Journey in Life: history
Showing posts with label history. Show all posts
Showing posts with label history. Show all posts

Tuesday, April 14, 2020

Các cuộc chiến Nga-Ottoman

đế quốc ottoman suy yếu và nước nga bành trướng về phương nam...
-----
Russo-Turkish wars, series of wars between Russia and the Ottoman Empire in the 17th–19th century. The wars reflected the decline of the Ottoman Empire and resulted in the gradual southward extension of Russia’s frontier and influence into Ottoman territory. The wars took place in 1676–81, 1687, 1689, 1695–96, 1710–12 (part of the Great Northern War), 1735–39, 1768–74, 1787–91, 1806–12, 1828–29, 1853–56 (the Crimean War), and 1877–78. As a result of these wars, Russia was able to extend its European frontiers southward to the Black Sea, southwestward to the Prut River, and south of the Caucasus Mountains in Asia.

Bài trước: Sự ăn năn của Ivan

Tuesday, April 7, 2020

Sự ăn năn của Ivan

Ivan IV Vasilyevich (Иван IV Васильевич; 25/8/1530 – 18/3/1584) là Đại công tước Moskva từ năm 1533 tới năm 1547. Ông là nhà cầm quyền đầu tiên của nước Nga chính thức xưng Sa hoàng (năm 1547). Trong thời gian cầm quyền kéo dài của mình ông đã chinh phục các hãn quốc Tartar và Xibia cũng như chuyển nước Nga trở thành một quốc gia đa sắc tộc và đa tôn giáo. Trong lịch sử Nga, vị Nga hoàng này đơn giản được gọi là Ivan Grozny (Иван Грозный), và được dịch sang tiếng Việt thành Ivan Bạo Chúa, Ivan Lôi Đế, Ivan Khủng Khiếp hay Ivan Hung Đế.

Ivan Hung đế được cho là một Nga hoàng có năng lực và tài trí, nhưng ông cũng bị cho là một bạo chúa đã giết hại nhiều người trong cơn thịnh nộ của mình, bao gồm cả Hoàng tử Ivan Ivanovich. Tuy nhiên trong văn học dân gian Nga, Ivan Hung đế không phải là bạo chúa mà là hiện thân của chính nghĩa, của người bảo vệ dân chúng khỏi bè lũ quý tộc quan lại thối nát. Người ta cho rằng Ivan Hung đế đã tranh thủ được lòng tin của dư luận để phục vụ cho cuộc tranh đấu với các quyền thần và với tầng lớp quý tộc Nga.

...Năm 1581, Ivan đã đánh cô con dâu đang mang thai của mình vì tội mặc quần áo khiếm nhã, có thể đây là nguyên nhân khiến cô bị sẩy thai. Con trai ông, cũng tên là Ivan, khi biết tin này đã lao vào một cuộc tranh cãi nảy lửa với cha, cuộc tranh cãi kết thúc khi Ivan dùng cây gậy nhọn đánh vào đầu con mình, gây ra cái chết của người con trai (tai nạn). Sự kiện này đã được thể hiện trong bức tranh nổi tiếng của Ilya Repin, Ivan Bạo chúa và con trai Ivan vào thứ Sáu, 16 tháng 11 năm 1581 nổi tiếng hơn với tên gọi Ivan Bạo chúa giết con trai.

...Dù nhiều người nghĩ rằng Ivan qua đời khi đang sắp xếp một bàn cờ, có lẽ đúng hơn là ông qua đời khi đang chơi cờ với Bogdan Belsky ngày 18 tháng 3 năm 1584. Khi hầm mộ của Nga hoàng Ivan được mở ra trong cuộc trùng tu hồi thập niên 1960, xác ông được xét nghiệm và phát hiện có chứa hàm lượng thuỷ ngân lớn, cho thấy rất có thể ông đã bị đầu độc.[7] Các nghi vấn hiện tại tập trung vào các cố vấn của ông là Belsky và Boris Godunov (người trở thành Nga hoàng năm 1598). Ba ngày trước đó, Ivan được cho là đã định cưỡng hiếp Irina, em Godunov và là vợ của Feodor. Những tiếng kêu của bà khiến Godunov và Belsky chú ý, sau đó Ivan thả Irina, nhưng Belsky và Godunov coi mình như đã bị lĩnh án tử hình. Truyền thống cho rằng họ đã đầu độc hoặc bóp cổ Ivan đến chết vì lo sợ cho tính mạng của mình. Thuỷ ngân được tìm thấy trong thi thể Ivan cũng có thể liên quan tới việc điều trị bệnh giang mai, bệnh được cho là Ivan đã từng mắc phải. Ngay khi Ivan qua đời, đất nước đã bị tàn phá rơi vào tay người con trai bất tài và còn nhỏ tuổi của ông là Fyodor I.

Sự ăn năn của Ivan: ông đã yêu cầu một cha bề trên tại Tu viện Pskovo-Pechorsky cho phép ông được vào tu tại đây.

Bởi Klavdy LebedevSelf-photographed, Phạm vi công cộng, Liên kết

Bài trước: Hoàng thân Metternich

Monday, April 6, 2020

Trụ đèn giao thông đầu tiên trên thế giới

shared from fb Phan Lặng Yên,
-----
Được dựng tại ngã tư sát gần Điện và cầu Westminster, tháp Big Ben ngày 9/12/1868. Trụ đèn được thiết kế bởi k.s đường sắt J.P. Knight, mô phỏng theo đèn-gác chắn tàu hỏa. Điểm giao này vốn đông đúc hỗn loạn ngựa xe và người bộ hành, một tháng trước khi trụ được lắp, hai nghị sĩ bị thương nặng, một csgt thiệt mạng tại đây.

Trụ cao hơn 6m, với đèn thắp bằng khí gas: đèn đỏ dừng lại nhường đường cho người đi bộ, đèn xanh thì được cẩn trọng đi qua. Ban ngày đèn khó thấy nên thêm ba cánh quạt semaphore được lắp, semaphore nằm ngang = đèn đỏ, cúi xuống 45 độ như hình = đèn xanh. Trụ đèn được điều khiển thủ công bằng cần gạt.

