Journey in Life: history
Showing posts with label history. Show all posts
Showing posts with label history. Show all posts

Thursday, September 17, 2020

Sự thật đằng sau Thảm sát Mỹ Lai

Dù ngày nay vụ thảm sát thường được mô tả là do một đơn vị toàn những kẻ mất nhân tính gây ra, nguyên nhân sâu xa nằm ở thất bại của hàng ngũ lãnh đạo, từ vị chỉ huy sư đoàn của Đại úy Medina, Thiếu tướng Samuel W. Koster, cho đến chỉ huy trung đội có liên quan chặt chẽ đến vụ thảm sát, Trung úy William Calley.
-----
On March 16, 1968, Capt. Ernest Medina led his infantry company (đại đội bộ binh) in an assault on the village (làng) of Son My, along the central coast (duyên hải miền trung) of South Vietnam, as part of a mission (nhiệm vụ) to find and destroy a battalion (tiểu đoàn) of the National Liberation Front (mặt trận dân tộc giải phóng), also known as the Vietcong. One of the hamlets (thôn) within the village was called My Lai.

Operating under the assumption (giả định) that villagers of My Lai would be away at the market, Captain Medina planned an aggressive sweep through the area, ordering his men to destroy everything and to kill anyone who resisted. By the end of the day American forces had killed 347 to 504 unarmed Vietnamese women, children and old men, and raped (hãm hiếp) 20 women and girls, some as young as 10 years old.

...Captain Medina and his officers tolerated Charlie Company’s abuse of Vietnamese civilians in the weeks before the massacre (thảm sát). After Pfc. Herbert Carter knocked an unarmed farmer into a well, Lieutenant Calley shot the defenseless man. Captain Medina allowed his troops to use prisoners as human mine detectors (dùng tù nhân làm máy dò mìn) and personally beat captives (tù nhân) during interrogations (thẩm vấn, tra khảo).

Rape became such an endemic (đặc hữu) problem in Charlie Company that one member of its Second Platoon, Michael Bernhardt, assumed that every woman Lieutenant Calley’s platoon came across would be raped within moments. After a booby trap killed Sgt. George Cox, surviving soldiers stole a radio from a local woman and kicked her to death when she protested.

Sergeant Cox’s death set the stage for the My Lai massacre... 

Tuesday, September 1, 2020

"Ăn chay" trước đại hội

đừng "ngủ mặn" nhé, tiêu tan sự nghiệp đấy ;)
-----
...Wallace từng trao đổi thư từ với Nicholas Roerich, một nghệ sĩ, triết gia di cư từ Nga. Roosevelt và Wallace đã vận động Quốc hội ủng hộ chương trình "Ngọn cờ Hòa bình" của Roerich, dẫn đến một hiệp ước trên châu Mỹ để bảo vệ các thể chế nghệ thuật và khoa học trên thế giới trước sự tàn phá của chiến tranh. Năm 1934, Bộ Nông nghiệp gửi Roerich trong một phái đoàn tới Trung Á để tìm các loại cỏ chịu hạn để tránh sự tái diễn của thảm họa Cơn bão Đen. Tuy nhiên khi đến đây Roerich gây rắc rối khi tìm cách hồi sinh vương quốc Phật giáo Shambhala trong truyền thuyết, do đó khiến các cường quốc có ảnh hưởng trong khu vực là Anh và Nhật Bản bất bình. Sau khi Wallace triệu hồi Roerich, chính phủ tiến hành điều tra ông này trốn thuế, nhưng nghệ sĩ này giữ một hộ chiếu Pháp đã tìm cách đi tới Ấn Độ.

Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1940 mà Wallace ứng cử chức Phó Tổng thống, đảng Cộng hòa có được những bức thư Wallace gửi Roerich những năm 1930, gọi ông này là "Dear Guru" ("Bậc thầy đáng mến"), tuy rằng một số người tin rằng một số chứng cớ trong đó là ngụy tạo. Phe Cộng hòa đe dọa sẽ công bố những bức thư này cho công chúng để cho thấy khuynh hướng lập dị và tinh thần tôn giáo "lệch lạc" của Wallace, tuy nhiên đảng Dân chủ đe dọa đáp trả bằng cách tung ra thông tin về vụ ngoại tình giữa ứng viên Cộng hòa Wendell Willkie và nữ nhà văn Irita Van Doren. Do đó chuyện này xẹp xuống, nhưng đến cuối năm 1947 bị nhà báo Westbrook Pegler khơi ra và tạo ra một đòn đánh vào Wallace trong kì bầu cử Tổng thống sắp tới khi đó. Wallace từ chối bình luận về những lá thư này.

Giải bài toán nông dân bỏ ruộng?

bỏ thì sao, có vấn đề gì ko?

bộ trưởng nông nghiệp mỹ còn cho nông dân tiền để họ bỏ ruộng kìa... :D
-----
...Năm 1933, Tổng thống Franklin D. Roosevelt bổ hiệm Wallace làm Bộ trưởng Nông nghiệp Hoa Kỳ, vị trí mà cha ông từng nắm những năm 1921-1924. Henry A. Wallace từng trong danh sách đảng viên Cộng hòa cho đến năm 1936, nhưng từ lâu là một người thuộc phe tiến bộ và từng vận động cho ứng viên Dân chủ Al Smith. Ông là một trong ba người thuộc đảng Cộng hòa được Rooservelt bổ nhiệm làm thành viên nội các. Các chính sách nông nghiệp dưới thời Wallace gây ra tranh cãi: để tăng giá hàng lương thực ông tiến hành việc giết lợn, nhổ các cánh đồng bông, và trả tiền cho nông dân để họ bỏ hoang đất. Ông cũng vận động cho chính phủ mua tích trữ bình ổn thị trường nông nghiệp. Sử gia Arthur M. Schlesinger, người lên án Wallace trong nhiều lĩnh vực khác, lại gọi Wallace là "bộ trưởng nông nghiệp tốt nhất đất nước này từng có", trong khi Erich Rauchway phê phán Wallace và chính sách nông nghiệp thời cải cách kinh tế Roosevelt là quá ưu ái nông dân và duy trì một nền kinh tế trang trại lỗi thời.

