the city’s population was Roman Catholic (mostly Poles), 28 percent were Jewish, and 18 percent were Greek Catholic (about two-thirds of them Ruthenians/Ukrainians). By 1947, L’viv had become an almost homogeneously (đồng nhất, thuần nhất) Ukrainian city…Approximately 80 percent of the city’s’ inhabitants had arrived during or after the war (hậu chiến).

That is all from p.1 of Christoph Mick’s study of L’viv.


Known as Lemberg in German and Lwów in Polish, the city of L’viv in modern Ukraine was in the crosshairs of imperial and national aspirations for much of the twentieth century. This book tells the compelling story of how its inhabitants (Roman Catholic Poles, Greek Catholic Ukrainians, and Jews) reacted to the sweeping political changes during and after World Wars I and II. The Eastern Front shifted back and forth, and the city changed hands seven times. At the end of each war, L'viv found itself in the hands of a different state. While serious tensions had existed among Poles, Ukrainians/Ruthenians, and Jews in the city, before 1914 eruptions of violence were still infrequent. 

The changes of political control over the city during World War I led to increased intergroup frictions (bất đồng, xích mích, va chạm), new power relations, and episodes of shocking violence, particularly against Jews. The city’s incorporation (sáp nhập vào) into the independent Polish Republic in November 1918 after a brief period of Ukrainian rule sparked (khuấy động) intensified conflict. Ukrainians faced discrimination (phân biệt đối xử) and political repression (đàn áp chính trị) under the new government (chính quyền mới), and Ukrainian nationalists (dân tộc chủ nghĩa) attacked the Polish state. In the 1930s, anti-Semitism increased sharply. 

During World War II, the city experienced first Soviet rule, then Nazi occupation, and finally Soviet conquest (chinh phục, chinh phạt). The Nazis deported (trục xuất) and murdered nearly all of the city’s large Jewish population, and at the end of the war the Soviet forces expelled the city’s Polish inhabitants. 

Based on archival research conducted in L’viv, Kiev, Warsaw, Vienna, Berlin, and Moscow, as well as an array of contemporary printed sources and scholarly studies, this book examines how the inhabitants of the city reacted to the changes in political control (kiểm soát chính trị), and how ethnic and national ideologies (tư tưởng dân tộc và quốc gia) shaped (định hình) their dealings with each other.

Saturday, August 26, 2017

Gandhi bị hạ tượng

Gandhi phân biệt chủng tộc, người ấn hơn mọi phi da đen...

-> Ghana sẽ hạ một bức tượng của ông ở trường đại học ở thủ đô nước này
-----
Ghana has said it will remove a statue of Mahatma Gandhi from a university campus in the nation’s capital where it had sparked (khuấy động, phát lửa) protests (biểu tình) over the leader’s allegedly (bị cáo buộc) racist (phân biệt chủng tộc) attitudes (thái độ).

The statue (bức tượng), which was unveiled (khánh thành) by Indian President Pranab Mukherjee during his visit to Ghana in June, was meant to symbolize (biểu tượng) friendship (tình hữu nghị) between the two countries, according to Ghana’s Ministry of Foreign Affairs. But professors and students at the University of Ghana called the statue “a slap in the face” (cú tát vào mặt) because of Gandhi’s “racist identity.” They started an online petition (kiến nghị) calling for the statue’s removal.

The petition, which had more than 1,700 supporters on Thursday, cited letters Gandhi wrote during his time in South Africa as evidence that he advocated (ủng hộ) for the superiority (ưu trội hơn) of Indians over black Africans. It also took issue with his use of the derogatory (xúc phạm) term kaffir (từ sỉ nhục để ám chỉ người Phi da đen) to refer to native Africans and criticized the lack of statues of African heroes and heroines on campus.

Wednesday, August 23, 2017

Lợi ích của Mỹ ở Việt Nam

là Sài Gòn, diễn văn của John F. Kennedy tại The Conference on Vietnam Luncheon (in the Hotel Willard, Washington, D.C., June 1, 1956) đó bạn, hat tip to Hải Trương,
-----
Let us briefly consider exactly what is "America's Stake in Vietnam":
(1) First, Vietnam represents the cornerstone (hòn đá tảng) of the Free World (thế giới tự do) in Southeast Asia, the keystone to the arch (đá đỉnh vòm của chiếc vòm), the finger in the dike (ngón tay ở đập, nhắc đến chuyện chú bé Hà Lan ấn tay vào lỗ thủng ở đập để cứu làng khỏi lụt, giống "lấy thân mình lấp lỗ châu mai" phết). Burma, Thailand, India, Japan, the Philippines and obviously Laos and Cambodia are among those whose security would be threatened if the Red Tide (làn sóng đỏ) of Communism overflowed into Vietnam. In the past, our policy-makers have sometimes issued contradictory statements on this point - but the long history of Chinese invasions (xâm lược) of Southeast Asia being stopped by Vietnamese warriors should have removed all doubt on this subject.

Moreover, the independence of a Free Vietnam is crucial to the free world in fields other than the military. Her economy is essential to the economy of Southeast Asia; and her political liberty is an inspiration to those seeking to obtain or maintain their liberty in all parts of Asia - and indeed the world. The fundamental tenets of this nation's foreign policy, in short, depend in considerable measure upon a strong and free Vietnamese nation.

(2) Secondly, Vietnam represents a proving ground of democracy in Asia. However we may choose to ignore it or deprecate it, the rising prestige and influence of Communist China in Asia are unchallengable facts. Vietnam represents the alternative to Communist dictatorship. If this democratic experiment fails, if some one million refugees have fled the totalitarianism of the North only to find neither freedom nor security in the South, then weakness, not strength, will characterize the meaning of democracy in the minds of still more Asians. The United States is directly responsible for this experiment - it is playing an important role in the laboratory where it is being conducted. We cannot afford to permit that experiment to fail.

(3) Third and in somewhat similar fashion, Vietnam represents a test of American responsibility and determination in Asia. If we are not the parents of little Vietnam, then surely we are the godparents. We presided at its birth, we gave assistance to its life, we have helped to shape its future. As French influence in the political, economic and military spheres has declined in Vietnam, American influence has steadily grown. This is our offspring - we cannot abandon it, we cannot ignore its needs. And if it falls victim to any of the perils that threaten its existence - Communism, political anarchy, poverty and the rest - then the United States, with some justification, will be held responsible; and our prestige in Asia will sink to a new low.

(4) Fourth and finally, America's stake in Vietnam, in her strength and in her security, is a very selfish one - for it can be measured, in the last analysis, in terms of American lives and American dollars (tính bằng mạng sống lính mỹ và tiền đô-la mỹ). It is now well known that we were at one time on the brink of war in Indo-china - a war which could well have been more costly, more exhausting and less conclusive than any war we have ever known. The threat to such war is not now altogether removed from the horizon. Military weakness, political instability or economic failure in the new state of Vietnam could change almost overnight the apparent security which has increasingly characterized that area under the leadership of Premier Diem. And the key position of Vietnam in Southeast Asia, as already discussed, makes inevitable the involvement of this nation's security in any new outbreak of trouble.

theo bạn, từ parents và godparents ở đoạn 3 có thể dịch là "cha mẹ ruột" và "phụ huynh đỡ đầu", từ đó cho rằng Mỹ có tâm thế "cha mẹ" của chính quyền Sài Gòn không?