Đèn có tác dụng chút đỉnh lúc đầu, nhưng nhiều người khác nghi ngờ, có báo thì châm biếm: nhìn kinh như ma đêm trong sương (hình comment). Nhưng nhìn chung thì đèn kém hiệu quả, các anh đánh xe không hiểu các semaphore có ý gì, hoặc mặc kệ nó luôn. Đèn cũng thường hỏng hóc, chỉ được chừng một tháng, 1/69, khí gas rò rỉ khiến chân đèn phát nổ, làm bỏng mặt viên cảnh sát gạt đèn. Đèn hoạt động thêm vài tháng nhưng thường xuyên hỏng hóc và kém hiệu quả, đến cuối năm thì bị tháo bỏ. Đèn giao thông chỉ xuất hiện trở lại ở London tận 57 năm sau - 1926, lần này chạy điện không lo cháy nổ nữa.


Bài trước: Hoàng thân Metternich

Monday, March 30, 2020

Hoàng thân Metternich


Hoàng thân Klemens Wenzel von Metternich (tên đầy đủ tiếng Đức: Klemens Wenzel Nepomuk Lothar, Fürst von Metternich-Winneburg zu Beilstein; 15/5/1773-11/6/1859) là một chính trị gia xứ Rhineland và là một trong những nhà ngoại giao quan trọng nhất thế kỷ 19, đảm nhiệm vị trí Bộ trưởng Ngoại giao của Đế quốc Áo từ năm 1809 cho tới khi cuộc Cách mạng châu Âu năm 1848 buộc ông phải từ chức. 

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của ông là dàn xếp căng thẳng với nước Pháp bằng cách gả Nữ Đại công tước Áo Marie Louise cho Hoàng đế Napoléon, tuy nhiên sau đó dưới sự dẫn dắt của ông nước Áo dính líu quan trọng vào Chiến tranh Liên minh thứ sáu, lãnh đạo Đại hội Vienna quyết định sự phân chia quyền lực châu Âu hậu Napoleon. Tài tháo vát ngoại giao của Metternich đã giúp Áo, vốn không phải là một cường quốc quân sự hàng đầu, đóng vai trò trung tâm trong trật tự chính trị châu Âu những năm 1815-1848 thường được biết đến dưới tên "Hệ thống Metternich" mà đặc điểm chính là luận điểm cân bằng quyền lực giữa các liệt cường.

Metternich được phong tước Hoàng thân năm 1813 và đồng thời đảm nhiệm chức quan Chưởng ấn (tức Tể tướng) của Đế quốc Áo. Đối với việc nội trị, Metternich tỏ là một người bảo thủ, kiên quyết đàn áp các phong trào tự do và dân tộc chủ nghĩa trong nội bộ đế quốc.

Ông cũng là bá tước của Königswart và từ 1818 công tước của Portella.


Saturday, March 7, 2020

40 năm không quên

người dân làng Mullaghmore ở hạt Sligo của Ireland không thể "chạy trốn" khỏi sự kiện IRA khủng bố ngày 27/8/1979 giết chết Lord Louis Mountbatten - tổng trấn cuối cùng của ấn độ (chú của vương tế Philip, công tước xứ Edinburgh)
-----

The remembrance (lễ tưởng nhớ) will be held on a grassy hill overlooking the Atlantic waters where the IRA bomb exploded (bom nổ) on a clear sunny morning 40 years ago, killing Lord Louis Mountbatten and three companions (người đồng hành).

There will be prayers (lời cầu nguyện) and hymns (hát thánh ca), recollections (hồi tưởng) and tributes (vật tặng, lời nói để tỏ lòng kính trọng; cái để tỏ lòng tôn kính), messages and flowers, a small, intimate affair.

But for Mullaghmore, a village in County Sligo on Ireland’s north-west coast, it may feel on Tuesday as if the whole world is watching. And perhaps judging (đánh giá).

...Instead of celebrating Mullaghmore’s beauty an endless stream of books, documentaries  (phim tài liệu) and articles (bài báo) – including this one – stigmatise (làm nổi rõ tính cách (xấu); bêu xấu (ai); đóng dấu sắt nung vào (người nô lệ)) the community and force it to revisit the tragedy (thảm họa), said McGowan. “You’re a plague. We get our snouts pushed into it whether we want to or not.”...

Monday, November 11, 2019

Thích Trí Quang: 'Một trang lịch sử'

trích phỏng vấn Geoffrey Shaw, tác giả cuốn sách "The Lost Mandate of Heaven: The American Betrayal of Ngo Dinh Diem, President of Vietnam".

theo đó, tổng thống kennedy (do sợ bị kết án là điều hành một băng nhóm công giáo trong nhà trắng) đã chơi lá bài 'chống công giáo' là cử Henry Cabot Lodge (theo tân giáo) làm đại sứ mỹ tại sài gòn, ông này đã lừa dối (trắng trợn) diệm là mỹ đang tiếp tục ủng hộ, trong khi vẫn "phỉnh phờ" các tướng lĩnh do dự của miền nam tiến hành đảo chính - mà theo tác giả là: như cố "đẩy sợi bún", các tướng lĩnh ko thực tâm muốn, chỉ duy nhất tướng dương văn minh (béo) cực kỳ muốn trả thù vì minh béo bị ông nhu mắng nhiều năm trước khi phát hiện thụt quỹ lớn của chính phủ (nhưng ông diệm ko muốn nặng tay quá, mà "đá lên trên" (ngồi chơi xơi nước))...
-----
...
CWR: You don’t write much about it in the book, but did the long and deeply rooted American tradition of anti-Catholicism have anything to do with the Kennedy Administration’s abandonment of Diem? (There is irony in the question, considering that Kennedy was the first Catholic president—but the State Department, the media, and the American electorate remained predominantly non-Catholic.)