Thursday, August 27, 2020

Bức tranh ở Nhà Trắng được Trump yêu thích

Câu lạc bộ đảng viên Cộng hòa, bởi họa sỹ Andy Thomas...
-----

It hangs in the White House, and Trump seems to like the picture. What about the image is striking? I can think of a few things (by prof. tyler cowen):

1. There are no Founding Fathers (tổ phụ lập quốc) in the painting (bức họa, bức tranh), or other references (dẫn chiếu tới) to the more distant past (quá khứ xa xôi), and so "Republicans" are presented as a distinct (riêng biệt, khác biệt) club of their own, above and beyond the broader American tradition. (On the far right, is that Theodore Roosevelt, Vernon Smith, or somebody else?)

2. The first George Bush (upper left), and Gerald Ford, are both denied a "seat at the proverbial table." Bush seems to look on with admiration (ngưỡng mộ). The second George Bush, on the left side of the table seated, appears run down and haggard (hốc hác, phờ phạc), defeated by the job. He looks a wee bit like a paler Obama.

3. Nixon, who had to resign (từ chức), drinks alcohol while Trump seems to have Coca-Cola.

4. Reagan is shown as Trump's only peer, while Eisenhower is the one "closest" to Trump, and the one most appreciative (biết đánh giá, biết thưởng thức). Of course many of Trump's policy preferences (ưu tiên chính sách) seem aimed at returning us to the Eisenhower era in some way (higher tariffs (thuế cao hơn), lower immigration (dân nhập cư ít hơn), less regulation (ít điều tiết/quản lý), etc.)

5. Trump is the only one with a tie, except for TR, and it is a striking red tie (cà vạt đỏ nổi bật).

6. Hoover, Harding, and Coolidge are in the distant back right.

7. It reminds me of a variety of "Last Supper" (bữa tối cuối cùng) paintings, though not Leonardo's. There are twelve of them.

8. The background, with its column and twinklings lights, is reminiscent (gợi nhớ) of late 19th century French impressionism (trường phái ấn tượng).

9. Who is the bearded figure in the foreground, with his back to us? At first I thought it was Mephistopheles, but it turns out to be Lincoln. He is a passive onlooker with weak shoulders, and with no commanding or influential (gây ảnh hưởng) presence of his own.

10. Andy Thomas, the artist, also painted the very different The Democratic Club. You could write a short book on the contrasts between the two paintings, for instance notice the Democrats are drinking beer and have a much wider and open background, with fewer columns.

Sunday, August 23, 2020

Chợt thương Nguyễn Huệ

shared from fb nguyễn đức thành,
-----
Anh em Tây Sơn từ khi nổi loạn cho đến khi được nước, lúc nào tình cảnh cũng như trứng để đầu gậy, không lúc nào yên. Đó là điều đáng thương vậy. 

Tất nhiên nghiệp của Tây Sơn do họ tự tạo. Mầm bại vong chí tử của anh em Tây Sơn là họ không có một tầm nhìn cụ thể về hiện tại cũng như tương lai cho giang sơn mà họ chiếm được. Điều này dễ hiểu vì họ không được chuẩn bị cho điều ấy. 

Sai lầm lớn nhất của Nguyễn Nhạc là thiết lập chế độ phong kiến cát cứ, chia đất nước thành những vùng khác nhau cho các em cai trị. Đây là mô hình khiến phong trào Tây Sơn không củng cố được sức mạnh mà họ đã có được nhờ bạo lực, chứ chưa nói đến phát triển nó lên. 

Vì sự cát cứ này, lãnh thổ của Nguyễn Nhạc nằm ở miền Trung vô tình trở thành phên dậu giúp Nguyễn Ánh ở miền Nam không phải trực tiếp đối đầu với Nguyễn Huệ ở miền Bắc. Và điều này sẽ kết liễu nhà Tây Sơn. 

Nhưng trở lại nhân vật Nguyễn Huệ. Vì sao tôi nói ông rất đáng thương. Ấy là vì do hoàn cảnh, ông đã gần như làm chủ miền Bắc là đất do ông tự chiếm lấy để có một chút không gian sinh tồn. Nhưng dân Bắc Hà chưa bao giờ đón nhận ông, và ông hiểu điều đó nguy hiểm chừng nào. Nên ông phải chọn Nghệ An là nơi lập kinh đô, để vừa đủ xa cũng như đủ gần Bắc Hà. Đồng thời lại cũng đủ gần vùng miền Trung của Nguyễn Nhạc để đợi dịp thu phục khi ông anh cả suy yếu. (Nếu đúng thế, thì chứng tỏ ông cũng chưa hiểu dân Thanh-Nghệ.) Tuy nhiên, nếu ai đã tới địa bàn mà ông định xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô ở Nghệ An, sẽ thấy đó là một nơi nhỏ bé, chỉ thích hợp cho một sứ quân thời Đinh Bộ Lĩnh mà thôi. Nguyễn Hữu Chỉnh còn sống hẳn đã khuyên can ông rồi. 

Ngay cả khi Nguyễn Huệ xây dựng xong kinh đô ở đó từ lúc còn sống, thì cũng không ai đảm bảo đó là một căn cứ bền vững cho tập đoàn của ông, xét trên phương diện lòng người và địa kinh tế-chính trị. 

Vậy là, cho tới khi sắp lâm chung, Nguyễn Huệ vẫn chưa tìm được chỗ dung thân, dù ông đã trải một đời oanh liệt. Phải ở vào thế người lãnh đạo mới thấy điều này hệ trọng thế nào. 