Monday, August 21, 2017

Lenin có phải là gián điệp của Đức?

bài báo của Sean Mcmeekin trên tờ New York Times khẳng định đúng vậy: là người quan trọng nhất nhận tài trợ của Đức vì kịch liệt phản chiến, ủng hộ Ukraine giành độc lập (mục tiêu chính của phe Liên minh Trung tâm); trong bài luận “Chủ nghĩa Xã hội và Chiến tranh” (Socialism and War, 1915), Lenin lập luận rằng các nhà cách mạng nên thâm nhập vào quân đội và biến họ trở thành người cộng sản, kích động bạo loạn và chủ động gây thất bại cho chính quyền của họ”.

...“Luận cương Tháng Tư” (April Theses) ủng hộ lật đổ chính phủ lâm thời (nắm quyền từ sau cuộc Cách mạng tháng Hai). Trong cuộc đảo chính Những Ngày Tháng Tư, xảy ra hai tuần sau khi Lenin trở về, các thành viên Bolshevik đã cầm những tấm áp phích chống chiến tranh, trên đó kêu gọi đoàn kết với kẻ thù (“Người Đức là anh em của chúng ta”). Sau âm mưu đảo chính thứ hai, được gọi là Những Ngày Tháng Bảy, Lenin và 10 người Bolshevik khác bị buộc tội “phản bội và nổi dậy có vũ trang.” Hàng loạt nhân chứng đã đưa ra lời khai về: việc chuyển tiền từ Stockholm, rửa tiền thông qua một doanh nghiệp nhập khẩu của Đức, việc Đức tài trợ cho tờ báo Pravda của Bolshevik (bao gồm cả các phiên bản dành cho quân đội tiền tuyến), về mức trợ cấp khi họ cầm áp phích Bolshevik trong các cuộc biểu tình đường phố (10 rúp) hoặc tham gia chiến đấu trong Hồng Quân (40 rúp/ngày)...

đọc chi tiết bài dịch tiếng Việt ở nghiencuuquocte,
-----
What singled Lenin out from fellow Russian socialists was his fanatical opposition to the war and his support for Ukrainian independence, a key aim of the Central Powers. While other antiwar socialists like Trotsky genuinely abhorred the carnage and strove to bring the war to a halt by supporting protests and draft resistance, Lenin argued in his 1915 pamphlet “Socialism and War” that revolutionaries should instead infiltrate the armies and turn them red, promoting mutinies and actively seeking the defeat of “ ‘their’ governments” (Lenin’s own quotation marks).

...The “April Theses” advocated toppling the provisional government that had come to power after the February Revolution. During the April Days putsch, which occurred two weeks after Lenin’s return, Bolshevik activists held up antiwar placards that openly urged fraternization with the enemy (“the Germans are our brothers”). After a second attempted putsch, known as the July Days, Lenin and 10 other Bolsheviks were charged with “treason and organized armed rebellion.” Scores of witnesses came forward to testify about wire transfers from Stockholm, money-laundering via a German import business, the German financing of the Bolshevik newspaper Pravda (including editions aimed at front-line troops), the going rates for holding up Bolshevik placards in street protests (10 rubles) or for fighting in the Red Guards (40 rubles per day).

Monday, March 7, 2016

Lịch sử thư rác

một buổi tối tháng Năm năm 1864, một vài chính khách Vương quốc Anh nhận được bức điện vào giờ rất muộn
-> không biết là chiến tranh xảy ra hay sao, hay là nữ hoàng bị ốm?
mở thư thì chỉ là tờ quảng cáo của 1 tiệm nha khoa, sẽ mở cửa từ 10h sáng đến 5h chiều cho tới tháng 10,
đây được ghi nhận là ví dụ đầu tiên về "spam"
-----

ON A May evening in 1864, several British politicians (chính trị gia) were disturbed (quấy rầy, làm phiền) by a knock at the door and the delivery of a telegram—a most unusual (chuyện lạ) occurrence at such a late hour. Had war broken out? Had the queen been taken ill? They ripped open the envelopes (phong bì thư) and were surprised to find a message relating not to some national calamity (tai họa), but to dentistry (chữa răng, nha khoa). Messrs Gabriel, of 27 Harley Street, advised that their dental practice would be open from 10am to 5pm until October. Infuriated (tức điên lên, giận run người), some of the recipients of this unsolicited (không mời mà đến) message wrote to the Times. “I have never had any dealings with Messrs Gabriel,” thundered (nạt nộ, lớn tiếng, chửi mắng) one of them, “and beg to know by what right do they disturb me by a telegram which is simply the medium of advertisement?” The Times helpfully reprinted the offending telegram, providing its senders with further free publicity.

This was, notes Matthew Sweet, a historian, the first example of what is known today as “spam”.

Sunday, January 3, 2016

Trụ sở Công ty TNHH MTV Vận tải Đường sắt Sài Gòn

shared from Võ Tiến Cường.
-----

Tòa nhà Bureau du Chemin de fer của công ty Hỏa xa Đông Dương mạng phía Nam nay là trụ sở của Cty TNHH MTV Vận tải đường sắt Sài gòn ngự tại 136 đường Hàm Nghi nhìn sang chợ Bến Thành là một trong những toàn nhà có nhiều giá trị lịch sử.

Một trong số đó chính là trường bắn bao cát di động. Được dựng lên từ khoảng 1964 bởi chính phủ thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ. Nơi đây đã từng xử bắn khá nhiều giang hồ hảo hán cũng như biệt động sài gòn.

Nhưng nổi tiếng nhất là vụ xử bắn hoa kiều Tạ Vinh, 34 tuổi, ông trùm đầu cơ gạo sắt thép thời đó. Tết âm lịch 1964 giá gạo tăng vọt lên 7 đồng/kg mà chính phủ không làm sao can thiệp được. Tướng Kỳ triệu tập các hoa kiều chợ lớn tới và chỉ nói ngắn gọn : nếu trong 1 tuần giá gạo không quay trở lại bình thường thì một trong các ông sẽ bị xử bắn. Nhóm hoa kiều coi khinh lời nhắn nhủ này và giá gạo còn tăng tiếp.

Vụ bắt xử Tạ Vinh tại toà án binh đã diễn ra chóng vánh, bắt chấp mọi nỗ lực chạy tiền lo lót của hội doanh nhân hoa kiều chợ Lớn cũng như hội Tam Hoàng VN , Hồng Kong, rạng sáng ngày 14/3/1966, Tạ Vinh đã bị hành quyết tại trường bắn bao cát này. Tất nhiên sau đó việc thao túng thị trường của người Hoa vẫn tiếp tục nhưng không bao giờ có chuyện đẩy giá quá đáng như trước khi có vụ Tạ Vinh.

Friday, December 11, 2015

Thổ Nhĩ Kỳ quật khởi

by Nguyễn Xuân Nghĩa, shared via Dainamax Tribune.
-----
Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) là quốc gia còn lại của Đế quốc Ottoman được thành lập từ 1299 và bị tan rã sau Thế chiến I, từ năm 1919 đến 1921.

Qua Thế chiến II (1939-1945), xứ Thổ cố gom lại các mảnh vụn của một đế quốc tiêu vong, lại gặp quá nhiều khó khăn kinh tế nên tránh bị lôi vào trận chiến của liệt cường. Thổ giữ thế trung lập. Nhưng sau khi Thế chiến kết thúc, đúng 70 năm trước, vào năm 1946, xứ Thổ bỗng giật mình vì một đòi hỏi của Liên bang Xô viết. Hồ Sơ Người-Việt phải khởi sự từ chuyện đó thì mới hiểu chuyện nay.

