Journey in Life: book

Search This Blog

Showing posts with label book. Show all posts
Showing posts with label book. Show all posts

Saturday, April 10, 2021

Gặp gỡ “Những người thay đổi thế giới” - kẻ dung túng cho sự bất bình đẳng


Minh Thu dịch,

…Trong một loạt các chương tập trung vào những cá nhân khác nhau

thuộc tầng lớp hiếm hoi này, Giridharadas trình bày những lý lẽ của nhóm 0,001% những người thực sự tin rằng họ đang làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Gia tộc Sackler gây ra cuộc khủng hoảng thuốc giảm đau opioid nhưng lại

Monday, April 5, 2021

Đế quốc bạc

venice và nam tống đi theo 2 con đường khác nhau để tài trợ chiến tranh, nhưng nam tống đi sai đường...
-----
Let’s shift the scene back to 1262, when the two poles of world civilization, Venice in the West

and the Southern Song in the East, both faced the specter of war (bóng ma chiến tranh), and funding for these wars hung by a thread. Almost simultaneously, the authorities of both places came up with plans to deal with their emergencies, both involving the most advanced financial innovations of that time. The Southern Song’s Jia Sidao raised military funding by using the steadily devaluing huizi to buy up public land the strip the populace of wealth. Venice took a different road: Its parliament (quốc hội) authorized the government to mortgage (thế chấp) its tax revenue (tiền thu thuế), and when a fiscal deficit (thâm hụt tài chính) developed, the administration issued government bonds paying interest of 5 percent. In retrospect, Venice’s financial innovation summoned the magic power of public debt as capital and effectively led Europe into an era of financial revolution. As for china, the excessively issued huizi did not regain the favor of the market; rather, public discontent and unrest threw open the door for invasion by the Mongolians.

…we witness China taking the lead on finance and currency, but in the wrong direction. China, at a very early stage, had “flying money” (feiqian) for remitting funds, as well as pawnshops, silver shops, and other such establishments for credit transfer; the Song dynasty’s paper currency originated in private institutions; and private local banks (qianzhuang) and money-exchange shops (piaohao) experienced extraordinary growth in the Ming and Qing dynasties. So why didn’t China produce a modern banking industry?

…The unbankability of China’s currency led to the failure of China’s paper currency system and forced it to take the silver route. Without banks, and without the coinage of silver, progressing from bank notes to paper currency was out of the question. Currency could only exist in the form of confusing and outmoded metage currency.

Sunday, April 4, 2021

Văn minh Nhân loại có được gì nhờ Chiến tranh?


Lan Anh dịch, Quỳnh Anh hiệu đính,

Năm 1815, sau khi Chiến tranh Napoléon kết thúc trên chiến trường Bỉ, nhiều người Anh bắt

đầu đeo răng giả cạy từ xác người chết trận — người ta gọi là "răng Waterloo.” Những kẻ mót xác lục khắp bãi chiến trường thu nhặt xương người và động vật, rồi vận chuyển hàng triệu thùng đến vùng Yorkshire, ở đây xương được nghiền vụn ra dùng làm phân bón.

Tác giả Margaret MacMillan, sử gia người Canada, kể lại thông tin trên trong cuốn “War: How Conflict Shaped Us” (tạm dịch: “Chiến tranh: Xung đột định hình chúng ta như thế nào”), cuốn sách là những phân tích phong phú mang tính chiết trung bàn về chiến tranh đã định hình văn hóa và xã hội ra sao trong suốt chiều dài lịch sử. Qua những giai thoại vừa kể trên, MacMillan chứng tỏ rằng chiến tranh — chiến đấu và giết chóc — gắn bó mật thiết với

Friday, March 26, 2021

Đây là giọng nói


Ngân Nguyễn dịch, Quỳnh Anh hiệu đính,

Thể loại sách phi hư cấu về các bộ phận cơ thể dường như vẫn luôn phát

triển tự nhiên như lẽ bình thường. Chúng ta có sách lịch sử tự nhiên về tim và não, da, các giác quan. Sách về ruột bán rất chạy. Dương vật có hẳn lịch sử văn hóa, còn âm đạo có hẳn kinh thánh riêng về nó. Nhưng gượm đã, có lẽ bạn không nghĩ đến, cuốn sách 300 trang viết về thanh quản đang nằm ở đâu?

Cuốn sách ấy đến rồi đây, và cuốn sách này rất đáng khen ngợi. Tác giả, cây bút của tạp chí The New Yorker có tên John Colapinto, là ca sĩ nhạc rock nghiệp dư có một khối u ở thanh quản. “This is the Voice” (tạm dịch: "Đây là giọng nói") bắt đầu bằng

Monday, March 22, 2021

Chia rẽ

Source: Geographical,

Hữu Hoàng dịch, Quỳnh Anh hiệu đính,

Vì sao chúng ta đang sống trong thời đại của những bức tường?

Theo tác giả Tim Marshall, việc Bức tường Berlin sụp đổ là ngoại lệ nằm

ngoài quy luật. ‘Ở khắp nơi, chúng ta đang thấy những bức tường biên giới được dựng nên,’ tác giả viết.