Lời nhắn nhủ trước lúc ra đi của ông cho thấy ông hy vọng vào kinh đô mới ở Nghệ An ra sao. Nhưng có thể ông cũng đã linh cảm được rằng đó chỉ là một cái cớ để cho các triều thần của ông hy vọng thôi, một cái phao tinh thần mong manh giữa cơn hồng thuỷ, mà kết cục khốc liệt dành cho Tây Sơn đã tới từ trước đó rồi.

Thương lắm thay.

Wednesday, August 19, 2020

Nàng Hannah bí ẩn

là phát thanh viên trịnh thị ngọ, sinh năm 1931, con gái của ông chủ nhà máy thủy tinh lớn nhất việt nam, mê phim mỹ (cuốn theo chiều gió), gia nhập đài tiếng nói việt nam (vov) năm 1955 (24 tuổi), tuyên truyền, làm lung lạc ý chí lính mỹ tại việt nam như: những tin tức chiến tranh được thổi phồng, cổ động việc ám sát cấp trên (frag) hay đào ngũ (AWOL), hoặc ẩn ý rằng vợ/bạn gái của những người lính đang lừa dối họ.... 
-----

Her name was Trinh Thi Ngo, but she called herself Thu Huong, “The Fragrance of Autumn.” We called her Hanoi Hannah. She was North Vietnam’s chief voice of propaganda (tuyên truyền), reaching out over the airwaves (sóng phát thanh) to American servicemen (quân nhân, binh lính) across South Vietnam, attempting to convince (thuyết phục) them that the war was immoral (vô đạo) and that they should lay down their arms (hạ vũ khí) and go home (về nhà).

Her job was to chill (làm ớn lạnh; làm nhụt (nhuệ khí, nhiệt tình...); giội gáo nước lạnh (bóng) ) and frighten, not to charm and seduce (thuyết phục; cám dỗ, rủ rê, quyến rũ (làm cái gì sai trái..)). Her English was almost impeccable (hoàn hảo, không chê vào đâu được, không có chỗ xấu, không tỳ vết (đồ vật...)); men would stumble across her while tuning their radios and be unable to turn away. “How are you G.I. Joe?” she asked in a June 1967 broadcast. “It seems to me that most of you are poorly informed (cung cấp thông tin sai lệch) about the going of the war, to say nothing about a correct explanation of your presence over here. Nothing is more confused than to be ordered into a war to die or to be maimed (bị thương tật) for life without the faintest idea (ý nghĩ mơ hồ nhất) of what’s going on.”

She was born in Hanoi in 1931. Her father owned the largest glass factory in Vietnam.

...Her broadcasts were mostly exaggerated (thổi phồng) war news, encouragement to “frag” — assassinate (ám sát) — an officer and go AWOL, or suggestions that the soldiers’ wives or girlfriends were cheating (phản bội, lừa dối, ngoại tình) on them. She was mostly greeted with loud laughter. But taped interviews with downed pilots (phi công bị bắn hạ) or from American antiwar advocates (ủng hộ phản chiến) like Jane Fonda were heard with anger.

For bored G.I.s, Hannah’s broadcasts were often rare sources of amusement (giải trí, buồn cười). A man’s radio was, after his rifle (súng trường), his most valued possession. Like the rifle butt, the radio was often wrapped in frayed black tape for protection. Troops would laugh over Hannah’s attempts to scare them into defection (đào ngũ) or suggestions to frag an officer. However, they did wonder if she was as lovely as she sounded, and many considered her the most prominent enemy after Ho Chi Minh.

Thursday, August 13, 2020

Bước nhảy về phía tự do

shared from fb lê quang huy,
-----
Ngày 13/08/1961, bức tường Berlin chia đôi thành phố này được nhà cầm quyền CHDC Đức khởi công xây dựng. 

Ngày 15/08/1961, người lính Đông Đức Hans Conrad Schumann 19 tuổi được điều đến làm nhiệm vụ tại giao lộ Ruppiner Straße và Bernauer Straße để bảo vệ bức tường Berlin đang được thi công vào ngày thứ ba. Vào lúc đó, tại nơi anh lính trẻ được điều đến chỉ có một cuộn dây thép gai.

Từ phía bên phần lãnh thổ phía Tây, người dân Tây Đức hét lên: "Komm' rüber!" ("Đến đây đi!") Sau một thoáng chần chừ, Schumann vụt nhảy qua đoạn dây thép gai về phần đất Tây Berlin và được cảnh sát Tây Berlin nhanh chóng đưa đi nơi khác. Vào thời điểm đó, nhiếp ảnh gia người Tây Đức Peter Leibing đã nhanh tay kịp thời chụp được bức ảnh đào thoát của anh lính trẻ Schumann. Hình ảnh của anh từ đó đã trở thành một hình ảnh mang tính biểu tượng của thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Tháng 05/2011, bức ảnh "Bước nhảy về phía tự do" này (Leap into freedom) đã được đưa vào chương trình Di sản Tư liệu thế giới của UNESCO như một phần của một bộ sưu tập tài liệu về sự sụp đổ của bức tường Berlin.

Hiện nay chưa có số liệu thống kê chính xác, nhưng trong thời gian tồn tại của bức tường Berlin từ năm 1961 cho đến năm 1989, đã có rất nhiều người bị chết vì ngã, bị giam cầm, bị hành hình hoặc bị bắn chết tại chỗ khi cố vượt bức tường này để tìm về tự do.
(Nguồn ảnh: tải về từ Google)

Tuesday, April 14, 2020

Các cuộc chiến Nga-Ottoman

đế quốc ottoman suy yếu và nước nga bành trướng về phương nam...
-----
Russo-Turkish wars, series of wars between Russia and the Ottoman Empire in the 17th–19th century. The wars reflected the decline of the Ottoman Empire and resulted in the gradual southward extension of Russia’s frontier and influence into Ottoman territory. The wars took place in 1676–81, 1687, 1689, 1695–96, 1710–12 (part of the Great Northern War), 1735–39, 1768–74, 1787–91, 1806–12, 1828–29, 1853–56 (the Crimean War), and 1877–78. As a result of these wars, Russia was able to extend its European frontiers southward to the Black Sea, southwestward to the Prut River, and south of the Caucasus Mountains in Asia.