Shaw: Yes, I think you have hit the proverbial nail on the head (nói chính xác, đúng sự thật) in this question as Kennedy was greatly concerned about being accused (bị kết án) of running a Catholic cabal (bè đảng, phe đảng (chính trị)) in D.C. This was so much the case that he bent over backwards to create the opposite impression (ấn tượng ngược lại), which helped Diem’s foes (kẻ thù) substantially. For example, the ambassador sent out to replace Nolting, Henry Cabot Lodge, came from a prestigious (danh tiếng) New England family that was every-inch the upper-crust Episcopalian, non-Catholic Bostonian. In turn, he felt no particular restraint (kiềm chế, hạn chế) upon himself when he went out to Vietnam to usher (báo hiệu, mở ra; đánh dấu sự khởi đầu) in a coup (đảo chính, lật đổ) against Diem in 1963. He lied straight-faced to Diem about how America would keep on supporting him while he had reluctant (do dự, dao động) Vietnamese generals cajoled (phỉnh phờ, tán tỉnh) into coup-formation. He even gave an enemy of the state (kẻ thù của chế độ), Thich Tri Quang, asylum (tị nạn) in the U.S. Embassy, even while the devilish (ma tà, gian tà, quỷ quái; ác hiểm, hiểm độc, độc ác) monk (nhà sư, thầy tu) continued to orchestrate (dàn xếp cái gì cẩn thận (và đôi khi không ngay thẳng) để đem lại một kết quả mong muốn; sắp đặt; bố trí) insurrection (cuộc nổi dậy) against Diem. Kennedy knew that Lodge had “gone off the reservation” (hành động vượt rào) but felt helpless to recall him lest the “Catholic card” was played against him. It was a very odd, paradoxical playing out of the problem of politically correct (phải đạo chính trị) reverse discrimination as it would seem; had Lyndon Johnson been at the helm (lãnh đạo) at that critical hour—and we know he was not worried one iota about being accused of bias in favor of Catholics—the coup would have never happened.

Most Americans do not realize just how much Lodge and the Harriman cabal had to push the Vietnamese generals to embark on a coup. I remember reading one report—I think it was from CIA operative Lucien Conein to Lodge—stating that getting the ARVN (South Vietnam army) generals to plot against Diem was like trying to push spaghetti. The would-be Vietnamese coup officers were quite distinctly (dễ thấy) dragging their heels (trì hoãn, làm rất chậm chạp), and Kennedy’s men were trying to push them on. The only one who truly wanted to get Diem was General Duong Van (“Big”) Minh as he had been disgraced (sự ô nhục, sự nhục nhã, sự hổ thẹn; điều ô nhục, điều nhục nhã, điều hổ thẹn) by Nhu many years earlier when Nhu caught him stealing (ăn trộm) a vast sum from the government. Nhu wanted Minh tried and sent to prison (bỏ tù) but Diem, always reluctant to be harsh, simply had Minh “kicked upstairs.”

So, with little doubt, Kennedy’s reluctance to even appear to have played the “Catholic card” actually helped, and to a substantial degree, the overthrow (lật đổ) and murders (ám sát) of Diem and his brother, Nhu. I also think Harriman was keenly aware that he could bully JFK over the Catholic issue because that is what he most certainly did in their Oval Office (Phòng Bầu dục) meetings concerned with Diem.

Sunday, November 10, 2019

30 năm bức tường Berlin và dòng chảy lịch sử

cách đây đúng 30 năm, ngày 09/11/1989, bức tường Berlin chia cắt Đông Đức và Tây Đức đã sụp đổ - một sự kiện lớn của thế kỷ 20.
-----
...It was hard to imagine then that, within a few months, this forbidding barrier would tumble down, the border shootings (bắn giết ở biên giới) would cease (ngừng/dừng lại), East Germans would be free to leave what for many had become an open prison (nhà tù lớn), and the cold war (chiến tranh lạnh), with its threat of nuclear Armageddon and all its other malign (độc ác, thâm hiểm, ác tính) ramifications (phân nhánh, chia nhánh), was finally coming to an end. “Ich bin ein Berliner,” (tôi là người berlin) John F Kennedy had famously declared (tuyên bố) in 1963. Now, suddenly, everyone was.

Phrases such as “turning point” (điểm ngoặt) and “historic watershed” (dòng thác lịch sử) are overused in contemporary discourse (bài thuyết trình; bài diễn thuyết; bài luận văn; bài diễn văn). But the fall of the wall, 30 years ago this weekend, was the supreme (tối cao, lớn nhất; quan trọng nhất; cao nhất) symbol (biểu tượng) of a truly hopeful global moment. It transformed Europe’s future prospects. It signalled an end to proxy wars (chiến tranh ủy nhiệm) from Luanda and Kabul to Managua and the Ogaden. It foreshadowed and hastened the Soviet Union’s collapse. It elevated the US as sole superpower, overseeing what George HW Bush portentously declared to be a “new world order” (trật tự thế giới mới). And it brought hope of peace...

Saturday, June 29, 2019

Gia tộc Orange-Nassau

shared from fb Hau Dang Van,
-----
"Lịch sử là do nhân dân làm nên. Thế nhưng trong thực tế, vận mệnh các quốc gia, dân tộc trên thế giới xưa nay hầu như đều quyết định bởi một số ít người thuộc tầng lớp được gọi là tinh hoa dân tộc."

Khi Antwerp suy thoái là lúc Amsterdam nổi lên như trung tâm tài chính của thế giới. Trong thế kỷ 16, người Hà Lan thống lãnh việc vận tải thương mại tại khu vực Baltic và hoạt động rất tích cực tại các vùng lãnh thổ của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Cuộc chiến với Tây Ban Nha vào cuối thế kỷ 16 mở ra cho người Hà Lan nhiều cơ hội thương mại quốc tế hơn. Đây là cơ hội để người Hà Lan nhanh chóng thành lập đế chế của riêng mình, và cuối cùng đã giành được quyền kiểm soát New Amsterdam (ngày nay là New York), các quần đảo châu Á mà ngày nay là Indonesia, hàng loạt hòn đảo tại vùng Caribbean và Suriname, và trong một thời gian ngắn là một phần Brazil và bờ biển phía đông châu Phi.