Các số liệu càng củng cố cho nhận định này. Tường ngăn biên giới kiên cố hầu như không tồn tại vào cuối Thế chiến II, nay đã lên đến con số khoảng 70, phần lớn trong số đó chỉ mới

Sunday, March 14, 2021

Kỹ năng khéo léo của con người mang đến cho chúng ta gấm vóc tươi đẹp


Lan Anh dịch, Quỳnh Anh hiệu đính,

Khoảng nghìn năm trước đây, vào một ngày mùa đông tại ngôi làng phía

Tây Bắc Trung Quốc, chiếc xe đẩy chất đầy đồ gốm của một lái buôn mắc kẹt trong tuyết khiến cả con đường tắc nghẽn rất lâu. Cuối cùng, một lữ khách tiến đến hỏi, Đồ gốm trên xe giá bao nhiêu? Người lái buôn đáp, khoảng 7.000 đến 8.000 xu. Lữ khách đề nghị trao đổi ngang giá bằng thứ lụa dệt trơn, được gọi là luyện (練-lian). Người lái buôn đồng ý, và do xe hàng nhẹ đi nhiều, cuối cùng cũng có thể kéo xe ra khỏi chỗ kẹt.

Trong suốt thời nhà Đường (618-907), vải dệt thường được dùng như một hình thức tiền tệ, tác giả Virginia Postrel giải thích điểm này trong cuốn “The Fabric of Civilization: Cách dệt may tạo ra thế giới.” Và đó chưa phải tất cả.

Saturday, March 13, 2021

Cần sự thay đổi căn bản đối với giáo dục Việt Nam

shared from fb tien long do,
-----
(chương 19 trong cuốn 21 bài học thế kỷ 21 của Harari)

...Hầu như bố mẹ và thầy cô không ai có thể tưởng tưởng ra thế giới năm

2050 hay 2090 sẽ như thế nào, nhưng thi nhau nhồi nhét kiến thức và dạy dỗ những điều mình coi là đúng. Một thế giới tương lai của đứa trẻ hôm nay, theo Harari là nếu bảo sẽ giống với chuyện khoa học viễn tưởng, thì có thể sai. Nhưng nếu bảo không giống với chuyện khoa học viễn tưởng, thì chắc chắn sai. Trong thế giới mà hằng số chắc chắn nhất là sự thay đổi thì việc thiếu khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng, sẽ biến con người thành những hóa thạch lượn lờ trong thế giới.

Có thể thấy, thế giới cho đến những năm 1990 vẫn là một tiến trình tịnh tiến, có biến đổi nhưng có thể dự đoán được. Nhưng từ đó đến nay thì nó thay đổi với tốc độ chóng mặt đến không ngờ, và thật khó để biết điều gì và sẽ như thế nào, trong những thập niên tới.

Những kinh nghiệm của kỷ nguyên công nghiệp hóa làm chúng ta muốn giáo dục đồng bộ hóa con người theo các chuẩn mực. Người ta thấy sẽ dễ dàng hơn khi nhồi nhét các bài toán, bài lý, các bài lịch sử thường dạy lâu nay vào đầu trẻ.

Trong khi đó cái cần nhất với chúng là làm sao giữ được tâm lý thích ứng trước những sự thay đổi, làm sao có thể học hỏi nhanh, mà có khi cái cần nhất là 4 chữ C (Critical thinking, Communication, Collaboration, Creative thinking) thì lại ít được dạy, không muốn dạy, hay quên dạy.

Liên tưởng của Harari về cuộc đời của một đứa trẻ sinh năm 2015, trưởng thành khoảng 2050, và có thể sống đến 2100, nhưng được dạy dỗ bởi thầy cô hay bố mẹ sinh năm 1980, với các kiến thức và tư duy cũ, và ráo riết nhồi nhét những điều họ cho là đúng, cho dù có thể cũng chỉ là đúng với thế giới quan thế hệ của họ và trước họ.

Câu chuyện về một nền giáo dục như thế cũng góp phần tạo ra những đứa trẻ bị kiệt quệ vì không được là nó trong thế giới của chúng nó, như bất lực trước thế giới của nó, mà có khi buông xuôi hay phản kháng chỉ là biểu hiện của thực trạng đó...

Bài trước: Danh nghĩa nhân dân

Saturday, February 27, 2021

Tối thiểu hóa cảm giác hối tiếc và Jeff Bezos

shared from fb quan nguyen ha,
-----
Trong "A Wealth of Common Sense", Ben Carlson đề cao vai trò của chiến

lược giản đơn (simple strategies or simplicity-based framework) trong quá trình ra quyết định đầu tư. Thị trường tài chính là một hệ thống phức tạp nhưng không có nghĩa phải áp dụng các nguyên tắc phức tạp để giành thắng lợi. Phân tích thông tin (theo cách phức tạp) thì quan trọng nhưng góc nhìn (perspective) và thấu hiểu (understanding) mới đóng vai trò chính yếu. Ben cũng nhắc đến nguyên tắc thú vị "regret minimization" - tối thiểu hóa cảm giảc hối tiếc khi ra quyết định đầu tư (hay khởi nghiệp), đồng thời dẫn chứng về Jeff Bezos - cha đẻ của nền tảng thương mại điện tử Amazon. 

Dưới đây là bài phân tích ngắn khái niệm "regret minimization" của Ben, rất đáng đọc (cũng như sách A wealth of common sense):

Trong cuốn sách của mình, tôi đã trao đổi về góc nhìn: đầu tư chính là quá trình thực hành tối thiểu hóa cảm giác hối tiếc: "Quá trình đầu tư thực chất là một chuỗi các đánh đổi (Trade-offs). Đầu tư chính là trì hoãn tiêu thụ hiện tại nhằm phục vụ cho tiêu thụ tương lai. Đầu tư thực sự đến từ quá trình tối thiểu hóa cảm giác hối tiếc. Một vài nhà đầu tư sẽ hối tiếc vì bỏ lỡ khoản lợi nhuận kết sù trong khi người khác lại hối tiếc vì đánh mất quá nhiều. Kiểu hối tiếc nào sẽ chiếm hữu cảm xúc của bạn tồi tệ hơn?