Bài trước: Sự ăn năn của Ivan

Tuesday, April 7, 2020

Sự ăn năn của Ivan

Ivan IV Vasilyevich (Иван IV Васильевич; 25/8/1530 – 18/3/1584) là Đại công tước Moskva từ năm 1533 tới năm 1547. Ông là nhà cầm quyền đầu tiên của nước Nga chính thức xưng Sa hoàng (năm 1547). Trong thời gian cầm quyền kéo dài của mình ông đã chinh phục các hãn quốc Tartar và Xibia cũng như chuyển nước Nga trở thành một quốc gia đa sắc tộc và đa tôn giáo. Trong lịch sử Nga, vị Nga hoàng này đơn giản được gọi là Ivan Grozny (Иван Грозный), và được dịch sang tiếng Việt thành Ivan Bạo Chúa, Ivan Lôi Đế, Ivan Khủng Khiếp hay Ivan Hung Đế.

Ivan Hung đế được cho là một Nga hoàng có năng lực và tài trí, nhưng ông cũng bị cho là một bạo chúa đã giết hại nhiều người trong cơn thịnh nộ của mình, bao gồm cả Hoàng tử Ivan Ivanovich. Tuy nhiên trong văn học dân gian Nga, Ivan Hung đế không phải là bạo chúa mà là hiện thân của chính nghĩa, của người bảo vệ dân chúng khỏi bè lũ quý tộc quan lại thối nát. Người ta cho rằng Ivan Hung đế đã tranh thủ được lòng tin của dư luận để phục vụ cho cuộc tranh đấu với các quyền thần và với tầng lớp quý tộc Nga.

...Năm 1581, Ivan đã đánh cô con dâu đang mang thai của mình vì tội mặc quần áo khiếm nhã, có thể đây là nguyên nhân khiến cô bị sẩy thai. Con trai ông, cũng tên là Ivan, khi biết tin này đã lao vào một cuộc tranh cãi nảy lửa với cha, cuộc tranh cãi kết thúc khi Ivan dùng cây gậy nhọn đánh vào đầu con mình, gây ra cái chết của người con trai (tai nạn). Sự kiện này đã được thể hiện trong bức tranh nổi tiếng của Ilya Repin, Ivan Bạo chúa và con trai Ivan vào thứ Sáu, 16 tháng 11 năm 1581 nổi tiếng hơn với tên gọi Ivan Bạo chúa giết con trai.

...Dù nhiều người nghĩ rằng Ivan qua đời khi đang sắp xếp một bàn cờ, có lẽ đúng hơn là ông qua đời khi đang chơi cờ với Bogdan Belsky ngày 18 tháng 3 năm 1584. Khi hầm mộ của Nga hoàng Ivan được mở ra trong cuộc trùng tu hồi thập niên 1960, xác ông được xét nghiệm và phát hiện có chứa hàm lượng thuỷ ngân lớn, cho thấy rất có thể ông đã bị đầu độc.[7] Các nghi vấn hiện tại tập trung vào các cố vấn của ông là Belsky và Boris Godunov (người trở thành Nga hoàng năm 1598). Ba ngày trước đó, Ivan được cho là đã định cưỡng hiếp Irina, em Godunov và là vợ của Feodor. Những tiếng kêu của bà khiến Godunov và Belsky chú ý, sau đó Ivan thả Irina, nhưng Belsky và Godunov coi mình như đã bị lĩnh án tử hình. Truyền thống cho rằng họ đã đầu độc hoặc bóp cổ Ivan đến chết vì lo sợ cho tính mạng của mình. Thuỷ ngân được tìm thấy trong thi thể Ivan cũng có thể liên quan tới việc điều trị bệnh giang mai, bệnh được cho là Ivan đã từng mắc phải. Ngay khi Ivan qua đời, đất nước đã bị tàn phá rơi vào tay người con trai bất tài và còn nhỏ tuổi của ông là Fyodor I.

Sự ăn năn của Ivan: ông đã yêu cầu một cha bề trên tại Tu viện Pskovo-Pechorsky cho phép ông được vào tu tại đây.

Bởi Klavdy LebedevSelf-photographed, Phạm vi công cộng, Liên kết

Bài trước: Hoàng thân Metternich

Monday, April 6, 2020

Trụ đèn giao thông đầu tiên trên thế giới

shared from fb Phan Lặng Yên,
-----
Được dựng tại ngã tư sát gần Điện và cầu Westminster, tháp Big Ben ngày 9/12/1868. Trụ đèn được thiết kế bởi k.s đường sắt J.P. Knight, mô phỏng theo đèn-gác chắn tàu hỏa. Điểm giao này vốn đông đúc hỗn loạn ngựa xe và người bộ hành, một tháng trước khi trụ được lắp, hai nghị sĩ bị thương nặng, một csgt thiệt mạng tại đây.

Trụ cao hơn 6m, với đèn thắp bằng khí gas: đèn đỏ dừng lại nhường đường cho người đi bộ, đèn xanh thì được cẩn trọng đi qua. Ban ngày đèn khó thấy nên thêm ba cánh quạt semaphore được lắp, semaphore nằm ngang = đèn đỏ, cúi xuống 45 độ như hình = đèn xanh. Trụ đèn được điều khiển thủ công bằng cần gạt.