Ít ai để ý là 10 năm trước đấy, khi Đức quốc xã của Hitler tấn công vùng Phi quân sự Rhineland và Phát xít Ý của Mussolini tỏ ý muốn chiếm đóng khu vực Anatolia (Tiểu Á, vùng đất Á Châu của nước Thổ), Chính quyền Thổ lo ngại và yêu cầu các nước cùng duyệt lại chính sách quản trị các eo biển Dardanelles và Bosporus trong khu vực, bằng quy chế kiểm soát quân sự.

Đấy là nguồn gốc của văn kiện gọi là Công ước Montreux (tên một thành phố của xứ Thụy Sĩ trung lập) ký kết ngày 20 Tháng Bảy 1946 và được Hội Quốc Liên (League of Nations, tiền thân của Liên Hiệp Quốc) chính thức ban hành từ ngày chín Tháng 11 năm 1936. Ngày nay, văn kiện ấy vẫn còn giá trị.

Có 11 quốc gia tham dự hội nghị Montreux và ký vào Công ước: Anh, Áo, Bulgaria, Pháp, Đức, Hy Lạp, Nhật Bản, Romania, Liên Xô, Thổ và Nam Tư. Là cường quốc đã gây lo sợ cho Thổ, nước Ý không có mặt. Hoa Kỳ còn dửng dưng hơn, chẳng thèm gửi đại biểu đến họp!

Trong hội nghị được triệu tập ngày 22 Tháng Sáu, ba nước Anh, Thổ và Liên Xô đều tìm cách bảo vệ quyền lợi của mình. Với hậu thuẫn của Pháp, Anh và Thổ muốn ngăn Liên Xô từ Hắc Hải vượt eo biển xuống Địa Trung Hải, trong khi Liên Xô đòi tự do lưu thông qua các cửa ải ngoài biển.

Kết quả là Công ước Montreux trao cho Thổ Nhĩ Kỳ nhiệm vụ bảo vệ eo biển: thời bình thì mọi thương thuyền được lưu thông tự do, các chiến hạm không thuộc Hắc Hải mà qua lại hai eo biển trên thì phải chấp nhận quy định rõ rệt về kích thước và sức trọng tải và không được đậu trong Hắc Hải quá 21 ngày. Gặp thời chiến, Thổ Nhĩ Kỳ có quyền cấm các nước lâm chiến đưa chiến hạm vào Hắc Hải, mục tiêu là bảo vệ tính chất trung lập của vùng biển này.

Năm 1946, Liên Xô lại gây áp lực đòi Thổ cho chiến hạm của mình lập căn cứ tại Dardanelles. Để gây sức ép, Moscow đòi chủ quyền trên một phần đất miền Đông của xứ Thổ, hăm he khuấy động dân Kurd đòi ly khai và ủng hộ việc Syria đòi tỉnh Hatay của Thổ. Khi ấy, Thổ Nhĩ Kỳ mới kêu cứu Hoa Kỳ.

Chính quyền Harry Truman có cơ hội tiến hành chánh sách be bờ ngăn Liên Xô tử bùng biển Baltics miền Bắc qua Hắc Hải mà vào tới Địa Trung Hải. Chủ thuyết Truman ra đời vào đầu năm 1947, sau khi Truman yêu cầu Quốc hội viện trợ cho Thổ và Hy Lạp - "nhằm yểm trợ các dân tộc tự do có thể bảo vệ ước nguyện của mình".

Ngày nay, tức là 70 năm sau, tranh chấp Nga Thổ đang khơi lại mâu thuẫn cũ, nhưng với nhiều diễn viên mới trong một cuộc cờ còn phức tạp hơn xưa!

Nga Thổ Tái Kiến
Trong lịch sử, Đế quốc Nga và Đế quốc Ottoman từng có nhiều tranh chấp, thậm chí 12 lần chinh chiến từ thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 19. Qua hậu bán thế kỷ 20, kế thừa Đế quốc Ottoman, Thổ ngả theo Tây phương để tự vệ và trở thành hội viên Hồi giáo duy nhất của Minh ước NATO trong 40 năm Chiến tranh lạnh giữa hai khối.

Sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, Âu Châu phát triển dân chủ qua khu vực Đông-Trung Âu dưới lá chắn bảo vệ của NATO. Với thế giới thì đấy là sự tiến hóa tốt đẹp. Với lãnh đạo Nha thì đấy là xâm lấm và triệt tiêu ảnh hưởng – chẳng khác gì Trung Cộng đời nay. Vì vậy Putin muốn xây dựng vùng trái độn quân sự vây quanh lãnh thổ và tìm lại ảnh hưởng đã mất của Đế quốc Nga.

Biến cố gây chấn động cho xứ Thổ là việc Putin đưa quân vào Georgia Tháng Tám năm 2008 và yểm trợ mà thực tế là chiếm đóng hai khu vực ly khai của xứ này. Thời đó, Putin nổi điên khi Chính quyền Ankara cho phép các chiến hạm Mỹ được vào tiếp tế các hải cảng của Georgia trong biển Hắc Hải. Biện pháp trả đũa của Putin là chặn cả ngàn xe vận tải của Thổ tại biên giới Nga. Chuuyện ấy, chúng ta ít để ý.

Qua năm 2014, khi Putin chiếm đóng bán đảo Crimea của Ukraine thì xứ Thổ như bị nghẹn.

Bán đảo này có 30 vạn người Tatars nói tiếng Thổ cần được Ankara bảo vệ. Nhưng, Thổ còn thấy mối nguy sâu xa hơn: từ nay Nga mặc nhiên sử dụng quân cảng Sevastopol tại Crimea mà khỏi cần Ukraine cho phép. Và nâng cấp hạm đội để đe dọa quyền quản lý các eo biển của Thổ.

Tháng Chín vừa qua, khi Nga đưa quân vào Syria thì mối nguy của năm 1946 tái diễn. Nga có quân gần miền Nam của Thổ Nhĩ Kỳ, liên kết với Iran và Iraq, xúi giục phong trào ly khai trong tỉnh Hatay của Thổ và chặn đứng ảnh hưởng của Ankara trong cộng đồng dân Thổ tại Syria lẫn việc Ankara yểm trợ các lực lượng võ trang của hệ phái Sunni chống chế độ Bashar al-Assad tại Damascus.

Đấy là bối cảnh địa dư và lịch sử giải thích vì sao có vụ đụng độ khi oanh tạc cơ Sukhoi của Nga bị Thổ bắn hạ.

Việc Putin đưa hỏa tiễn phòng không vào Syria sau khi máy bay bị bắn hạ thật ra không đáng chú ý bằng việc Nga có thể sự dụng "Đường Cao Tốc Syrian Express" để đưa chiến hạm từ Sevastopol trong Hắc Hải tới quân cảng Tartus của Syria, tại miền Đông Địa Trung Hải. Với tư cách quản trị các eo biển Dardanelles và Bosporus "trong thời bình", Thổ có thể, trên lý thuyết, gây khó cho nhu cầu quân vận của Nga, khi đòi kiểm tra chiến hạm của Putin căn cứ trên Công ước Montreux. Nhưng Điều 20 của Công ước cũng cho phép Thổ, trong "thời chiến", khóa luôn con đường Nam tiến của các chiến hạm Nga.

Vì dụng binh thì vẫn cần chính nghĩa, vấn đề ngoại giao và định nghĩa về trách nhiệm hay thẩm quyền của các nước đối với Công ước Montreux là một đề tài nên theo dõi! Nó có thể gỉai thích sự hậm hực của Putin.