Các nhà đầu tư liên tục phải đấu tranh với những cảm xúc và ham muốn đầy mâu thuẫn. Họ mong muốn có được khoản lợi nhuận kỳ vọng cao hơn trong dài hạn những cũng mong muốn ổn định trong ngắn hạn. Họ luôn tận dụng sự biến động (volatility) nhưng không muốn nó xảy đến trong danh mục đầu tư của mình. Họ muốn kiếm được khoản lời cao hơn nhưng lại không chấp nhận rủi ro cao hơn. Họ luôn muốn các mặt tích cực (upside) mà không đi kèm tiêu cực (downside). Do đó, ham muốn (desire) chính là thứ (pipe dream) buộc chúng ta phải đánh đổi và làm tất cả để cân bằng ba yếu tố: rủi ro, phần thưởng đầu tư và khả năng xử lý căng thẳng của việc ra các quyết định ảnh hưởng trực tiếp đển khoản tiết kiệm cả đời của mình (life savings).

Điều này còn vượt xa khỏi khái niệm "đầu tư". Mỗi quyết định lớn bạn đưa ra trong cuộc đời đều liên quan đến một dạng thức "cho và nhận" nào đó (give-and-take). CEO và nhà sáng lập của Amazon.com, Jeff Bezos có một đúc kết tuyệt vời về điều này, điều ảnh hưởng quyết định thay đổi số phận của ông. Khi bắt đầu cân nhắc thành lập Amazon, Bezos thực ra đang làm việc cho D.E. Shaw, một trong những quỹ đầu cơ (dựa trên định lượng) được tôn trọng bậc nhất (cũng là một trong những hãng lớn nhất) tại Mỹ. Quyết định này, khi nhìn lại rõ ràng thật sáng suốt, tuy nhiên đây không thực sự là một bước đi sự nghiệp an toàn vào thời điểm đó: rời bỏ một công việc trả lương cao tại quỹ đầu cơ để khởi sự một cửa hàng sách trực tuyến. Vậy làm thế nào mà Jeff Bezos có thể đưa ra quyết định thay đổi số phận như vậy?

Đây là thông điệp được Brian Christian và Tom Griffiths kể trong cuốn sách thú vị của họ - "Thuật Toán để Sống Sót: Khoa Học Máy Tính trong Các Quyết Định Con Người":

"Sự hối tiếc cũng có là một động cơ to lớn. Trước khi ra quyết định thành lập Amazon.com, Jeff Bezos có một vị trí an toàn và được trả lương cao tại hãng đầu tư D.E Shaw & Co ở New York. Khởi sự một tiệm sách trực tuyến tại Seattle là một bước ngoặt lớn lao - do đó sếp của ông tại D.E. Shaw đã khuyên ông cân nhắc điều này cẩn thận. Đây là điều Bezos nói: "Bộ khung tư duy mà tôi tìm thấy, điều khiến việc ra quyết định đặc biệt dễ dàng, thứ mà tôi gọi là - hay một gã lập dị (nerd) gọi: khung tối thiểu hóa cảm giác hối tiếc (regret minimization framework). Tôi đã hình dung bản thân mình ở độ tuổi 80, khi đó đang nhìn lại: "nhìn lại cuộc đời, tôi ước gì mình đã tối thiểu hóa những cảm giác hối tiếc mà tôi có." Tôi biết khi mình bước vào độ tuổi 80 tôi sẽ không hối tiếc vì mình đã thử làm điều này. Tôi sẽ không hối tiếc vì mình đã tham gia vào cái gọi là Internet, bởi tôi cho rằng đây sẽ là một thứ lớn lao trong tương lai. Tôi biết rằng, cho dù thất bại tôi sẽ không hối tiếc. Nhưng rõ ràng nếu không tham gia, tôi sẽ mãi mãi hối tiếc vì mình chưa từng thử. Tôi biết cảm giác này sẽ ám ảnh mình mỗi ngày. Khi suy nghĩ theo cách như vậy, quyết định tạo lập Amazon thật dễ dàng."

Tôi rất thích khung tư duy này bởi nó không liên quan đến các bảng biểu Excel hay kế hoạch kinh doanh hay khoản đầu tư kết sù dành cho khởi nghiệp mà mô tả nỗ lực hoàn thiện bản thân cùng cảm giác đeo đuổi mục tiêu cuộc đời - không phải áp dụng mô phỏng Monte Carlo để hiểu được các quyết định tối ưu. Con người luôn luôn buộc phải ra các quyết định lớn lao trong cuộc cuộc đời với bối cảnh bất định (khó để giảm thiểu). Tôi có nên nhận công việc này? Tôi có nên mua ngôi nhà này? Tôi có nên chuyển đến thành phố mới? Tôi có nên quay về trường và khởi động mọi thứ từ đầu? Bạn có thể đưa ra các quyết định "xác suất cao", nhưng cuộc đời thì không giống như Casino bởi phần bạn chưa biết thì quá nhiều, cuộc sống vốn hỗn loạn với nhiều thứ không hoàn hảo. Bezos đã đưa ra một phân tách quan trọng giữa quyết định mà bạn chọn sống cùng và thất bại khả dĩ đi kèm theo quyết định đó. Có một sự khác biệt lớn giữa trải nghiệm hối tiếc và trải nghiệm kết quả thất bại (poor outcome). Thất bại là một phần cuộc đời, bạn không thể kì vọng mỗi lần đánh cược thì mình đều chiến thắng. Có những lúc bạn phải chấp nhận hối tiếc nhỏ để tránh những hối tiếc còn to lớn hơn. Đồng nghiệp của tôi Tony Isola chia sẻ: "quá nhiều người là chuyên gia thành công, nhưng là kẻ nghiệp dư (amateurs) thất bại." Đây là hai câu hỏi dựa trên bộ khung của Jeff Bezos mà bạn nên đặt cho bản thân khi ra quyết định thay đổi số phận: Bạn đã tối thiểu hóa cảm giác hối tiếc mà mình có trong đời? Bạn có hối tiếc vì đã làm điều này?