Đèn có tác dụng chút đỉnh lúc đầu, nhưng nhiều người khác nghi ngờ, có báo thì châm biếm: nhìn kinh như ma đêm trong sương (hình comment). Nhưng nhìn chung thì đèn kém hiệu quả, các anh đánh xe không hiểu các semaphore có ý gì, hoặc mặc kệ nó luôn. Đèn cũng thường hỏng hóc, chỉ được chừng một tháng, 1/69, khí gas rò rỉ khiến chân đèn phát nổ, làm bỏng mặt viên cảnh sát gạt đèn. Đèn hoạt động thêm vài tháng nhưng thường xuyên hỏng hóc và kém hiệu quả, đến cuối năm thì bị tháo bỏ. Đèn giao thông chỉ xuất hiện trở lại ở London tận 57 năm sau - 1926, lần này chạy điện không lo cháy nổ nữa.


Bài trước: Hoàng thân Metternich

Monday, March 30, 2020

Hoàng thân Metternich


Hoàng thân Klemens Wenzel von Metternich (tên đầy đủ tiếng Đức: Klemens Wenzel Nepomuk Lothar, Fürst von Metternich-Winneburg zu Beilstein; 15/5/1773-11/6/1859) là một chính trị gia xứ Rhineland và là một trong những nhà ngoại giao quan trọng nhất thế kỷ 19, đảm nhiệm vị trí Bộ trưởng Ngoại giao của Đế quốc Áo từ năm 1809 cho tới khi cuộc Cách mạng châu Âu năm 1848 buộc ông phải từ chức. 

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của ông là dàn xếp căng thẳng với nước Pháp bằng cách gả Nữ Đại công tước Áo Marie Louise cho Hoàng đế Napoléon, tuy nhiên sau đó dưới sự dẫn dắt của ông nước Áo dính líu quan trọng vào Chiến tranh Liên minh thứ sáu, lãnh đạo Đại hội Vienna quyết định sự phân chia quyền lực châu Âu hậu Napoleon. Tài tháo vát ngoại giao của Metternich đã giúp Áo, vốn không phải là một cường quốc quân sự hàng đầu, đóng vai trò trung tâm trong trật tự chính trị châu Âu những năm 1815-1848 thường được biết đến dưới tên "Hệ thống Metternich" mà đặc điểm chính là luận điểm cân bằng quyền lực giữa các liệt cường.

Metternich được phong tước Hoàng thân năm 1813 và đồng thời đảm nhiệm chức quan Chưởng ấn (tức Tể tướng) của Đế quốc Áo. Đối với việc nội trị, Metternich tỏ là một người bảo thủ, kiên quyết đàn áp các phong trào tự do và dân tộc chủ nghĩa trong nội bộ đế quốc.

Ông cũng là bá tước của Königswart và từ 1818 công tước của Portella.


Saturday, March 7, 2020

40 năm không quên

người dân làng Mullaghmore ở hạt Sligo của Ireland không thể "chạy trốn" khỏi sự kiện IRA khủng bố ngày 27/8/1979 giết chết Lord Louis Mountbatten - tổng trấn cuối cùng của ấn độ (chú của vương tế Philip, công tước xứ Edinburgh)
-----

The remembrance (lễ tưởng nhớ) will be held on a grassy hill overlooking the Atlantic waters where the IRA bomb exploded (bom nổ) on a clear sunny morning 40 years ago, killing Lord Louis Mountbatten and three companions (người đồng hành).

There will be prayers (lời cầu nguyện) and hymns (hát thánh ca), recollections (hồi tưởng) and tributes (vật tặng, lời nói để tỏ lòng kính trọng; cái để tỏ lòng tôn kính), messages and flowers, a small, intimate affair.

But for Mullaghmore, a village in County Sligo on Ireland’s north-west coast, it may feel on Tuesday as if the whole world is watching. And perhaps judging (đánh giá).

...Instead of celebrating Mullaghmore’s beauty an endless stream of books, documentaries  (phim tài liệu) and articles (bài báo) – including this one – stigmatise (làm nổi rõ tính cách (xấu); bêu xấu (ai); đóng dấu sắt nung vào (người nô lệ)) the community and force it to revisit the tragedy (thảm họa), said McGowan. “You’re a plague. We get our snouts pushed into it whether we want to or not.”...

Monday, November 11, 2019

Thích Trí Quang: 'Một trang lịch sử'

trích phỏng vấn Geoffrey Shaw, tác giả cuốn sách "The Lost Mandate of Heaven: The American Betrayal of Ngo Dinh Diem, President of Vietnam".

theo đó, tổng thống kennedy (do sợ bị kết án là điều hành một băng nhóm công giáo trong nhà trắng) đã chơi lá bài 'chống công giáo' là cử Henry Cabot Lodge (theo tân giáo) làm đại sứ mỹ tại sài gòn, ông này đã lừa dối (trắng trợn) diệm là mỹ đang tiếp tục ủng hộ, trong khi vẫn "phỉnh phờ" các tướng lĩnh do dự của miền nam tiến hành đảo chính - mà theo tác giả là: như cố "đẩy sợi bún", các tướng lĩnh ko thực tâm muốn, chỉ duy nhất tướng dương văn minh (béo) cực kỳ muốn trả thù vì minh béo bị ông nhu mắng nhiều năm trước khi phát hiện thụt quỹ lớn của chính phủ (nhưng ông diệm ko muốn nặng tay quá, mà "đá lên trên" (ngồi chơi xơi nước))...
-----
...
CWR: You don’t write much about it in the book, but did the long and deeply rooted American tradition of anti-Catholicism have anything to do with the Kennedy Administration’s abandonment of Diem? (There is irony in the question, considering that Kennedy was the first Catholic president—but the State Department, the media, and the American electorate remained predominantly non-Catholic.)