Hà Lan thế kỷ XVII chỉ với 1,7 triệu dân mà trở thành cường quốc, có 16 nghìn tàu buôn, tổng trọng tải hơn cả đội tàu Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cộng lại. Hải quân nước này đánh bại hạm đội liên quân mấy cường quốc.

Quan trọng hơn cả,người Hà Lan đã thực hiện các biến đổi sâu sắc trong tài chính vào đầu thế kỷ 17. Mặc dù an ninh quốc gia liên tục bị đe doạ bởi các hoàng tử Đức, Pháp, và Tây Ban Nha, nền độc lập của Hà Lan vào thế kỷ 17 được duy trì tương đối ổn định. Môi trường chính trị ổn định là điều kiện đầu tiên giúp hoạt động thương mại thăng hoa. Và do vậy, nhu cầu một hạ tầng tài chính phát triển hơn và phức tạp hơn xuất hiện. Năm 1602, người Hà Lan cho thành lập các khu chợ có tổ chức dành cho việc trao đổi các công cụ tài chính. Ngân hàng Ngoại tệ Amsterdam (Amsterdam Exchange Bank) được thành lập năm 1609. Sở giao dịch chứng khoán Amsterdam (Amsterdam Stock Exchange) mở cửa năm 1611. Để làm nền móng cho các phát triển trên, người Hà Lan đã phát triển một hệ thống ngân hàng vững mạnh, biến Hà Lan trở thành nỗi ghen tị với phần còn lại của châu Âu, đặc biệt là Anh quốc.

Người Hà Lan thống lĩnh hệ thống tài chính quốc tế trong suốt thế kỷ 17 với nguồn tài chính từ các quốc gia đang tìm hướng phát triển kinh tế qua các hải đội của mình như Anh và Pháp. Sự thống lĩnh của người Hà Lan về tài chính, tuy vậy, đã mở đường cho người Anh tiến lên vị thế này trong thế kỷ 19.

Hà Lan đầu tiên trên thế giới lập ra ngân hàng, công ty cổ phần và công ty tư vấn. Tất cả nhờ tài lãnh đạo của các tinh hoa gia tộc Orange-Nassau, trong đó có William năm 1689 trở thành vua nước Anh.

=>Bức tranh toàn cảnh về tài chính và chính trị Hà Lan thế kỉ 16-17 với những đường nét nổi trội và màu sắc đặc biệt so với phần còn lại của Châu Âu được khắc họa bởi “tinh anh” gia tộc Orange-Nassau. Phần tiếp theo mình sẽ giới thiệu những nhân vật, những chi tiết… bị lớp bụi lịch sử và ánh hào quang của gia tộc Orange làm phai nhạt. Cả Châu Âu với lệnh trục xuất người Do Thái trên toàn lãnh thổ quốc gia đã “vô tình” ban cho dân tộc Do Thái sức mạnh của ý chí,sự đoàn kết và đặc biệt sự sáng tạo trong kinh doanh “tài chính”.


Bài trước: Người anh hùng của đất nhỏ

Wednesday, May 15, 2019

Điều khiến người Tây Ban Nha sợ nhất trong cuộc chinh phục Artec

'tháp sọ người' Huey Tzompantli, ở Tenochtitlan, ước tính mỗi bên chứa khoảng 130.000 hộp sọ,

trận động đất kinh hoàng năm 1985 khiến 10.000 người chết bị coi là thảm họa quốc gia, lại là món quà trời cho với ngành khảo cổ, khi làm lộ ra vị trí chính xác của kinh đô Tenochtitlan cũ, bị chôn vùi dưới hơn 35m đất của Mexico City.
-----
The full horror of the Aztec 'skull tower' revealed: Archaeologists (nhà khảo cổ) say THOUSANDS of human sacrifices had their still-beating hearts (tim vẫn đập) cut out before their heads were severed (chặt đứt) and added to a monument the size of a basketball court

...The new research is slowly uncovering the vast scale of the human sacrifices, performed to honor (tôn vinh) the gods (các vị thần).

captives (tù nhân) were first taken to the city's Templo Mayor, or great temple, where priests (thầy tế, thầy cúng) removed their still-beating hearts.

The bodies were then decapitated (chặt đầu) and priests removed the skin (da) and muscle (cơ) from the corpses (xác chết)' heads.

Large holes were carved into the sides of the skulls (hộp sọ), allowing them to be placed onto a large wooden pole.

They were then placed in Tenochtitlan's tzompantli, an enormous rack of skulls built in front of the Templo Mayor, a pyramid with two temples on top.

Wednesday, May 8, 2019

Người anh hùng của đất nhỏ

shared from fb Phan Việt Hùng,
-----
Bức ảnh này do nhiếp ảnh gia Ivan Kurtov (hãng TASS) chụp vào Ngày Chiến thắng năm 1989, bên bờ sông Neva của thành phố Leningrad. Bức ảnh được công bố lần đầu trên tạp chí SMENA của Liên Xô.

Người cựu binh già bị cụt hai chân, đang mỉm cười chào lại những người lính trẻ của Trường hải quân mang tên Nakhimov là Anatoly Leopoldovich Golimbievsky, khi đó 68 tuổi (ông sinh 1921).

Ông nguyên là thợ máy của Khu trục hạm "Soobrazitelnyi", là người duy nhất còn sống của trận chiến tại vịnh Tsemesskaya gần Novorossiisk.

Ông cũng tham gia tốp lính thủy đánh bộ đầu tiên đổ bộ lên "Đất nhỏ"(một địa danh ở vùng Myskhako, phía Nam Novorossiisk). Tại đây, ông đã chiến đấu anh dũng, bị thương vào tay và cả 2 chân...Khi được phát hiện ra, Anatoly Leopoldovich Golimbievsky gần như đã chết.

Tại quân y viện Gelendzhisk (Tbilisi), các bác sĩ hỏi anh:

-Chân anh bị hoại tử, phải cắt cả 2 chân. Anh có đồng ý không?

-Tôi muốn sống- Golimbievsky đáp.

Golimbievsky với nghị lực phi thường đã vượt qua tất cả. Ông đã thành hôn với một nữ y tá chiến trường người Gruzia và có một con gái Tamara.