Wednesday, February 24, 2021

Danh nghĩa nhân dân

shared from fb đào trung thành,
-----
Hôm nay xin giới thiệu với các bạn tác phẩm “Danh nghĩa nhân dân”, một tiểu thuyết quan trường Trung Quốc bán chạy nhất năm 2017, được chuyển thể thành phim và đạt giải biên kịch xuất sắc nhất cho Chu Mai Sâm, tác giả của tiểu thuyết. Ngày 28 tháng 3 năm 2017,tập đầu tiên của Danh nghĩa nhân dân được phát sóng vào khung giờ vàng trên đài truyền hình Hồ Nam. Sau khi Danh nghĩa nhân dân phát sóng được 26 ngày, tổng lượt xem đạt 11,65 tỷ và đạt giải phim truyền hình xuất sắc của Giải Kim Uy lần thứ 1.

1. Bối cảnh
Theo Tân Hoa xã “tại hội thảo kế hoạch đề tài phim truyền hình toàn quốc năm 2004, nhiều

đại biểu bày tỏ phải giải quyết vấn đề phim chống tham nhũng và phá án quá nhiều, bị lạm dụng quá mức. Tổng cục Quảng bá Phát thanh Truyền hình Quốc gia Trung Quốc quyết định giảm tỉ lệ duyệt phim cảnh sát và cướp, phim chống tham nhũng. Năm 2004, một thông báo được ban hành, yêu cầu các nhà đài toàn quốc không được chiếu phim điện ảnh và truyền hình đề tài vụ án nặng tính sát nhân và bạo lực trong khung giờ vàng.” Từ đó, phim chống tham nhũng rơi vào thời kì yên lặng trong khoảng 10 năm.

Tuy nhiên, sau khi Tập Cận Bình lên nắm quyền, phong trào chống tham nhũng dâng cao và Trung tâm Điện ảnh và Truyền hình Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao Trung Quốc cho rằng có thể thử khôi phục việc chế tác phim chống tham nhũng. Cuối năm 2014, sau khi lấy được sự đồng ý của trưởng cục Truyền hình thuộc Tổng cục Quảng bá Phát thanh Truyền hình, trung tâm này đã mời tiểu thuyết gia chính trị Chu Mai Sâm sáng tác một bộ phim truyền hình thực tế định hướng chống tham nhũng.

2. Tác giả
Chu Mai Sâm (1956), người Giang tô, nhà văn chuyên nghiệp. Ông là phó chủ tịch hội Nhà văn Giang tô, Ủy viên BCH hội nhà văn Trung quốc khóa 7,8,9. Ông đạt khá nhiều giải thưởng về đề tài chính trị, trị an, chống tham nhũng. Tác phẩm Danh nghĩa Nhân dân này bán được 1 triệu 500 bản chỉ trong 5 tháng đầu năm 2017.

Đề tài chính trị thượng tầng rất khó viết. Vì đa số những chính trị gia, những người tham gia hệ thống thì không viết, còn nhà văn có khi không phải Đảng viên, không hiểu các nguyên tắc sinh hoạt Đảng, không trong hệ thống.

Chu Mai Sâm, với tư cách là “quan văn” cấp cao của Đảng CS TQ nên rõ ràng ông hiểu và nắm rõ các nguyên tắc sinh hoạt Đảng cũng như quen biết nhiều lãnh đạo cấp cao của tỉnh và trung uơng.

3. Tác phẩm
Các tác phẩm quan trường khác như Sĩ đồ phong lưu, Bố Y Quan đạo, Quan Thần, Quan khí. Các nhân vật chính thường là quá xuất sắc, có thiên tư, công năng đặc dị, vừa khỏe mạnh, tuổi thanh xuân, vừa xuất sắc về thủ đoạn chính trị, xung quanh mỹ nữ vây quanh. Cho nên, một mặt nào đó hơi khiên cưỡng và không thực tế. Trong khi tác phẩm Danh nghĩa Nhân dân này, các nhân vật cấp cao là người bình thường, cũng có những khuyết điểm, tình cảm riêng tư nên thực tế hơn. Vả lại, mấy bộ quan trường kia vừa nặng cả chính trị lẫn ăn chơi, gái gú, khó có thể được chính quyền chấp nhận xuất bản.

Bản dịch Danh nghĩa Nhân dân chỉ có 500 trang, bằng 1/3 đến ¼ các bộ tiểu thuyết trường thiên kia, ngắn gọn và súc tích. Bạn có thể bỏ một hai ngày là đọc xong. Tình tiết nhanh chóng, tập trung chứ không kéo dài lê thê, nhiều trường đoạn, nhiều giai đoạn của nhân vật mà thường đi lên từ cơ sở như: xã, huyện, cán bộ cấp sở, thành phố, tỉnh, bộ, trung ương, bộ Chính trị,…

Danh Nghĩa nhân dân lấy bối cảnh một tỉnh hư cấu H., mà theo suy đoán của tôi là tỉnh Giang Tô với 80 triệu dân (2018), ngang với Thổ Nhĩ Kỳ và GDP 1.400 tỷ USD, ngang với Úc. Như vậy một tỉnh của Trung quốc có bộ máy, hệ thống, cấu trúc, dân số, kinh tế ngang với một nước trên thế giới. Các lãnh đạo tỉnh vì thế có tầm ảnh hưởng lớn, xem như vua, lãnh chúa một khu vực.