Shaw: Yes, I think you have hit the proverbial nail on the head (nói chính xác, đúng sự thật) in this question as Kennedy was greatly concerned about being accused (bị kết án) of running a Catholic cabal (bè đảng, phe đảng (chính trị)) in D.C. This was so much the case that he bent over backwards to create the opposite impression (ấn tượng ngược lại), which helped Diem’s foes (kẻ thù) substantially. For example, the ambassador sent out to replace Nolting, Henry Cabot Lodge, came from a prestigious (danh tiếng) New England family that was every-inch the upper-crust Episcopalian, non-Catholic Bostonian. In turn, he felt no particular restraint (kiềm chế, hạn chế) upon himself when he went out to Vietnam to usher (báo hiệu, mở ra; đánh dấu sự khởi đầu) in a coup (đảo chính, lật đổ) against Diem in 1963. He lied straight-faced to Diem about how America would keep on supporting him while he had reluctant (do dự, dao động) Vietnamese generals cajoled (phỉnh phờ, tán tỉnh) into coup-formation. He even gave an enemy of the state (kẻ thù của chế độ), Thich Tri Quang, asylum (tị nạn) in the U.S. Embassy, even while the devilish (ma tà, gian tà, quỷ quái; ác hiểm, hiểm độc, độc ác) monk (nhà sư, thầy tu) continued to orchestrate (dàn xếp cái gì cẩn thận (và đôi khi không ngay thẳng) để đem lại một kết quả mong muốn; sắp đặt; bố trí) insurrection (cuộc nổi dậy) against Diem. Kennedy knew that Lodge had “gone off the reservation” (hành động vượt rào) but felt helpless to recall him lest the “Catholic card” was played against him. It was a very odd, paradoxical playing out of the problem of politically correct (phải đạo chính trị) reverse discrimination as it would seem; had Lyndon Johnson been at the helm (lãnh đạo) at that critical hour—and we know he was not worried one iota about being accused of bias in favor of Catholics—the coup would have never happened.

Most Americans do not realize just how much Lodge and the Harriman cabal had to push the Vietnamese generals to embark on a coup. I remember reading one report—I think it was from CIA operative Lucien Conein to Lodge—stating that getting the ARVN (South Vietnam army) generals to plot against Diem was like trying to push spaghetti. The would-be Vietnamese coup officers were quite distinctly (dễ thấy) dragging their heels (trì hoãn, làm rất chậm chạp), and Kennedy’s men were trying to push them on. The only one who truly wanted to get Diem was General Duong Van (“Big”) Minh as he had been disgraced (sự ô nhục, sự nhục nhã, sự hổ thẹn; điều ô nhục, điều nhục nhã, điều hổ thẹn) by Nhu many years earlier when Nhu caught him stealing (ăn trộm) a vast sum from the government. Nhu wanted Minh tried and sent to prison (bỏ tù) but Diem, always reluctant to be harsh, simply had Minh “kicked upstairs.”

So, with little doubt, Kennedy’s reluctance to even appear to have played the “Catholic card” actually helped, and to a substantial degree, the overthrow (lật đổ) and murders (ám sát) of Diem and his brother, Nhu. I also think Harriman was keenly aware that he could bully JFK over the Catholic issue because that is what he most certainly did in their Oval Office (Phòng Bầu dục) meetings concerned with Diem.

Sunday, November 10, 2019

30 năm bức tường Berlin và dòng chảy lịch sử

cách đây đúng 30 năm, ngày 09/11/1989, bức tường Berlin chia cắt Đông Đức và Tây Đức đã sụp đổ - một sự kiện lớn của thế kỷ 20.
-----
...It was hard to imagine then that, within a few months, this forbidding barrier would tumble down, the border shootings (bắn giết ở biên giới) would cease (ngừng/dừng lại), East Germans would be free to leave what for many had become an open prison (nhà tù lớn), and the cold war (chiến tranh lạnh), with its threat of nuclear Armageddon and all its other malign (độc ác, thâm hiểm, ác tính) ramifications (phân nhánh, chia nhánh), was finally coming to an end. “Ich bin ein Berliner,” (tôi là người berlin) John F Kennedy had famously declared (tuyên bố) in 1963. Now, suddenly, everyone was.

Phrases such as “turning point” (điểm ngoặt) and “historic watershed” (dòng thác lịch sử) are overused in contemporary discourse (bài thuyết trình; bài diễn thuyết; bài luận văn; bài diễn văn). But the fall of the wall, 30 years ago this weekend, was the supreme (tối cao, lớn nhất; quan trọng nhất; cao nhất) symbol (biểu tượng) of a truly hopeful global moment. It transformed Europe’s future prospects. It signalled an end to proxy wars (chiến tranh ủy nhiệm) from Luanda and Kabul to Managua and the Ogaden. It foreshadowed and hastened the Soviet Union’s collapse. It elevated the US as sole superpower, overseeing what George HW Bush portentously declared to be a “new world order” (trật tự thế giới mới). And it brought hope of peace...

Saturday, June 29, 2019

Gia tộc Orange-Nassau

shared from fb Hau Dang Van,
-----
"Lịch sử là do nhân dân làm nên. Thế nhưng trong thực tế, vận mệnh các quốc gia, dân tộc trên thế giới xưa nay hầu như đều quyết định bởi một số ít người thuộc tầng lớp được gọi là tinh hoa dân tộc."

Khi Antwerp suy thoái là lúc Amsterdam nổi lên như trung tâm tài chính của thế giới. Trong thế kỷ 16, người Hà Lan thống lãnh việc vận tải thương mại tại khu vực Baltic và hoạt động rất tích cực tại các vùng lãnh thổ của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Cuộc chiến với Tây Ban Nha vào cuối thế kỷ 16 mở ra cho người Hà Lan nhiều cơ hội thương mại quốc tế hơn. Đây là cơ hội để người Hà Lan nhanh chóng thành lập đế chế của riêng mình, và cuối cùng đã giành được quyền kiểm soát New Amsterdam (ngày nay là New York), các quần đảo châu Á mà ngày nay là Indonesia, hàng loạt hòn đảo tại vùng Caribbean và Suriname, và trong một thời gian ngắn là một phần Brazil và bờ biển phía đông châu Phi.

Hà Lan thế kỷ XVII chỉ với 1,7 triệu dân mà trở thành cường quốc, có 16 nghìn tàu buôn, tổng trọng tải hơn cả đội tàu Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cộng lại. Hải quân nước này đánh bại hạm đội liên quân mấy cường quốc.