Từ học vấn lớp 3, ông đã tự học lên và sau này trở thành kỹ sư trưởng của Viện đo lường, đào tạo nên nhiều kỹ sư. Ông cũng tốt nghiệp một trường trung cấp âm nhạc và trở thành chỉ huy dàn kèn đồng trong Đội văn nghệ của Viện. Đặc biệt, ông có thể tự lái xe đi làm.

Ông mất năm 80 tuổi. Sinh thời, ông có nói :" Tôi tự hào vì là một người lính thủy. Tôi tin và sức mạnh bất khả chiến bại và sự trưởng thành của Hải quân chúng tôi, một cường quốc biển...".

Không phải là một vị tướng.

Đơn giản, Anatoly Leopoldovich Golimbievsky là Một người lính Nga.

Thursday, April 11, 2019

Homo sapiens không cô đơn như đã từng nghĩ

from linh hoang vu: Các nhà khảo cổ lại mới tìm ra được 1 bộ xương ở Philippines, có thể là của một giống người mới (không phải homo sapiens) sống cách đây 50.000 năm. Như vậy là cây phả hệ của loài người đang ngày càng có thêm nhiều nhánh mới: những người anh em họ của loài người hiện đại mà ngày nay đã tuyệt chủng (nhưng biết đâu đấy, có thể vẫn có một số ít- các Yeti- sống trên các đỉnh núi Himalaya quanh năm tuyết phủ.
-----

...At least 50,000 years ago, an extinct (tuyệt chủng) human species lived on what is now the island of Luzon. It’s possible that Homo luzonensis, as they’re calling the species, stood less than three feet tall.

The discovery (khám phá) adds growing complexity (sự phức tạp) to the story of human evolution (câu chuyện tiến hóa của loài người). It was not a simple march forward, as it once seemed. Instead, our lineage assumed an exuberant (sum suê, um tùm) burst of strange forms along the way.

Our species, Homo sapiens, now inhabits a comparatively lonely (tương đối cô đơn) world (thế giới).

“The more fossils (hóa thạch) that people pull out of the ground, the more we realize (nhận ra) that the variation (biến thể) that was present in the past far exceeds what we see in us today,” said Matthew Tocheri, a paleoanthropologist (nhà cổ nhân loại học, ngành học nghiên cứu người tiền sử) at Lakehead University in Canada, who was not involved in the new discovery.

Friday, March 22, 2019

Vì sao màu tím được coi là màu của các bậc vương giả?

đơn giản do cung-cầu mà thôi,

“Màu tím xứ Tyre” của người Phoenicia có từ một loài ốc biển ngày nay có tên Bolinus brandaris, loài ốc này quý hiếm đến mức giá trị của chúng được tính bằng số vàng có khối lượng tương ứng.
-----

...The reason for purple’s regal reputation comes down to a simple case of supply and demand. For centuries, the purple dye trade was centered in the ancient Phoenician city of Tyre in modern day Lebanon. The Phoenicians’ “Tyrian purple” came from a species of sea snail now known as Bolinus brandaris, and it was so exceedingly rare that it became worth its weight in gold. To harvest it, dye-makers had to crack open the snail’s shell, extract a purple-producing mucus and expose it to sunlight for a precise amount of time. It took as many as 250,000 mollusks to yield just one ounce of usable dye, but the result was a vibrant and long-lasting shade of purple.

...The royal class’ purple monopoly finally waned after the fall of the Byzantine empire in the 15th century, but the color didn’t become more widely available until the 1850s, when the first synthetic dyes hit the market.

Monday, October 8, 2018

Pyotr Đại đế làm gì ở Hà Lan?

bài về Đại Phái bộ Sứ thần: phái bộ sứ thần đông đảo của nước Nga (gồm hơn 250 người) mà vào năm 1697 Pyotr Đại đế dẫn đi thăm viếng thăm chính thức Anh Quốc, Đan Mạch, Rôma, Hà Lan, Brandenburg và Venezia (theo kế hoạch ban đầu), đi vắng khỏi Nga trong 18 tháng.
-----
...đến Zaandam (xưởng đóng tàu tư nhân Lynst Rogge) và Amsterdam để học đóng tàu,

viếng giảng đường và phòng thí nghiệm của Fredrick Ruysch, Giáo sư cơ thể học nổi danh toàn châu Âu. Ông trở nên chú tâm đến khoa giải phẫu đến nỗi thấy khó mà ra về; ông muốn ở lại và quan sát thêm. Ông dùng bữa tối cùng Ruysch, lắng nghe lời tham mưu của Giáo sư về cách chọn lựa bác sĩ giải phẫu để mời về phục vụ cho lục quân và hải quân Nga. Pyotr Đại đế bị lôi cuốn vào môn cơ thể học và sau đó tự xem mình có trình độ như y sĩ giải phẫu. Dù sao đi nữa, ông có thể hỏi, có mấy ai ở Nga được cơ hội học với Giáo sư Ruysch nổi tiếng?.

...Ở Leyden, ông đến thăm Tiến sĩ Boerhaave nổi danh, phụ trách một vườn thực vật phong phú, cũng là giảng viên môn cơ thể học, và khi Boerhaave hỏi ngày giờ vị khách muốn đến thăm, Sa hoàng chọn sáu giờ sáng hôm sau. Ông cũng đến xem phòng thí nghiệm giải phẫu học của Boerhaave và say mê xem xét một xác người.

Ở Delft, ông đến thăm nhà thiên nhiên học nổi tiếng Anton van Leeuwenhoek, người phát minh kính hiển vi. Pyotr Đại đế hỏi chuyện ông này trong hai giờ đồng hồ và nhìn qua món thiết bị kỳ diệu qua đó Leeuwenhoek đã khám phá ra tinh trùng :))

Saturday, October 6, 2018

Xã hội Nhật Bản thời kỳ Minh Trị

...Việc công nghiệp hóa đã kéo theo nhiều thay đổi xã hội. Với sự thi hành chính sách giảm phát để thúc đẩy các xí nghiệp công nghiệp, giá nông phẩm hạ xuống làm cho đời sống của nông dân trở nên khó khăn, họ không đủ sức trả địa tô và phải đi vay nặng lãi. Nhiều nông dân phá sản và phải bán tháo đất đai cho những kẻ cho vay nặng lãi. Đây được gọi là đám "địa chủ ăn bám" (ký sinh địa chủ = kisei jinushi). Nông dân mất hết đất đai và rơi xuống hàng tá điền, phải canh tác thuê cho địa chủ hoặc phải bắt đầu đi lao động thuê ở các hãng xưởng, điều kiện làm việc rất cực khổ.