Nhân vật đứng đầu tỉnh nói trong đoạn kết cuốn sách: “ Trong ba năm, tới 6 trên 12 thành phố có bí thư và chủ tịch xảy ra vấn đề, bị giam giữ và xét xử. Các đồng chí, một nửa giang sơn đã rơi vào tay giặc”

Tham nhũng là vấn nạn của Trung Quốc và các nước có hệ thống tương tự. Đặc điểm của tham nhũng khá phức tạp. Các nhân vật phản diện chủ chốt từng là anh hùng và có thành tích trong quá khứ. Thế nhưng, vẫn gục ngã trước kim tiền, tình ái, tham vọng.

Những kẻ tham nhũng này thường có bộ mặt khá trong sạch và “Mở miệng ra là nói đến nhân dân, nhưng khi họ lấy nhân dân ra cao đàm khoát luận, lại khiến người ta cảm thấy châm biến với họ, nhân dân chỉ là danh nghĩa mà thôi!”

Chính trị thượng tầng phức tạp có liên quan lợi ích khá nhiều bên. Chính trị gia cần phải cân bằng lợi ích này và có những nước đi thận trọng. Danh nghĩa Nhân dân mô tả các buổi họp thường vụ rất đặc sắc với các thủ đoạn mà tôi nghĩ rất đáng học hỏi để trở thành một chính trị gia chuyên nghiệp: trầm ổn, linh hoạt, quyền biến,…

Chu Mai Sơn có giọng điệu và cách hành văn nhiều chỗ khá dí dỏm và châm biếm. Ví dụ như cho tay tham nhũng, tổng giám đốc tập đoàn Dầu khí trong phòng làm việc trưng bày cả bộ Lê Nin toàn tập. Tay này có thể đọc vanh vách Tuyên ngôn Đảng cộng sản và Tư bản luận. Bị bắt còn diễn thuyết về Tuyên ngôn với cán bộ Viện kiểm sát.

Chu Mai Sơn là quan văn của Đảng cho nên Đảng tính cũng khá cao. Nhân vật chính diện bình thường nhưng lại rất nguyên tắc, bảo đảm vì nhân dân phục vụ lại giàu tình cảm. Nhân vật đứng đầu bộ máy tỉnh quyền mưu nhưng đươc mô tả là lãnh đạo anh minh. Nói chung Danh nghĩa Nhân dân xứng đáng là Tiết mục kịch tham gia chào đón thắng lợi của Đại hội đại biểu Toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 19, món quà cho việc tiếp tục lãnh đạo của Tập Cận bình.

Bản dịch tiếng Việt tác phẩm này cũng ra đời đúng lúc, trước ngày khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 13.

Monday, February 22, 2021

Vì sao tỷ phú Abramovich mua Chelsea?

mà ko phải Arsenal,

tại một ngân hàng ngớ ngẩn (chẳng hiểu gì về bóng đá anh) ở Thụy Sĩ đó,

...trong buổi ăn trưa, Chelsea thử ra giá mua Thierry Henry đến 49,999 triệu bảng hơn cả cái giá của Zidane 46 triệu sang Real Madrid (từ Juventus), gần bằng 35% số tiền 140 triệu bảng Abramovich bỏ ra để mua Chelsea, Phó Chủ tịch David Dein của Asernal hỏi sao ko mua cả clb cho rồi?


Hóa ra là hồi Abramovich thăm dò thị trường thì ngân hàng UBS tư vấn là Arsenal (thuộc diện) ko phải để bán, nghe đến đó Dein đập bàn, cháo bắn tung tóe, chửi luôn UBS, chửi luôn Abramovich, ghét,

muốn bán quá đi chứ mà tư vấn thế, bựa... 😉


áp dụng trong cuộc sống, bạn nào "trong lòng ham vui mà bề ngoài đạo mạo" thì bỏ đi nhé, cứ sống thật với lòng mình, ko là bạn bè đi chơi nó ko rủ mình đâu :))

Sunday, February 21, 2021

Vì sao vẫn tồn tại lối đá "chém đinh chặt sắt"?

ơ, trận bóng cũng như trận đánh, có phải vì thế mà "chém đinh chặt sắt" không?

trận cuối mùa bóng 2003-2004, Chelsea vs Liverpool, để khích lệ các cầu thủ, CEO Chelsea mời tướng Krulak-thủy quân lục chiến trong chiến tranh Việt Nam đến phát biểu 🙋😺



Bài trước: Làm sao để gây ấn tượng với bạn gái?

Monday, February 15, 2021

Cơ sở sinh học của chính trị

shared from fb tien long do,
-----
CƠ SỞ SINH HỌC CỦA CHÍNH TRỊ

Trong tác phẩm mới luận giải về nguồn gốc và trật tự chính trị, Fukuyama khái quát rằng con người không hoàn toàn tự do xây dựng hành vi của mình theo xã hội, mà nó bị chi phối bởi bản chất sinh học chung, tất cả loài người đều là từ một nhóm nhỏ từ châu Phi khoảng 50000 năm về trước. Nền tảng này không chi phối đến hành vi chính trị, nhưng nó tạo khuôn khổ giới hạn cho các thể chế, chịu tác động của mẫu hành vi tái diễn, xuyên thời gian. Sự tồn tại trong cộng đồng, chứ không phải đơn lẻ, trong áp lực của hỗn loạn và bạo lực, đã kích thích tính hợp tác, lựa chọn mô hình hành động tập thể, gắn cả với tính di truyền, bị tác động bởi tính huyết thống và tương đồng lợi ích. Vì vậy, xây dựng thể chế là hành vi tự nhiên mang tính sinh vật.