Quan trọng hơn cả,người Hà Lan đã thực hiện các biến đổi sâu sắc trong tài chính vào đầu thế kỷ 17. Mặc dù an ninh quốc gia liên tục bị đe doạ bởi các hoàng tử Đức, Pháp, và Tây Ban Nha, nền độc lập của Hà Lan vào thế kỷ 17 được duy trì tương đối ổn định. Môi trường chính trị ổn định là điều kiện đầu tiên giúp hoạt động thương mại thăng hoa. Và do vậy, nhu cầu một hạ tầng tài chính phát triển hơn và phức tạp hơn xuất hiện. Năm 1602, người Hà Lan cho thành lập các khu chợ có tổ chức dành cho việc trao đổi các công cụ tài chính. Ngân hàng Ngoại tệ Amsterdam (Amsterdam Exchange Bank) được thành lập năm 1609. Sở giao dịch chứng khoán Amsterdam (Amsterdam Stock Exchange) mở cửa năm 1611. Để làm nền móng cho các phát triển trên, người Hà Lan đã phát triển một hệ thống ngân hàng vững mạnh, biến Hà Lan trở thành nỗi ghen tị với phần còn lại của châu Âu, đặc biệt là Anh quốc.

Người Hà Lan thống lĩnh hệ thống tài chính quốc tế trong suốt thế kỷ 17 với nguồn tài chính từ các quốc gia đang tìm hướng phát triển kinh tế qua các hải đội của mình như Anh và Pháp. Sự thống lĩnh của người Hà Lan về tài chính, tuy vậy, đã mở đường cho người Anh tiến lên vị thế này trong thế kỷ 19.

Hà Lan đầu tiên trên thế giới lập ra ngân hàng, công ty cổ phần và công ty tư vấn. Tất cả nhờ tài lãnh đạo của các tinh hoa gia tộc Orange-Nassau, trong đó có William năm 1689 trở thành vua nước Anh.

=>Bức tranh toàn cảnh về tài chính và chính trị Hà Lan thế kỉ 16-17 với những đường nét nổi trội và màu sắc đặc biệt so với phần còn lại của Châu Âu được khắc họa bởi “tinh anh” gia tộc Orange-Nassau. Phần tiếp theo mình sẽ giới thiệu những nhân vật, những chi tiết… bị lớp bụi lịch sử và ánh hào quang của gia tộc Orange làm phai nhạt. Cả Châu Âu với lệnh trục xuất người Do Thái trên toàn lãnh thổ quốc gia đã “vô tình” ban cho dân tộc Do Thái sức mạnh của ý chí,sự đoàn kết và đặc biệt sự sáng tạo trong kinh doanh “tài chính”.


Bài trước: Người anh hùng của đất nhỏ

Wednesday, May 15, 2019

Điều khiến người Tây Ban Nha sợ nhất trong cuộc chinh phục Artec

'tháp sọ người' Huey Tzompantli, ở Tenochtitlan, ước tính mỗi bên chứa khoảng 130.000 hộp sọ,

trận động đất kinh hoàng năm 1985 khiến 10.000 người chết bị coi là thảm họa quốc gia, lại là món quà trời cho với ngành khảo cổ, khi làm lộ ra vị trí chính xác của kinh đô Tenochtitlan cũ, bị chôn vùi dưới hơn 35m đất của Mexico City.
-----
The full horror of the Aztec 'skull tower' revealed: Archaeologists (nhà khảo cổ) say THOUSANDS of human sacrifices had their still-beating hearts (tim vẫn đập) cut out before their heads were severed (chặt đứt) and added to a monument the size of a basketball court

...The new research is slowly uncovering the vast scale of the human sacrifices, performed to honor (tôn vinh) the gods (các vị thần).

captives (tù nhân) were first taken to the city's Templo Mayor, or great temple, where priests (thầy tế, thầy cúng) removed their still-beating hearts.

The bodies were then decapitated (chặt đầu) and priests removed the skin (da) and muscle (cơ) from the corpses (xác chết)' heads.

Large holes were carved into the sides of the skulls (hộp sọ), allowing them to be placed onto a large wooden pole.

They were then placed in Tenochtitlan's tzompantli, an enormous rack of skulls built in front of the Templo Mayor, a pyramid with two temples on top.

Wednesday, May 8, 2019

Người anh hùng của đất nhỏ

shared from fb Phan Việt Hùng,
-----
Bức ảnh này do nhiếp ảnh gia Ivan Kurtov (hãng TASS) chụp vào Ngày Chiến thắng năm 1989, bên bờ sông Neva của thành phố Leningrad. Bức ảnh được công bố lần đầu trên tạp chí SMENA của Liên Xô.

Người cựu binh già bị cụt hai chân, đang mỉm cười chào lại những người lính trẻ của Trường hải quân mang tên Nakhimov là Anatoly Leopoldovich Golimbievsky, khi đó 68 tuổi (ông sinh 1921).

Ông nguyên là thợ máy của Khu trục hạm "Soobrazitelnyi", là người duy nhất còn sống của trận chiến tại vịnh Tsemesskaya gần Novorossiisk.

Ông cũng tham gia tốp lính thủy đánh bộ đầu tiên đổ bộ lên "Đất nhỏ"(một địa danh ở vùng Myskhako, phía Nam Novorossiisk). Tại đây, ông đã chiến đấu anh dũng, bị thương vào tay và cả 2 chân...Khi được phát hiện ra, Anatoly Leopoldovich Golimbievsky gần như đã chết.

Tại quân y viện Gelendzhisk (Tbilisi), các bác sĩ hỏi anh:

-Chân anh bị hoại tử, phải cắt cả 2 chân. Anh có đồng ý không?

-Tôi muốn sống- Golimbievsky đáp.