Người ta cứ so sánh Tổng thống Recep Tayyp Erdogan của xứ Thổ với Vladimir Putin. Cả hai đều có máu độc tài, quả cảm mà liều lĩnh, v.v… Nhưng biết đâu chừng là bất cứ ai lên lãnh đạo đều lãnh di sản của địa dư và lịch sử và khi hữu sự thì phải bảo vệ quyền lợi của quốc gia?

Cũng vậy, nếu hiểu ra di sản ấy, người ta có thể ít nhiều biết trước rằng trong cuộc cờ này, cả Moscow và Ankara cũng bị những giới hạn...

xem thêm ở Dainamax Tribune.


Wednesday, June 24, 2015

George Herbert Walker Bush

George Herbert Walker Bush, (12/6/1924-) là Tổng thống thứ 41 của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ (1989–1993).

Trước khi trở thành Tổng thống, Bush đã là một Dân biểu Hoa Kỳ của tiểu bang Texas (1967-1971), Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc (1971-1973), Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Đảng Cộng hòa (1973-1974), Trưởng Văn phòng Đại diện Hoa Kỳ tại Trung Hoa (1974-1976), Giám đốc Cục Tình báo Trung ương CIA (1976-1977), Chủ tịch Ngân hàng Quốc tế I tại Houston (1977-1980), và là Phó Tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Ronald Reagan (1981-1989). Là một phi công hải quân được tặng thưởng huân chương, Bush là cựu chiến binh cuối cùng của Thế chiến thứ hai phục vụ như là một Tổng thống Hoa Kỳ.

Thời thơ ấu và thanh niên
George H. W. Bush hồi nhỏ. The photograph depicts George H. W. Bush taking his first steps at his grandfather's house in Kennebunkport, Maine.

George Herbert Walker Bush được sinh ra ở Milton, Massachusetts cha là Prescott Bush thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đại diện cho tiểu bang Connecticut và mẹ là Dorothy Walker Bush. Cậu được đặt tên theo ông ngoại là George Herbert Walker, Sr..

Bush bắt đầu đi học ở Trường ban ngày Greenwich Country ở Greenwich, Connecticut, rồi theo học Phillips Academy ở Andover, Massachusetts từ 1936 đến 1942.

Thế chiến II
Sau khi tốt nghiệp Phillips Academy vào tháng 6 năm 1942, Bush gia nhập Hải quân Hoa Kỳ vào ngày cậu tròn 18 tuổi và muốn trở thành một phi công. Sau một khóa học kéo dài 10 tháng, Bush được phân công về Dự bị Hải quân vào tháng 6 năm 1943, vài ngày trước khi tròn 19 tuổi, được xem như là phi công hải quân trẻ tuổi nhất lúc đó.

Sau khi được huấn luyện, Bush được phân công về phi đội Torpedo (VT-51) với vai trò sĩ quan không ảnh vào tháng 9 năm 1943, phi đội này thuộc Hàng không Mẫu hạm USS San Jacinto vào năm 1944.

Vào ngày 2 tháng 9 năm 1944, Bush lái một trong 4 chiếc máy bay của phi đội VT-51 tấn công vào những địa điểm đóng quân của Phát xít Nhật ở Chichi Jima. Máy bay của Bush bị bắn rơi nhưng Bush được cứu sống.

Bush sau đó quay về lại San Jacinto vào tháng 11 năm 1944 và tham gia các trận chiến ở Philippines.

Khi San Jacinton quay lại Guam, phi đội, đã tổn thất nặng nề, được thay thế và được gửi về Hoa Kỳ. Cho đến hết 1944, Bush đã bay 58 phi vụ không kích và được đón nhận huân chương Distinguished Flying Cross, 3 Huân chương Không lực (Air Medals), Presidential Unit Citation được trao tặng trên San Jacinto.

Sau những kinh nghiệm chiến trường quý báu này, Bush được phân công về [Căn cứ Hải quân Norfolk] và được huấn luyện để trở thành phi công phóng thủy lôi. Sau đó Bush được phân công với vai trò là một phi công trong phi đội torpedo mới, VT-153.

Với sự đầu hàng của phát xít Nhật, Bush được giải ngũ trong danh dự vào tháng 9 năm 1945 và vào Đại học Yale.

Vào năm 2003, hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush, thuộc lớp Nimitz bắt đầu được đóng cho Hải quân Hoa Kỳ, và dự định sẽ hoàn thành vào năm 2009.

Sau chiến tranh
Tổng thống Gerald Ford, Richard Nixon, George Herbert Walker Bush, Ronald Reagan và Jimmy Carter (từ trái sang phải). Ngoại trừ Jimmy Carter và George H. W. Bush, các tổng thống còn lại đã qua đời.

Khi tại Yale, Bush tham gia Delta Kappa Epsilon và được bầu là chủ tịch hội. Vào năm cuối, cũng như người con trai sau này George W. Bush (1968) and và cha Prescott S. Bush (1917), ông Bush được kết nạp vào hội bí mật Đầu lâu và Xương chéo (Skull and Bones) vào năm 1948, giúp ông xây dựng những mối quan hệ và ủng hộ về mặt chính trị. Thành viên của Hội Đầu lâu và Xương chéo đã giúp đỡ rất nhiều trong chiến dịch tranh cử tổng thống của ông về sau này bằng những chiến dịch quyên tiền quảng cáo khá lớn.

George Bush thành hôn với Barbara Pierce vào ngày 6 tháng 1, 1945. Họ có 6 người con: George W., Pauline Robinson ("Robin") (1949–1953, mất vì leukemia), John (Jeb), Neil, Marvin, và Dorothy Walker.

Bài trước: Prescott Sheldon Bush

Friday, May 29, 2015

"Ứng cử viên Mãn Châu Lý"

-----
James Power Carne - Người hùng bị nghi ngờ đã bị "tẩy não", "Ứng cử viên Mãn Châu Lý"

James Power Carne (1906 - 1986) , cựu quân nhân người Anh trong chiến tranh Triều Tiên, chỉ huy tiểu đoàn 1 trung đoàn Gloucestershire trong chiến dịch sông Imjin, Hàn Quốc năm 1951. Ngày 22 tháng 4 năm 1951, Carne chỉ huy 700 lính Anh rút về phòng thủ trên đồi 235 với nhiệm vụ cầm chân 10,000 lính Chí nguyện quân Trung Hoa trong khi lực lượng LHQ đang tập hợp phòng thủ sau những đợt tấn công dữ dội của Trung Hoa. Nếu quân Trung Hoa vượt qua được ngọn đồi khi lực lượng LHQ chưa kịp tập hợp có thể dẫn đến việc phòng tuyến bảo vệ thủ đô Seoul bị chọc thủng đe dọa đến thủ đô Hàn Quốc. Bị áp đảo hoàn toàn về quân số, Carne đã thể hiện sự dũng cảm và khả năng chỉ huy khi vừa chiến đấu dưới làn đạn vừa động viên binh sĩ chiến đấu trước "biển người" của Trung Hoa và nhiều lần đẩy lùi các cuộc tấn công mặc dù đã có lúc quân Trung Hoa đã tiến sát đỉnh đồi. Ngày 25 tháng 4, sau các cuộc tấn công bất thành cuối cùng chí nguyện quân Trung Hoa dã chiếm được cứ điểm, Carne cùng những người sống sót bị bắt làm tù binh, lúc này lực lượng LHQ đã bố trí phòng thủ đảm bảo an toàn cho Seul, cuộc phản công của Trung Hoa tạm thời bị đẩy lùi.