Trong đó, con người tuân theo nguyên tắc dựa trên cảm xúc nhiều hơn lý tính. Cảm xúc như tự hào, tội lỗi, xấu hổ, bối rối, ngưỡng mộ, ảnh hưởng mạnh hơn là khả năng học hỏi. Đồng thời các tuân thủ chuẩn mực sẽ tạo ra tính bảo thủ rất lớn về thể chế, thế hệ sau luôn có sự kế thừa thế hệ trước, nên không dễ để mô phỏng, dịch chuyển hay sao chép thể chế.

Thể chế đôi khi được hình thành từ các lý do phi kinh tế hay chính trị, không giống như tư duy thông thường, mà nó đi từ nhu cầu rất sinh học, như nhà nước châu Âu hay Trung Quốc ra đời từ sự tuyệt vọng với tình trạng chiến tranh liên miên; tài sản tư hữu xuất hiện từ nhu cầu tâm linh, muốn có chỗ chôn cất, thờ phụng tổ tiên; hay chuyện Lang Liêu dâng bánh ngày Tết, nếu giả sử Vua Hùng không thích của nếp, liệu Lang Liêu có được truyền ngôi. Ngay kể cả các tư tưởng hay khuôn mẫu tôn giáo, nhiều ảnh hưởng đến xã hội, nhiều khi cũng bắt đầu từ động cơ lợi ích cá nhân.

Vì vậy, nếu thiếu các nền tảng sinh học tự nhiên, hay tác động từ bên ngoài, xây dựng thể chế mới sẽ là một cuộc vật lộn vô cùng khó khăn.

TIẾN HÓA CHÍNH TRỊ

Fukuyama cho rằng hệ thống chính trị phát triển tương đương với tiến hóa sinh học, như qui luật Darwin về chọn lọc và biến đổi. Cái khác nhau là chọn lọc và bảo tồn qua thể chế, chứ không phải qua gene. Sự biến đổi thể chế đôi khi cũng là ngẫu nhiên, chứ không phải lúc nào cũng là lựa chọn chủ ý. Chính trị tiến hóa qua văn hóa, chứ không phải qua di truyền. Và cũng giống như chọn lọc, các thể chế yếu sẽ bị thay thế. Một điều tác giả lưu ý là thực tế lịch sử của các thể chế là chuỗi ngẫu nhiên khớp nối sự kiện, mà chúng ta không thể dự đoán trước được.

Bốn tiêu chí đánh giá mức độ phát triển của thể chế: khả năng thích ứng - độ phức tạp - tính tự chủ - sự gắn kết.

Thể chế đơn điệu dễ tạo ra hỗn loạn về sau. Thể chế nhiêu khê sẽ cầm tù người tạo ra thể chế.

SUY TÀN CHÍNH TRỊ

Chính trị suy tàn từ sự bất hòa nhận thức, trước các áp lực biến đổi của môi trường.

Thể chế tạo ra để đối phó với thách thức. Nhưng thành công của nó cũng kéo theo tính quan liêu, già cỗi, bảo thủ, suy đồi trước các thách thức mới. Tính bảo thủ và tự mãn của những người hưởng lợi từ thể chế sẽ tạo ra bất hòa nhận thức với những người ít được hưởng lợi, nhưng chính họ lại nhạy bén với các thách thức mới.

Điều này cũng kéo theo nguyên nhân thứ hai dẫn đến suy thoái thể chế, là sự thân tộc hóa hệ thống, anh em cánh hẩu. Đặc quyền gây ra bất tín, bất tuân. Hệ thống bị suy thoái.

Rỗi rãi chiều 30 tết 2021, tóm tắt một số tư duy góc nhìn mới của Fukuyama, thể chế từ nguồn gốc sinh học.

Những gì chúng ta biết về xã hội loài người có vẻ nhỏ bé hơn rất nhiều, so với những thứ ta chưa biết. Một tư duy liên ngành, đa ngành, xem xét đa góc độ, là rất cần thiết với các vấn đề xã hội.

Những gợi mở của Francis Fukuyama, không chỉ hữu ích với thể chế nhà nước, xã hội, mà còn hữu dụng cho cả xây dựng thể chế doanh nghiệp hay gia đình.


Bộ sách Lịch sử chính trị. (Nguồn: Omega Plus)

Wednesday, February 10, 2021

Biến mất ở 0.001 giây

trong cuốn 'flash boys', tác giả michael lewis nói về giao dịch tần suất cao, các trader (máy tính) ping thị trường với lệnh bán để kéo người mua thật vào, rồi xóa lệnh, mua cổ phiếu đó, đẩy giá cao lên vài cent rồi bán cho người mua thật; trong bối cảnh khác, thì vừa là giao dịch nội gián vừa là giao dịch chạy trước, cả hai đều trái luật...
-----
...He teams up with Ronan Ryan, an awkward young Irish immigrant with a

knack for high-speed telecommunications technology, who joins RBC as head of high-frequency trading strategies, even though he has no idea what he’s supposed to do. Thanks to their combined expertise, the answer to the mystery of the vanishing sell offers soon becomes clear: High-­frequency traders are merely “pinging” the market with bids to tease out genuine buy orders. Then, at blazing speed, they cancel the offers, buy the shares, drive up the price by a few cents and resell them to a real buyer. This seems an amalgam of insider trading (giao dịch nội gián) and front-running (giao dịch chạy trước), both illegal (bất hợp pháp, trái luật) in other contexts but, evidently, perfectly lawful here.