Yokoyama Gennosuke (Hoành Sơn Nguyên Chi Trợ) đã viết cuốn sách "Nhật Bản hạ tầng xã hội, 1899" mô tả: lương công nhân chỉ đủ tiền cơm gạo, trong khi thời gian làm việc rất dài, như công nhân dệt phải làm 12 giờ/ngày (lúc gấp rút thì phải đến 18 giờ). Nơi ở của họ là một buồng ngủ chật chôi, vệ sinh kém vì phải chứa tới 10 người, mỗi người chỉ có diện tích đủ để trải một chiếc chiếu ngủ. Những công nhân mắc phải bệnh truyền nhiễm thì bị đuổi việc ngay chứ không hề được chạy chữa hay hưởng bảo hiểm.

Nhìn chung, sự phát triển của kinh tế Nhật Bản đã hình thành nên một giai cấp mới, giai cấp công nhân Nhật Bản. Việc bị bóc lột nặng nề và điều kiện làm việc ngày càng tồi tệ dẫn đến sự đấu tranh của giai cấp công nhân. Theo Edwin O.Reischauer, năm 1901, đảng Xã hội dân chủ Nhật Bản được thành lập với mục tiêu đòi công bằng cho người lao động. Nhưng năm 1900, Chính phủ Nhật (nội các Yamagata Aritomo) đã ra tay đàn áp bằng cách ban bố Đạo luật trị an và cảnh sát, hạn chế việc người lao động kết hợp thành công đoàn (quyền kết xã) và đình công (quyền bãi công). Theo mệnh lệnh của triều đình, những tài liệu và các bài báo có nội dung xã hội chủ nghĩa sẽ bị trừng trị, các chủ bút bị giam trong khoảng từ năm đến mười năm, và tịch biên luôn những nhà in. Năm 1908, đã xảy ra Vụ án cờ đỏ (Akahata jiken, "Xích kỳ sự kiện") với việc bắt giữ 3 đảng viên Xã hội dân chủ chỉ vì họ đã phất cờ đỏ ngoài đường (cờ đỏ tượng trưng cho xã hội chủ nghĩa), những người này đã lãnh án cao nhất là khổ sai 2 năm rưỡi. Năm 1911, công nhân thành phố Tōkyō thành công trong cuộc bãi công đòi tăng lương, nhưng người lãnh đạo của họ là Katayama Sen bị bắt giữ.

Tuesday, July 31, 2018

Lịch sử thành phố Lviv

chỉ trong 3 năm 1914-1917, 7 lần thay đổi chế độ, là chiến trường của nga, đức, ukraine, ba lan,...; giờ là một phần của ukraine,
-----
In the twentieth century, L’viv…, now a city in Ukraine, experienced war not just once but many times. Between 1914 and 1947, the city went through seven regime changes (thay đổi chế độ) and was shelled (bị nã pháo) by Russian, Ukrainian, German, and Soviet artillery (pháo) and bombed (bom) by German and Soviet planes (máy bay). 

In November 1918, Poles and Ukrainians fought one another for control (kiểm soát) of the city. Twnety-five years later, both sides were prepared to battle it out again. During the same period, the city’s Jewish population lived through several pogroms (cuộc tàn sát người Do thái (dưới thời Sa hoàng); cuộc hành quyết (vì tôn giáo, chủng tộc)) and experienced repeated bouts (đợt) of anti-Semitic (bài Do thái) violence (bạo lực) up until the time when almost all of Jews of L’viv were murdered (giết) by Nazi Germany. 

After World War II, the Soviet government forced the Polish population to leave the city…In 1914 half of the city’s population was Roman Catholic (mostly Poles), 28 percent were Jewish, and 18 percent were Greek Catholic (about two-thirds of them Ruthenians/Ukrainians). By 1947, L’viv had become an almost homogeneously (đồng nhất, thuần nhất) Ukrainian city…Approximately 80 percent of the city’s’ inhabitants had arrived during or after the war (hậu chiến).

That is all from p.1 of Christoph Mick’s study of L’viv.


Known as Lemberg in German and Lwów in Polish, the city of L’viv in modern Ukraine was in the crosshairs of imperial and national aspirations for much of the twentieth century. This book tells the compelling story of how its inhabitants (Roman Catholic Poles, Greek Catholic Ukrainians, and Jews) reacted to the sweeping political changes during and after World Wars I and II. The Eastern Front shifted back and forth, and the city changed hands seven times. At the end of each war, L'viv found itself in the hands of a different state. While serious tensions had existed among Poles, Ukrainians/Ruthenians, and Jews in the city, before 1914 eruptions of violence were still infrequent. 

The changes of political control over the city during World War I led to increased intergroup frictions (bất đồng, xích mích, va chạm), new power relations, and episodes of shocking violence, particularly against Jews. The city’s incorporation (sáp nhập vào) into the independent Polish Republic in November 1918 after a brief period of Ukrainian rule sparked (khuấy động) intensified conflict. Ukrainians faced discrimination (phân biệt đối xử) and political repression (đàn áp chính trị) under the new government (chính quyền mới), and Ukrainian nationalists (dân tộc chủ nghĩa) attacked the Polish state. In the 1930s, anti-Semitism increased sharply. 

During World War II, the city experienced first Soviet rule, then Nazi occupation, and finally Soviet conquest (chinh phục, chinh phạt). The Nazis deported (trục xuất) and murdered nearly all of the city’s large Jewish population, and at the end of the war the Soviet forces expelled the city’s Polish inhabitants. 