Trong khi các binh sĩ Anh bị đưa đi "học tập cải tạo" (re-educated) thì Carne bị tách ra biệt giam, bị thử các loại thuốc tác động đến thần kinh và được cho là đã bị Trung Hoa "tẩy não" để quay lại thực hiện phá hoại các quốc gia phương Tây nhưng bất thành. Năm 1953, Carne được thả tự do sau chiến tranh và được trao tặng Thập tự Victoria, huân chương cao quý nhất của Khối thịnh vượng chung và Thập tự chiến công của Hoa Kỳ. Việc Carne bị nghi ngờ bị Trung Hoa "tẩy não" đã gây 1 số quan tâm của giới tiểu thuyết viễn tưởng, Carne trở thành nguồn cảm hứng cho cuốn tiểu thuyết viễn tưởng "Ứng cử viên Mãn Châu Lý" (The Manchurian Candidate) đã được dựng thành phim năm 1962 và 2004.

Prescott Sheldon Bush

Prescott Sheldon Bush (15/5/1895 - 08/10/1972) là một nhà ngân hàng và chính trị gia người Mỹ. Ông là giám đốc điều hành một ngân hàng ở Phố Wall và là Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, đại diện cho Connecticut từ năm 1952 cho đến tháng Một năm 1963. Ông là cha của George H.W. Bush (Tổng thống thứ 41 của Hoa Kỳ) và ông nội của George W. Bush (Tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ) và Jeb Bush (Thống đốc thứ 43 của bang Florida).

Thiếu thời
Prescott Bush được sinh ra ở Columbus, Ohio có cha là Samuel Prescott Bush và mẹ là Flora Sheldon Bush. Samuel Bush là người quản lý đường sắt bậc trung, sau đó là chủ
tịch công ty thép và trong Thế chiến I là giới chức chính phủ liên bang phụ trách việc điều phối và hỗ trợ cho các nhà thầu vũ khí lớn.

Prescott Bush theo học ở trường St. George ở Newport, Rhode Island, từ năm 1908 đến năm 1913. Năm 1913, ông đăng ký theo học tại Đại học Yale, nơi ông nội của ông, James Smith Bush (lớp 1844), và chú của ông Robert E. Sheldon Jr (lớp 1904) đã trúng tuyển. Ba thế hệ tiếp theo của gia đình Bush đều là cựu sinh viên Đại học Yale. Prescott Bush được thu nhận vào hội nam sinh đại học Zeta Psi và Hội kín Đầu lâu và Xương chéo . George H.W. Bush và George W. Bush cũng là thành viên của hội này.

Theo truyền thuyết của Hội Đầu lâu và Xương chéo, Prescott Bush là một thành viên nhóm Bonesmen, những người đã đào và lấy đi hộp sọ của Geronimo từ ngôi mộ của ông ta tại thành phố Fort Sill, tiểu bang Oklahoma, năm 1918. Theo nhà sử học David L. Miller, các Bonesmen có lẽ đã đào mộ của ai đó tại Fort Sill, chứ không phải của Geronimo.

Prescott Bush là thành viên đội cổ vũ, chơi trong đội golf của trường, bóng bầu dục và bóng chày, và là chủ tịch của Câu lạc bộ Glee của đại học Yale.

Nghĩa vụ quân sự
Sau khi tốt nghiệp, ông Bush phục vụ trong quân đội với vai trò đội trưởng pháo binh dã chiến thuộc Lực lượng Viễn chinh Mỹ (1917-1919) trong Thế chiến I. Ông được đào tạo tình báo tại Verdun, Pháp, và được giao làm phụ tá cho các sĩ quan Pháp trong thời gian ngắn. Luân phiên giữa vai trò tình báo và pháo binh, ông đã thực sự qua lửa đạn trong cuộc tấn công Meuse-Argonne.

Sự nghiệp kinh doanh
Năm 1919, sau khi giải ngũ, Prescott Bush làm việc cho công ty phần cứng Simmons ở St Louis, Missouri.

Năm 1923, gia đình Bush chuyển đến Columbus, Ohio, tại đây Prescott làm việc cho Công ty sản phẩm Hupp một thời gian ngắn. Tháng 11 năm 1923, ông trở thành giám đốc bán hàng của Công ty sản phẩm Stedman ở Nam Braintree, Massachusetts. Trong thời gian này, ông sống trong một ngôi nhà được xây dựng công phu theo kiểu thời nữ hoàng Victoria tại số 173 phố Adams ở Milton, Massachusetts, nơi con trai của ông, George H.W. Bush, được sinh ra.

Năm 1924, Bush trở thành phó chủ tịch của ngân hàng đầu tư A. Harriman & Co nơi bố vợ ông George Herbert Walker là chủ tịch. Bạn học tại Yale và cũng là bạn trong nhóm Bonesmen của Bush là E. Roland Harriman và Knight Woolley cũng làm việc tại công ty này.

Năm 1925, ông đảm nhiệm vị trí giám đốc bộ phận đối ngoại tại Công ty Cao su Hoa Kỳ của thành phố New York và chuyển đến Greenwich, Connecticut.

Năm 1931, ông trở thành người đồng sáng lập Brown Brothers Harriman & Co, công ty được hình thành từ vụ sáp nhập cùng năm đó giữa A. Harriman & Co với Brown Bros & Co., (một ngân hàng thương mại được thành lập ở Philadelphia năm 1818) và Harriman Brothers & Co. (được thành lập ở thành phố New York năm 1927).

Ông rất đam mê golf, và năm 1935, ông được bầu làm chủ tịch Hiệp Hội Golf Hoa Kỳ - USGA.

Từ năm 1944 đến năm 1956, Prescott Bush là thành viên của Tập đoàn Yale, cơ quan quản lý chính của Đại học Yale. Ông là thành viên ban giám đốc của CBS và khoảng năm 1932, được người bạn thân cũng là đồng nghiệp W. Averell Harriman, người sau này có vai trò chủ đạo trong phân chia quyền lực của Đảng Dân chủ giới thiệu với Chủ tịch William S. Paley.

Tập đoàn Ngân hàng Union
Bush là một trong bảy giám đốc (bao gồm W. Averell Harriman) của Tập đoàn Ngân hàng Union (nắm giữ cổ phiếu duy nhất với vai trò giám đốc), một ngân hàng đầu tư hoạt động trong lĩnh vực thanh toán bù trừ cho nhiều tài sản và doanh nghiệp thuộc ông trùm thép người Đức Fritz Thyssen. Tháng 7 năm 1942, ngân hàng này bị tình nghi đã giữ vàng thay cho lãnh đạo Đức Quốc xã. Một cuộc điều tra của chính phủ sau đó đã bác bỏ những cáo buộc này nhưng xác nhận ngân hàng này có bàn tay can thiệp củaThyssens, và tháng 10 năm 1942 Hoa Kỳ phong tỏa ngân hàng này theo đạo Luật Buôn bán với Kẻ thù và nắm giữ tài sản của nó trong suốt thời kỳ Thế chiến II.

Theo nhà báo Joe Conason, vai trò của Prescott Bush ở UBC chỉ đơn thuần liên quan đến thương mại và ông không phải là người ủng hộ Đức Quốc xã. Liên đoàn chống phỉ báng và nhà sử học Herbert Parmet đồng ý với nhận xét trên.