Golimbievsky với nghị lực phi thường đã vượt qua tất cả. Ông đã thành hôn với một nữ y tá chiến trường người Gruzia và có một con gái Tamara.

Từ học vấn lớp 3, ông đã tự học lên và sau này trở thành kỹ sư trưởng của Viện đo lường, đào tạo nên nhiều kỹ sư. Ông cũng tốt nghiệp một trường trung cấp âm nhạc và trở thành chỉ huy dàn kèn đồng trong Đội văn nghệ của Viện. Đặc biệt, ông có thể tự lái xe đi làm.

Ông mất năm 80 tuổi. Sinh thời, ông có nói :" Tôi tự hào vì là một người lính thủy. Tôi tin và sức mạnh bất khả chiến bại và sự trưởng thành của Hải quân chúng tôi, một cường quốc biển...".

Không phải là một vị tướng.

Đơn giản, Anatoly Leopoldovich Golimbievsky là Một người lính Nga.

Thursday, April 11, 2019

Homo sapiens không cô đơn như đã từng nghĩ

from linh hoang vu: Các nhà khảo cổ lại mới tìm ra được 1 bộ xương ở Philippines, có thể là của một giống người mới (không phải homo sapiens) sống cách đây 50.000 năm. Như vậy là cây phả hệ của loài người đang ngày càng có thêm nhiều nhánh mới: những người anh em họ của loài người hiện đại mà ngày nay đã tuyệt chủng (nhưng biết đâu đấy, có thể vẫn có một số ít- các Yeti- sống trên các đỉnh núi Himalaya quanh năm tuyết phủ.
-----

...At least 50,000 years ago, an extinct (tuyệt chủng) human species lived on what is now the island of Luzon. It’s possible that Homo luzonensis, as they’re calling the species, stood less than three feet tall.

The discovery (khám phá) adds growing complexity (sự phức tạp) to the story of human evolution (câu chuyện tiến hóa của loài người). It was not a simple march forward, as it once seemed. Instead, our lineage assumed an exuberant (sum suê, um tùm) burst of strange forms along the way.

Our species, Homo sapiens, now inhabits a comparatively lonely (tương đối cô đơn) world (thế giới).

“The more fossils (hóa thạch) that people pull out of the ground, the more we realize (nhận ra) that the variation (biến thể) that was present in the past far exceeds what we see in us today,” said Matthew Tocheri, a paleoanthropologist (nhà cổ nhân loại học, ngành học nghiên cứu người tiền sử) at Lakehead University in Canada, who was not involved in the new discovery.

Friday, March 22, 2019

Vì sao màu tím được coi là màu của các bậc vương giả?

đơn giản do cung-cầu mà thôi,

“Màu tím xứ Tyre” của người Phoenicia có từ một loài ốc biển ngày nay có tên Bolinus brandaris, loài ốc này quý hiếm đến mức giá trị của chúng được tính bằng số vàng có khối lượng tương ứng.
-----

...The reason for purple’s regal reputation comes down to a simple case of supply and demand. For centuries, the purple dye trade was centered in the ancient Phoenician city of Tyre in modern day Lebanon. The Phoenicians’ “Tyrian purple” came from a species of sea snail now known as Bolinus brandaris, and it was so exceedingly rare that it became worth its weight in gold. To harvest it, dye-makers had to crack open the snail’s shell, extract a purple-producing mucus and expose it to sunlight for a precise amount of time. It took as many as 250,000 mollusks to yield just one ounce of usable dye, but the result was a vibrant and long-lasting shade of purple.

...The royal class’ purple monopoly finally waned after the fall of the Byzantine empire in the 15th century, but the color didn’t become more widely available until the 1850s, when the first synthetic dyes hit the market.

Monday, October 8, 2018

Pyotr Đại đế làm gì ở Hà Lan?

bài về Đại Phái bộ Sứ thần: phái bộ sứ thần đông đảo của nước Nga (gồm hơn 250 người) mà vào năm 1697 Pyotr Đại đế dẫn đi thăm viếng thăm chính thức Anh Quốc, Đan Mạch, Rôma, Hà Lan, Brandenburg và Venezia (theo kế hoạch ban đầu), đi vắng khỏi Nga trong 18 tháng.
-----
...đến Zaandam (xưởng đóng tàu tư nhân Lynst Rogge) và Amsterdam để học đóng tàu,

viếng giảng đường và phòng thí nghiệm của Fredrick Ruysch, Giáo sư cơ thể học nổi danh toàn châu Âu. Ông trở nên chú tâm đến khoa giải phẫu đến nỗi thấy khó mà ra về; ông muốn ở lại và quan sát thêm. Ông dùng bữa tối cùng Ruysch, lắng nghe lời tham mưu của Giáo sư về cách chọn lựa bác sĩ giải phẫu để mời về phục vụ cho lục quân và hải quân Nga. Pyotr Đại đế bị lôi cuốn vào môn cơ thể học và sau đó tự xem mình có trình độ như y sĩ giải phẫu. Dù sao đi nữa, ông có thể hỏi, có mấy ai ở Nga được cơ hội học với Giáo sư Ruysch nổi tiếng?.

...Ở Leyden, ông đến thăm Tiến sĩ Boerhaave nổi danh, phụ trách một vườn thực vật phong phú, cũng là giảng viên môn cơ thể học, và khi Boerhaave hỏi ngày giờ vị khách muốn đến thăm, Sa hoàng chọn sáu giờ sáng hôm sau. Ông cũng đến xem phòng thí nghiệm giải phẫu học của Boerhaave và say mê xem xét một xác người.

Ở Delft, ông đến thăm nhà thiên nhiên học nổi tiếng Anton van Leeuwenhoek, người phát minh kính hiển vi. Pyotr Đại đế hỏi chuyện ông này trong hai giờ đồng hồ và nhìn qua món thiết bị kỳ diệu qua đó Leeuwenhoek đã khám phá ra tinh trùng :))