Based on archival research conducted in L’viv, Kiev, Warsaw, Vienna, Berlin, and Moscow, as well as an array of contemporary printed sources and scholarly studies, this book examines how the inhabitants of the city reacted to the changes in political control (kiểm soát chính trị), and how ethnic and national ideologies (tư tưởng dân tộc và quốc gia) shaped (định hình) their dealings with each other.

Saturday, August 26, 2017

Gandhi bị hạ tượng

Gandhi phân biệt chủng tộc, người ấn hơn mọi phi da đen...

-> Ghana sẽ hạ một bức tượng của ông ở trường đại học ở thủ đô nước này
-----
Ghana has said it will remove a statue of Mahatma Gandhi from a university campus in the nation’s capital where it had sparked (khuấy động, phát lửa) protests (biểu tình) over the leader’s allegedly (bị cáo buộc) racist (phân biệt chủng tộc) attitudes (thái độ).

The statue (bức tượng), which was unveiled (khánh thành) by Indian President Pranab Mukherjee during his visit to Ghana in June, was meant to symbolize (biểu tượng) friendship (tình hữu nghị) between the two countries, according to Ghana’s Ministry of Foreign Affairs. But professors and students at the University of Ghana called the statue “a slap in the face” (cú tát vào mặt) because of Gandhi’s “racist identity.” They started an online petition (kiến nghị) calling for the statue’s removal.

The petition, which had more than 1,700 supporters on Thursday, cited letters Gandhi wrote during his time in South Africa as evidence that he advocated (ủng hộ) for the superiority (ưu trội hơn) of Indians over black Africans. It also took issue with his use of the derogatory (xúc phạm) term kaffir (từ sỉ nhục để ám chỉ người Phi da đen) to refer to native Africans and criticized the lack of statues of African heroes and heroines on campus.

Wednesday, August 23, 2017

Lợi ích của Mỹ ở Việt Nam

là Sài Gòn, diễn văn của John F. Kennedy tại The Conference on Vietnam Luncheon (in the Hotel Willard, Washington, D.C., June 1, 1956) đó bạn, hat tip to Hải Trương,
-----
Let us briefly consider exactly what is "America's Stake in Vietnam":
(1) First, Vietnam represents the cornerstone (hòn đá tảng) of the Free World (thế giới tự do) in Southeast Asia, the keystone to the arch (đá đỉnh vòm của chiếc vòm), the finger in the dike (ngón tay ở đập, nhắc đến chuyện chú bé Hà Lan ấn tay vào lỗ thủng ở đập để cứu làng khỏi lụt, giống "lấy thân mình lấp lỗ châu mai" phết). Burma, Thailand, India, Japan, the Philippines and obviously Laos and Cambodia are among those whose security would be threatened if the Red Tide (làn sóng đỏ) of Communism overflowed into Vietnam. In the past, our policy-makers have sometimes issued contradictory statements on this point - but the long history of Chinese invasions (xâm lược) of Southeast Asia being stopped by Vietnamese warriors should have removed all doubt on this subject.

Moreover, the independence of a Free Vietnam is crucial to the free world in fields other than the military. Her economy is essential to the economy of Southeast Asia; and her political liberty is an inspiration to those seeking to obtain or maintain their liberty in all parts of Asia - and indeed the world. The fundamental tenets of this nation's foreign policy, in short, depend in considerable measure upon a strong and free Vietnamese nation.

(2) Secondly, Vietnam represents a proving ground of democracy in Asia. However we may choose to ignore it or deprecate it, the rising prestige and influence of Communist China in Asia are unchallengable facts. Vietnam represents the alternative to Communist dictatorship. If this democratic experiment fails, if some one million refugees have fled the totalitarianism of the North only to find neither freedom nor security in the South, then weakness, not strength, will characterize the meaning of democracy in the minds of still more Asians. The United States is directly responsible for this experiment - it is playing an important role in the laboratory where it is being conducted. We cannot afford to permit that experiment to fail.

(3) Third and in somewhat similar fashion, Vietnam represents a test of American responsibility and determination in Asia. If we are not the parents of little Vietnam, then surely we are the godparents. We presided at its birth, we gave assistance to its life, we have helped to shape its future. As French influence in the political, economic and military spheres has declined in Vietnam, American influence has steadily grown. This is our offspring - we cannot abandon it, we cannot ignore its needs. And if it falls victim to any of the perils that threaten its existence - Communism, political anarchy, poverty and the rest - then the United States, with some justification, will be held responsible; and our prestige in Asia will sink to a new low.

(4) Fourth and finally, America's stake in Vietnam, in her strength and in her security, is a very selfish one - for it can be measured, in the last analysis, in terms of American lives and American dollars (tính bằng mạng sống lính mỹ và tiền đô-la mỹ). It is now well known that we were at one time on the brink of war in Indo-china - a war which could well have been more costly, more exhausting and less conclusive than any war we have ever known. The threat to such war is not now altogether removed from the horizon. Military weakness, political instability or economic failure in the new state of Vietnam could change almost overnight the apparent security which has increasingly characterized that area under the leadership of Premier Diem. And the key position of Vietnam in Southeast Asia, as already discussed, makes inevitable the involvement of this nation's security in any new outbreak of trouble.

theo bạn, từ parents và godparents ở đoạn 3 có thể dịch là "cha mẹ ruột" và "phụ huynh đỡ đầu", từ đó cho rằng Mỹ có tâm thế "cha mẹ" của chính quyền Sài Gòn không?

Monday, August 21, 2017

Lenin có phải là gián điệp của Đức?

bài báo của Sean Mcmeekin trên tờ New York Times khẳng định đúng vậy: là người quan trọng nhất nhận tài trợ của Đức vì kịch liệt phản chiến, ủng hộ Ukraine giành độc lập (mục tiêu chính của phe Liên minh Trung tâm); trong bài luận “Chủ nghĩa Xã hội và Chiến tranh” (Socialism and War, 1915), Lenin lập luận rằng các nhà cách mạng nên thâm nhập vào quân đội và biến họ trở thành người cộng sản, kích động bạo loạn và chủ động gây thất bại cho chính quyền của họ”.