Sự nghiệp chính trị
Prescott Bush hoạt động chính trị rất tích cực trong các vấn đề xã hội. Ngay từ đầu năm 1942, ông đã tham gia Liên đoàn sinh đẻ có kế hoạch Mỹ, và năm 1947 là thủ quỹ của chiến dịch gây quỹ quốc gia đầu tiên của Liên đoàn làm cha mẹ có kế hoạch. Ông cũng là một trong những người đầu tiên ủng hộ Quỹ học đường của Người Mỹ gốc Phi, và năm 1951 là chủ tịch chi nhánh của Quỹ này ở Connecticut.

Từ năm 1947 đến năm 1950, ông làm chủ tịch tài chính đảng Cộng hòa ở Connecticut, và năm 1950, ông là ứng cử viên của Đảng Cộng hòa chạy đua vào Thượng viện Hoa Kỳ. Một nhà bình luận ở Boston nói rằng Bush "được biết đến như là Harry Hopkins của Tổng thống Truman. Không ai biết ông Bush và ông không hề có một cơ hội nhỏ nhoi nào." (Harry Hopkins từng là một trong những cố vấn thân cận nhất của cựu tổng thống Franklin D. Roosevelt.) Mối liên hệ của ông Bush với tổ chức Làm cha mẹ có Kế hoạch cũng gây rắc rối lớn cho ông ở Connecticut nơi có nhiều người theo Thiên chúa giáo, và là lý do dẫn đến các cuộc biểu tình phản đối vào phút cuối ở nhiều nhà thờ bởi các đối thủ của ông; gia đình mạnh mẽ bác bỏ mối liên hệ này nhưng Bush vẫn thua Thượng nghị sĩ William Burnett Benton với chỉ 1.000 phiếu.

Năm 1952, Prescott Bush tìm kiếm cơ hội đối đầu lại với Thượng nghị sĩ Benton, nhưng đã rút lui khi đảng của ông quay sang ủng hộ William Purtell. Tuy nhiên, cái chết của Thượng nghị sĩ Brien McMahon cùng năm đó, khiến một vị trí bị khuyết và lần này các đảng viên Cộng hòa đề cử Bush. Ông đã đánh bại ứng cử viên Đảng Dân chủ, Abraham Ribicoff, và được bầu vào Thượng viện. Là người ủng hộ nhiệt thành đối với Tổng thống Dwight D. Eisenhower, ông nắm giữ vị trí này đến tận tháng Một năm 1963. Năm 1956, ông tái đắc cử với 55 phần trăm số phiếu so với Thomas J. Dodd của Đảng Dân chủ (sau này là Thượng nghị sĩ Mỹ đại diện Connecticut và là cha của Christopher J. Dodd), và quyết định không tranh cử nhiệm kỳ tiếp theo vào năm 1962. Ông là một đồng minh quan trọng trong quá trình thông qua hệ thống xa lộ liên bang của Eisenhower, và trong suốt nhiệm kỳ của mình, ông ra sức ủng hộ dự án tàu ngầm Polaris (được xây dựng bởi Công ty Electric Boat ở Groton, Connecticut), pháp luật về các quyền dân sự, và việc thành lập Tổ chức Hòa bình (Peace Corps).

Ngày 02 tháng 12 năm 1954, Prescott Bush là một trong đa số thành viên (67-22) Thượng viện khiển trách Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa bang Wisconsin - Joseph McCarthy sau khi McCarthy chống lại Lục quân và chính quyền Eisenhower. Trong cuộc tranh luận dẫn đến chỉ trích nêu trên, Bush cho rằng McCarthy đã "gây chia rẽ nguy hiểm trong công chúng Mỹ vì thái độ của mình và thái độ mà ông đã khuyến khích ở những người theo phe mình: rằng không thể có sự khác biệt ý kiến chân thực với ông ta. Hoặc là ta phải tuân theo Thượng nghị sĩ McCarthy một cách mù quáng, không dám bày tỏ bất kỳ nghi ngờ hay bất đồng đối với bất kỳ hành động nào của ông ta, hoặc nếu không, trong mắt ông ta, ta là một đảng viên cộng sản, cảm tình viên cộng sản, hoặc là một kẻ ngốc bị Cộng sản lừa." Sau này, Eisenhower đã ghi Prescott Bush vào danh sách viết tay không rõ ngày tháng các ứng cử viên tiềm năng mà ông ủng hộ trong đợt đề cử ứng cử viên tranh cử tổng thống của đảng Cộng hòa năm 1960.

Trong các vấn đề, Bush thường đồng tình với thị trưởng New York - Nelson Rockefeller. Theo cuốn sách của Theodore H. White về cuộc bầu cử năm 1964, Bush và Rockefeller là những người bạn lâu năm. Bush ủng hộ cặp liên danh Nixon-Rockefeller trong cuộc bầu cử năm 1960, và được cho là đã ủng hộ Rockefeller tranh cử tổng thống năm 1964 cho đến khi Rockefeller tái hôn năm 1963. Ông sau đó công khai chỉ trích Rockefeller đã ly dị người vợ đầu của mình và kết hôn với người phụ nữ mà Rockefeller đã ngoại tình trong lúc còn hôn thú với người vợ đầu tiên.

Một mối quan tâm lập pháp quan trọng khác của Thượng nghị sĩ Bush là phòng chống bão lụt. Ông đã dự thảo Luật Công 71, Đạo luật Điều tra Bão Bush, cho phép các kỹ sư Lục quân Mỹ xây dựng một chương trình mới về bảo vệ cộng đồng khỏi triều cường.

Đời sống cá nhân
Ngôi mộ của Prescott Bush

Prescott Bush kết hôn với Dorothy Walker ngày 06 tháng 8 năm 1921, ở Kennebunkport, Maine. Họ có năm người con: Prescott S. Bush, Jr (10/8/1922 - 23/6/ 2010), George H.W. Bush (sinh năm 1924, được đặt tên theo ông ngoại - cha của mẹ Dorothy là George Herbert Walker), Nancy Bush (sinh năm 1926), Jonathan Bush (sinh năm 1931) và William "Bucky" Bush (sinh năm 1938).

Năm 1937, Bush thành lập Liên hiệp Câu lạc bộ Glee của đại học Yale, một nhóm cựu sinh viên. Giống như bố vợ mình, ông cũng là thành viên của Hiệp hội Golf Hoa Kỳ, liên tục đảm nhiệm các chức vụ như thư ký, phó chủ tịch và chủ tịch, trong giai đoạn 1928-1935. Ông là nhà vô địch nhiều năm liền của câu lạc bộ Round Hill ở Greenwich, Connecticut, và là thành viên ủy ban do Thị trưởng thành phố New York - Robert F. Wagner, Jr. thành lập nhằm góp phần thành lập đội cảnh sát của New York (New York Mets).

Bush có nhà ở New York, Long Island và Greenwich, Connecticut; khu điền trang ở Kennebunkport, Maine; khu đồn điền tại Duncannon rộng 10.000mẫu Anh (40 km²) gần Barnwell, South Carolina; và Đảo Fishers - một hòn đảo hẻo lánh ngoài khơi bờ biển Connecticut.
Bia mộ của Prescott Bush

Ông qua đời năm 1972, hưởng thọ 77 tuổi và được an táng tại Nghĩa trang Putnam ở Greenwich, Connecticut.

Phương Thùy
Wikipedia English

Bài trước: Samuel Prescott Bush

Sunday, May 24, 2015

Nỗi buồn chiến tranh

shared from: Lịch sử hiện đại: Chiến tranh và cách mạng.
-----

Hình vẽ mô tả lại cảnh dân Hà Lan chống Đức Quốc xã đang trừng phạt những cô gái Hà Lan ngủ với lính Đức.