High-frequency traders have plenty of accomplices (tòng phạm), as Katsuyama and Ryan discovered. Foremost among them seem to be the exchanges — the New York Stock Exchange, Nasdaq and BATS, to name some — which are happy to sell their order flow to high-frequency traders and thus have a financial stake in perpetuating their practices. So, too, do the big banks that run so-called dark pools, matching buyer and seller, and that sell their trading information (thông tin giao dịch). Armed with knowledge of large buy and sell orders, high-frequency traders dart in ahead of the trades, capturing a tiny spread between bid and ask prices that may last for a millisecond or two.

Lewis singles out Goldman Sachs as among the most egregious offenders.

Bài trước: Rủi ro thứ 5

Tuesday, February 9, 2021

Rủi ro thứ 5

đó là "quản lý dự án", năng lực quản trị (quốc gia) của chính phủ,

trong cuốn 'the fifth risk', tác giả Michael Lewis trình bày các vấn đề chính phủ mỹ phải đối mặt hiện nay không thuần túy về ý thức hệ mà là những vấn đề mang tính kỹ thuật lâu dài như điều tra khảo sát, ngăn chặn (sự lây lan của) vi-rút,

một mối nguy hiểm đối với hoạt động bình thường của các cơ quan liên bang là (những con người) kém năng lực và chểnh mảng, tác giả Lewis miêu tả cách đội ngũ của Trump đưa vào Bộ Nông nghiệp những người không phải chuyên gia trong lĩnh vực phi nông nghiệp, như nhân viên ở câu lạc bộ đồng quê hay chủ sở hữu của một công ty nến thơm,

nhưng sự bổ nhiệm vụng về này chỉ là một phần thôi, đáng nghi hơn là việc đưa những người như là "nhóm phá hoại" vào lãnh đạo các cơ quan công quyền, những người có lợi ích ở khối tư nhân (hđqt, tgđ doanh nghiệp gia đình) từ trước đã kêu gọi xóa bỏ các cục/vụ này hay lobby để hạn chế tối đa quyền điều tiết của họ,

ví dụ Trump đưa Barry Myers (tgđ công ty AccuWeather) làm Cục trưởng Cục Quản trị Khí quyển và Đại dương Quốc gia (thuộc Bộ Thương mại), từ lâu Myers đã lobby để Cục không tiếp xúc trực tiếp với công chúng, nói rằng Cục này nên "biến khỏi" ngành dự báo thời tiết, trong khi công ty AccuWeather của Myers chỉ là "đóng gói lại" dữ liệu thời tiết miễn phí của chính phủ và bán lại cho dân lấy tiền (lợi nhuận) thôi,

cứ đà này, muốn đi cafe hay chạy bộ cũng phải trả tiền để biết ngày mai mưa hay nắng mất... :)
-----
...But this kind of bumbling (vụng về) patronage (sự bảo trợ, sự đỡ đầu; quyền ban chức cho giáo sĩ; quyền bổ nhiệm (các chức vụ hành chính...)), according to Lewis, is only one part of

the Trump method (phương pháp). The other involves bringing in what looks suspiciously (đáng nghi ngờ, khả nghi) like a wrecking crew. Trump has repeatedly placed essential agencies under the leadership of individuals who have previously called for the elimination (loại bỏ, loại trừ, khử) of the same agency, or else a radical limit to its authority.

Take, for example, Barry Myers, Trump’s nominee for the head of the National Oceanic and Atmospheric Administration. Myers also happens to be chief executive of AccuWeather, his family’s company. As a private citizen, Myers lobbied to prevent (ngăn chặn) NOAA’s National Weather Service from having direct contact with the public, saying that “the government should get out of the forecasting business” — despite the fact that AccuWeather repackaged (đóng gọi lại) free government weather data (dữ liệu thời tiết miễn phí của chính phủ) and sold it for a profit.

With Myers in charge, Lewis says “the dystopic (bất công) endgame is not difficult to predict: the day you get only the weather forecast you pay for.”

Friday, February 5, 2021

Gắn kết xã hội thời Covid-19

đọc sách “Social Chemistry” của Marissa King thời dịch bệnh như này thật đáng lo,

ngay từ khi covid-19 chưa xảy ra, tác giả đã nêu chi tiết mối nguy của việc ko gặp mặt trực tiếp: 'sau hai tháng ko gặp nhau, cảm giác gần gũi giữa các thành viên gia đình giảm 30%... sau thời gian đó, tình bạn phai nhạt...'

tác giả nhắc nhở chúng ta cần chú tâm - không chỉ với các mối quan hệ cá nhân - mà cả với các mạng lưới (kết cấu mạng lưới được hình thành ra sao, dù ta có thích hay không, sẽ dẫn đến những kết quả rất khác nhau).

qua cuốn sách, tác giả cũng gợi ý chúng ta suy nghĩ về cách sống/lối sống mới thời covid, nếu cần qua 50 giờ để từ một người quen trở thành bạn, đời sống xã hội ở các trường học  sẽ như nào khi không có ký túc xá hay phòng hội thảo vật lý, nếu một nhân viên mất (trung bình) ba năm để xác định ai có thể tin tưởng, chúng ta sẽ thiết kế làm việc từ xa như nào để tính đến yếu tố này...
-----
...King calls on us to be intentional (cố ý, có chủ tâm) not just with our

individual relationships, but with our networks
. She says that we conflate (đúc kết thành một) networks with networking. “While the term networking may evoke (gợi lên) moral sentiments (quan niệm đạo đức)… networks themselves are simply structures (kết cấu),” she writes. And the ways these simple structures are set up, whether we like it or not, lead to very different end results.