...“Luận cương Tháng Tư” (April Theses) ủng hộ lật đổ chính phủ lâm thời (nắm quyền từ sau cuộc Cách mạng tháng Hai). Trong cuộc đảo chính Những Ngày Tháng Tư, xảy ra hai tuần sau khi Lenin trở về, các thành viên Bolshevik đã cầm những tấm áp phích chống chiến tranh, trên đó kêu gọi đoàn kết với kẻ thù (“Người Đức là anh em của chúng ta”). Sau âm mưu đảo chính thứ hai, được gọi là Những Ngày Tháng Bảy, Lenin và 10 người Bolshevik khác bị buộc tội “phản bội và nổi dậy có vũ trang.” Hàng loạt nhân chứng đã đưa ra lời khai về: việc chuyển tiền từ Stockholm, rửa tiền thông qua một doanh nghiệp nhập khẩu của Đức, việc Đức tài trợ cho tờ báo Pravda của Bolshevik (bao gồm cả các phiên bản dành cho quân đội tiền tuyến), về mức trợ cấp khi họ cầm áp phích Bolshevik trong các cuộc biểu tình đường phố (10 rúp) hoặc tham gia chiến đấu trong Hồng Quân (40 rúp/ngày)...

đọc chi tiết bài dịch tiếng Việt ở nghiencuuquocte,
-----
What singled Lenin out from fellow Russian socialists was his fanatical opposition to the war and his support for Ukrainian independence, a key aim of the Central Powers. While other antiwar socialists like Trotsky genuinely abhorred the carnage and strove to bring the war to a halt by supporting protests and draft resistance, Lenin argued in his 1915 pamphlet “Socialism and War” that revolutionaries should instead infiltrate the armies and turn them red, promoting mutinies and actively seeking the defeat of “ ‘their’ governments” (Lenin’s own quotation marks).

...The “April Theses” advocated toppling the provisional government that had come to power after the February Revolution. During the April Days putsch, which occurred two weeks after Lenin’s return, Bolshevik activists held up antiwar placards that openly urged fraternization with the enemy (“the Germans are our brothers”). After a second attempted putsch, known as the July Days, Lenin and 10 other Bolsheviks were charged with “treason and organized armed rebellion.” Scores of witnesses came forward to testify about wire transfers from Stockholm, money-laundering via a German import business, the German financing of the Bolshevik newspaper Pravda (including editions aimed at front-line troops), the going rates for holding up Bolshevik placards in street protests (10 rubles) or for fighting in the Red Guards (40 rubles per day).

Monday, March 7, 2016

Lịch sử thư rác

một buổi tối tháng Năm năm 1864, một vài chính khách Vương quốc Anh nhận được bức điện vào giờ rất muộn
-> không biết là chiến tranh xảy ra hay sao, hay là nữ hoàng bị ốm?
mở thư thì chỉ là tờ quảng cáo của 1 tiệm nha khoa, sẽ mở cửa từ 10h sáng đến 5h chiều cho tới tháng 10,
đây được ghi nhận là ví dụ đầu tiên về "spam"
-----

ON A May evening in 1864, several British politicians (chính trị gia) were disturbed (quấy rầy, làm phiền) by a knock at the door and the delivery of a telegram—a most unusual (chuyện lạ) occurrence at such a late hour. Had war broken out? Had the queen been taken ill? They ripped open the envelopes (phong bì thư) and were surprised to find a message relating not to some national calamity (tai họa), but to dentistry (chữa răng, nha khoa). Messrs Gabriel, of 27 Harley Street, advised that their dental practice would be open from 10am to 5pm until October. Infuriated (tức điên lên, giận run người), some of the recipients of this unsolicited (không mời mà đến) message wrote to the Times. “I have never had any dealings with Messrs Gabriel,” thundered (nạt nộ, lớn tiếng, chửi mắng) one of them, “and beg to know by what right do they disturb me by a telegram which is simply the medium of advertisement?” The Times helpfully reprinted the offending telegram, providing its senders with further free publicity.

This was, notes Matthew Sweet, a historian, the first example of what is known today as “spam”.

Sunday, January 3, 2016

Trụ sở Công ty TNHH MTV Vận tải Đường sắt Sài Gòn

shared from Võ Tiến Cường.
-----

Tòa nhà Bureau du Chemin de fer của công ty Hỏa xa Đông Dương mạng phía Nam nay là trụ sở của Cty TNHH MTV Vận tải đường sắt Sài gòn ngự tại 136 đường Hàm Nghi nhìn sang chợ Bến Thành là một trong những toàn nhà có nhiều giá trị lịch sử.

Một trong số đó chính là trường bắn bao cát di động. Được dựng lên từ khoảng 1964 bởi chính phủ thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ. Nơi đây đã từng xử bắn khá nhiều giang hồ hảo hán cũng như biệt động sài gòn.

Nhưng nổi tiếng nhất là vụ xử bắn hoa kiều Tạ Vinh, 34 tuổi, ông trùm đầu cơ gạo sắt thép thời đó. Tết âm lịch 1964 giá gạo tăng vọt lên 7 đồng/kg mà chính phủ không làm sao can thiệp được. Tướng Kỳ triệu tập các hoa kiều chợ lớn tới và chỉ nói ngắn gọn : nếu trong 1 tuần giá gạo không quay trở lại bình thường thì một trong các ông sẽ bị xử bắn. Nhóm hoa kiều coi khinh lời nhắn nhủ này và giá gạo còn tăng tiếp.

Vụ bắt xử Tạ Vinh tại toà án binh đã diễn ra chóng vánh, bắt chấp mọi nỗ lực chạy tiền lo lót của hội doanh nhân hoa kiều chợ Lớn cũng như hội Tam Hoàng VN , Hồng Kong, rạng sáng ngày 14/3/1966, Tạ Vinh đã bị hành quyết tại trường bắn bao cát này. Tất nhiên sau đó việc thao túng thị trường của người Hoa vẫn tiếp tục nhưng không bao giờ có chuyện đẩy giá quá đáng như trước khi có vụ Tạ Vinh.