Quãng thời gian lịch sử này là có thật : Tháng 9/1944.


Sunday, May 10, 2015

Samuel Prescott Bush

Samuel Prescott Bush (04/10/1863 - 08/2/1948) là một nhà tư bản công nghiệp Mỹ. Ông là tộc trưởng của gia đình chính trị Bush. Ông là cha của Thượng nghị sĩ Mỹ Prescott Bush, ông nội của cựu Tổng thống Mỹ George H.W. Bush, và là cụ của cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush.

Thiếu thời
Samuel Bush được sinh ra ở nhà thờ Brick, quận Orange, bang New Jersey, là con trai của
Harriet Fay và Mục sư James Smith Bush, một mục sư Giáo hội Giám nhiệm tại nhà thờ Grace ở quận Orange. Ông lớn lên ở New Jersey, San Francisco, và khu Staten Island, nhưng dành phần lớn quãng đời trưởng thành của mình ở Columbus, Ohio. Ông kết hôn với Flora Sheldon ngày 20 tháng 6 năm 1894. Hai người có năm người con: Prescott Bush, Robert (người đã chết khi còn bé), Mary (Mrs. Frank) House, Margaret (Mrs. Stuart) Clement, và James.

Vợ của ông, Flora, đã qua đời ngày 04 tháng 9 năm 1920 ở Narragansett, Rhode Island, khi bà bị một chiếc xe hơi đâm. Sau đó, ông kết hôn với Martha Bell Carter, người Milwaukee, Wisconsin.

Nghề nghiệp
Samuel Bush tốt nghiệp Viện Công nghệ Stevens tại Hoboken, New Jersey năm 1884, nơi ông chơi cho một trong những đội bóng bầu dục đại học chính quy lâu đời nhất. Ông học việc ở Pittsburgh, Cincinnati, Chicago và St. Louis Railroad tại thành phố Logansport, các phân xưởng [sửa chữa, chế tạo máy móc...] ở Indiana, sau đó chuyển đến Dennison, Ohio và Columbus, Ohio, nơi vào năm 1891, ông trở thành thợ cả cơ khí chế tạo (Master Mechanic?), và sau đó vào năm 1894 trở thành Đốc công Lực Chuyển động (Superintendent of Motive Power?). Năm 1899, ông chuyển đến Milwaukee, Wisconsin để giữ vị trí Đốc công Lực Chuyển động cho Chicago, Milwaukee & St. Paul Railroad.

Năm 1901, Samuel Bush trở về Columbus để làm Tổng Giám đốc của Công ty Buckeye Steel Castings, sản xuất phụ tùng đường sắt. Công ty do Frank Rockefeller - em trai của ông trùm dầu mỏ John D. Rockefeller điều hành và trong số các khách hàng của công ty là những tuyến đường sắt do E.H. Harriman kiểm soát. Hai gia đình Bush và Harriman liên kết chặt chẽ với nhau ít nhất là cho đến khi kết thúc Thế chiến II. Năm 1908, Frank Rockefeller nghỉ hưu và Samuel Bush trở thành chủ tịch của Buckeye, ông nắm giữ vị trí này cho đến năm 1927, trở thành một trong những nhà tư bản công nghiệp hàng đầu của thế hệ mình.

Samuel Bush là chủ tịch đầu tiên của Hiệp hội các nhà sản xuất Ohio, và là đồng sáng lập của Câu lạc bộ Scioto Country và Học viện Columbus. Ông là một người đam mê thể thao cuồng nhiệt và là một thợ mộc lành nghề.

Sự xuất chúng về chính trị
Mùa xuân năm 1918, nhà ngân hàng Bernard Baruch được yêu cầu cơ cấu lại Hội đồng Công nghiệp Chiến tranh khi Mỹ chuẩn bị tham chiến trong Thế chiến I, và bổ nhiệm nhiều doanh nhân nổi bật vào các vị trí chủ chốt. Samuel Bush trở thành Trưởng Bộ phận Quân nhu, Vũ khí bộ binh, và Đạn dược, với trách nhiệm quốc gia hỗ trợ chính phủ cho và quan hệ với các công ty sản xuất vũ khí.

Samuel Bush là thành viên của Hội đồng Cục Dự trữ Liên bang chi nhánh Cleveland (cũng như Ngân hàng Huntington National ở Columbus). Năm 1931, ông được bổ nhiệm vào Ủy ban Cứu trợ thất nghiệp của Tổng thống Herbert Hoover, do Walter S. Gifford, khi đó là Chủ tịch của AT&T làm chủ tịch. Ông từng được giới thiệu để làm thành viên trong hội đồng quản trị của Tập đoàn Tài chính Tái thiết, nhưng Hoover cảm thấy ông không nổi tiếng trên toàn quốc.

Mất
Samuel Bush qua đời ngày 08 tháng 2 năm 1948, hưởng thọ 84 tuổi, ở Columbus; ông được chôn cất tại Nghĩa trang Green Lawn, Columbus, Ohio.

Sơn Phạm
Wikipedia English

Bài trước: James Smith Bush

James Smith Bush

Mục sư James Smith Bush (15/6/1825 - 11/11/1889) là một luật sư, mục sư Giáo hội Giám nhiệm (Episcopal*), người viết sách truyền giáo (giáo nghi), và là tổ phụ của gia đình chính trị Bush. Ông là cha của ông trùm tư bản công nghiệp Samuel Prescott Bush, ông nội của cựu Thượng nghị sĩ Mỹ Prescott Bush, cụ của cựu Tổng thống Mỹ George H.W. Bush và là kị của cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush.

Tiểu sử

James Smith Bush được sinh ra ở Rochester, New York với cha là Obadiah Newcomb Bush và mẹ là Harriet Smith (1800-1867). Năm 1851, hai năm sau Cơn sốt vàng California, cha của ông trên đường trở về đoàn tụ gia đình và dự định đưa cả nhà về phía tây, đã bị chết trên tàu và được thả hài cốt trên biển.

Đại học Yale
James Bush vào Đại học Yale năm 1841 (lớp 1844), người đầu tiên trong truyền thống gia đình lâu đời, khi cháu trai Prescott Bush Sheldon, các chắt George H.W. Bush, Prescott Bush Sheldon, Jr. và William H.T. Bush, chắt gọi bằng kị George W. Bush, và chắt gái gọi bằng ông cố - Barbara đều là cựu sinh viên Đại học Yale. Năm 1883, ông được coi là một trong 300 cựu sinh viên và giảng viên Đại học Yale ủng hộ việc thành lập Hội Wolf's Head. Sau khi tốt nghiệp đại học Yale, ông trở về Rochester và theo học luật, trở thành luật sư vào năm 1847.

Hôn nhân đầu tiên
Người vợ đầu của ông, Sarah Freeman, sống ở thành phố Saratoga Springs. Năm 1851, hai người kết hôn nhưng bà đã chết 18 tháng sau khi sinh con.

Cái chết của vợ thúc đẩy James Bush nghiên cứu thần học với mục sư của nhà thờ Tân giáo địa phương. Năm 1855, được thụ phong thầy trợ tế, ông được bổ nhiệm làm mục sư tại nhà thờ Grace mới được tổ chức ở quận Orange, bang New Jersey.

Hôn nhân thứ hai
Ngày 24 tháng 2 năm 1859, ông kết hôn với Harriet Eleanor [Fay], con gái của ông Samuel Howard và bà Susan [Shellman] Fay, tại nhà thờ Trinity, thành phố New York. Fay được sinh ra ở thành phố Savannah, bang Georgia. Cha của bà là cháu đời thứ thứ sáu của John Fay, tộc trưởng nhập cư, sinh ra ở Anh khoảng năm 1648, ngày 30 tháng 5 năm 1656 lên tàu Speedwell ở Gravesend, và cập bến Boston ngày 27 tháng 6 năm 1656.

Con cái
1. James Freeman, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1860, hạt Essex, bang New Jersey
2. Samuel Prescott, sinh ngày 04 tháng 10 năm 1863, quận Orange, bang New Jersey
3. Harold Montfort, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1871, làng Dansville, thành phố New York
4. Eleanor Howard, sinh ngày 07 tháng 11 năm 1873, khu Staten Island, thành phố New York

Samuel được đặt theo tên ông nội của Harriet Fay, Samuel Prescott Phillips Fay.

Nghề nghiệp
Trong hai năm 1865-1866, được nhà thờ cho nghỉ phép, ông tới San Francisco qua eo biển Magellan trên tàu chiến nhỏ bọc thép USS Monadnock cùng Phó Đề đốc John Rodgers (một giáo dân của ông), với các điểm dừng chân thiện chí quốc tế dọc đường đi. Về mặt chính thức, ông được chỉ định là Trợ lý của Phó Đề đốc, nhưng được coi là "quyền cha tuyên úy", tổ chức các buổi lễ trên tàu và thậm chí điều khiển một đám cưới trên tàu cho một người Mỹ gốc Đức họ gặp ở Montevideo [thủ đô của Uruguay], sự kiện do Bret Harte kể lại trong những bức thư của ông. Trùng hợp, hạm đội chứng kiến trận pháo kích ác liệt từ thành phố không phòng vệ Valparaíso, Chile của Hải quân Tây Ban Nha trong Chiến tranh Quần đảo Chincha, sau khi những nỗ lực hòa giải của Rodgers thất bại.

Trong giai đoạn 1867-1872, ông được gọi về nhà thờ Grace (sau này là Nhà thờ Lớn) ở San Francisco, nhưng gặp rắc rối vì các nghĩa vụ gia đình nên chỉ ở đây năm năm. Thời gian ngắn ngủi này của ông và của nhà phát minh phim cuộn nhiếp ảnh Hannibal Goodwin đã bị Mark Twain châm biếm ở mục hàng tuần của mình ở tờ The Californian.

Năm 1872, ông nhận lời gọi từ Nhà thờ Ascension tại Tây Brighton, khu Staten Island. Năm 1884, trong một lần tranh cãi về cuộc xổ số [để bán hàng vì mục đích từ thiện] của nhà thờ (một chiếc đồng hồ vàng đã được bán đấu giá, nhưng ông coi đó là đánh bạc), ông từ chức.

Năm 1883, ông xuất bản một tuyển tập các bài thuyết giáo được gọi là 'Nói thêm về Kinh Thánh' (More Words About the Bible), đáp lại cuốn sách của đồng nghiệp Heber Newton là 'Công dụng của Kinh Thánh' (Uses of the Bible). Năm 1885, cuốn sách của ông 'Bằng chứng về Đức tin' (Evidence of Faith) được tạp chí The Literary World (Thế giới Văn chương) đánh giá là "rõ ràng, đơn giản và khiêm cung", và được tóm tắt như là một lập luận phản đối những giải thích siêu nhiên về Thiên Chúa. Theo tạp chí này, cả hai tác phẩm của ông phù hợp với phong trào nhà thờ rộng rãi. Nhật báo Boston Advertiser (Nhà quảng cáo Boston) gọi tác phẩm thứ hai là "tuyên bố tuyệt vời nhất về tư tưởng thánh linh không bị ngăn trở" trong những cuốn sách gần đây.

Ông nghỉ hưu từ thị trấn Concord, bang Massachusetts, và năm 1888, rời Giáo hội Giám nhiệm và trở thành người theo thuyết nhất thể (Unitarian). Căng thẳng từ sự ly giáo này khiến ông gặp các vấn đề sức khỏe trong suốt phần còn lại cuộc đời. Ông chuyển đến thành phố Ithaca, bang New York, nơi ông đột ngột qua đời khi đang cào lá vào năm 1889.

Sơn Phạm
Wikipedia English

Bài trước: Obadiah Newcomb Bush

* Anh giáo thường được đồng nhất với Giáo hội Anh - giáo hội chính thức của xứ Anh Cát Lợi, nhưng trong thực tế Anh giáo có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới. Anh giáo tại một số nơi như Hoa Kỳ, Scotland được biết đến với tên là Giáo hội Giám nhiệm (Episcopal), từ tiếng La-tinh episcopus, có nghĩa là "Giám mục", có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là "người quản lý". Tên gọi này ngụ ý giáo hội được quản trị theo thể chế Giám mục. Mỗi giáo hội cấp quốc gia được đặt dưới quyền lãnh đạo của một Tổng Giám mục, hoặc Giám mục chủ tịch (Presiding Bishop) như trong trường hợp của Giáo hội Giám nhiệm Hoa Kỳ. Giáo hội quốc gia được chia thành các giáo phận, giữa hai cấp bậc này có thể còn có bậc trung gian nữa là giáo tỉnh, thường tương ứng với địa giới hành chính của các tiểu bang hoặc các tỉnh.
-----
Dưới đây là một số câu nổi tiếng trích từ Sách Cầu nguyện chung do Thomas Cranmer biên soạn:
... dù hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn, dù giàu hay nghèo, dù khi bệnh tật, tôi nguyện yêu em (anh), cho đến khi sự chết chia lìa chúng ta.

Xin Chúa nhân lành cứu chúng con khỏi mọi sự mê muội của trái tim, khỏi sự kiêu ngạo, hư danh, và đạo đức giả; khỏi lòng ganh tị, căm ghét, hiểm độc, và mọi điều hà khắc.

Lạy Chúa, xin chiếu sáng chúng con trong bóng tối; bởi ơn thương xót rất lớn của Ngài, xin gìn giữ chúng con khỏi mọi tai ương và hiểm nghèo trong đêm nay.

Chúng con vẫn luôn sai lầm và lạc lối như chiên đi lạc.

Chúng con bỏ dở những điều cần phải làm, mà lại làm những điều chúng con không được phép làm.

Lạy Chúa toàn năng, Đấng tra xét lòng người, thấy rõ mọi tham dục của họ, không điều gì giấu kín khỏi mắt Ngài; Bởi sự soi sáng của Chúa Thánh Linh, xin thanh tẩy ý tưởng và tấm lòng chúng con để chúng con có thể yêu Ngài trọn vẹn, và xứng hiệp mà tôn vinh Danh thánh của Ngài.

Chúng con, những tôi tớ không xứng đáng của Ngài, xin khiêm nhu dâng lời tạ ơn tự đáy lòng vì sự tốt lành và tình yêu bao dung của Ngài dành cho chúng con, và cho mọi người; Chúng con tạ ơn Ngài vì Ngài đã sáng tạo thế giới và bảo tồn nó, cùng mọi ơn phước trên đời này; nhưng trên hết là vì tình yêu vô bờ của Ngài dành cho thế gian qua Giêsu Kitô Chúa chúng con.

Chúng ta đặt thân thể này xuống lòng đất; đất trở về với đất, tro về với tro, bụi về với bụi; với niềm hi vọng chắc chắn và mạnh mẽ rằng người này sẽ sống lại.