We can’t avoid networks. We’re all a part of them and they shape our realities. They’re also not inherently (vốn đã) good or bad. Schools that design structures forcing students to interact with different groups, through scattered (rải rác) seating assignments, make cliques (bọn, phường, bè, lũ) less ubiquitous (có mặt khắp mọi nơi). Women are more likely to benefit from formal mentorship programs than men, because of the gendered nature of informal networks.

How might we use King’s insights to shape our new existences in the age of Covid? If we know it takes employees an average of three years to determine whom to trust, can we design remote work differently to account for that? If people need about 50 hours to move from acquaintance to friend, how might colleges navigate social life when there are no dorms or physical seminar rooms? If touch helps boost feelings of social support, how do we replace the handshake with a nonphysical exchange that still signals care?

Đời ngắn lắm, đừng làm việc vô nghĩa

shared from fb đào trung thành,
-----
Bullshit Jobs

Mới thử đọc 30 trang đầu cuốn sách của David Graeber, GS nhân chủng học của LSE, người có vai trò quan trọng trong phong trào Chiếm lấy phố Wall. Phải nói là thật hấp dẫn.

Ông kể về một chuyên gia nhân sự tên Kurt. Vâng không có gì vớ vẩn và nhiều chuyên gia như bây giờ. Mô tả về Kurt thì như sau:

1. Kurt là chuyên viên quản lý của một công ty nhân sự.

2. Công ty nhân sự này là nhà thầu phụ của một công ty chuyên về hậu cần.

3. Công ty hậu cần lại là nhà thầu phụ của một công ty CNTT.

4. Công ty CNTT này là nhà thầu phụ cho một đơn vị của Quân đội Đức.

Giả sử một lính Đức cần di chuyển một máy tính sang một phòng bên cạnh cách đó 5 mét. Anh lính cần điền vào một mẫu đơn. Mẫu đơn này gửi cho công ty CNTT. Công ty này đọc phê duyệt chuyển sang công ty hậu cần. Công ty này phê duyệt và chuyển sang công ty nhân sự của Kurt. Anh này ở cách doanh trại khoảng 100km đến 500km.

Kurt lái xe đến doanh trại, báo bộ phận điều phối, điền đơn và tháo máy tính cho vào thùng; Chuyển yêu cầu cho bộ phận hậu cần. Xong xuôi, đám hậu cần di chuyển đến phòng khác, lắp đặt, đi dây, kết nối. Một ông CNTT nghiệm thu rồi mới cho phép người lính làm việc. Kurt báo giá là 400 Euro, tiền thuế của dân chi cho Quốc phòng Đức.

Quy trình cực kỳ phức tạp, liên quan đến hàng chục người và đơn vị, tốn thời gian và tiền bạc. Và người ta gọi là chuyên nghiệp kiểu Đức.

Kurt tin rằng những việc anh làm thật sự vô nghĩa và tốn kém nhưng không mang lại một giá trị nào.

Đó là chuyện tư bản. Ở Liên xô cũ, để bán một miếng thịt có khi cần đến 3 người phục vụ. Hệ thống kinh tế chỉ huy tập trung đảm bảo ai cũng có việc làm vì lao động là vinh quang, mang lại giá trị cho con người.

Saturday, January 30, 2021

Linh cảm chẳng lành

ngay từ sách 'the fifth risk' tác giả michael lewis đã lo lắng hỏi là điều gì xảy ra khi cơ quan chính quyền chịu trách nhiệm phòng ngừa thảm họa nhưng lại ko thấy trước, ko chuẩn bị cho cuộc khủng hoảng sắp tới?

và covid-19 xảy ra, đúng là ko ai lường trước được, ko chặn được,

cuốn sách mới 'the premonition' (sự báo trước, sự cảm thấy trước; linh cảm, điềm báo trước) theo chân ba nhân vật ở tuyến đầu trong trận chiến đẩy lùi cơn đại dịch này...
-----
In his 2018 book, “The Fifth Risk,” Michael Lewis posed an unsettling



(không làm cho an tâm, đáng lo) question: What if the government agencies tasked with managing catastrophes (thảm họa) — natural disasters (thảm họa thiên nhiên), climate change-induced food shortages (thiếu thực phẩm do biến đổi khí hậu), epidemics (dịch bệnh) — failed to prepare for some unanticipated (không lường trước), looming (lù lù hiện ra) crisis?

“Many of the risks that fell into the government’s lap felt so remote as to be unreal: that a cyberattack left half the country without electricity (tấn công mạng khiến một nửa đất nước chìm trong bóng tối), or that some airborne virus wiped out millions (virus làm chết hàng triệu người),” he wrote.

Last year, when the coronavirus began spreading throughout the United States, Lewis called some of his government sources (nguồn tin) for “The Fifth Risk.” What he learned was even more disconcerting (làm bối rối, làm lúng túng, làm luống cuống; làm chưng hửng) than the frightening scenario (kịch bản đáng sợ) he was reading about in the news. The experts he spoke to were alarmed not just by the government’s failure to contain the virus, but by the possibility that an even more deadly pathogen (bệnh học) was on the horizon.

...“The Premonition” follows three central characters — a biochemist (hóa sinh học), a public health worker and a federal government employee who worked in the White House — as they confront the pandemic and find that the response from the United States government is woefully (buồn rầu, tang thương) inadequate (không đủ). All of them put “their careers on the line” as they tried to avert catastrophe, Lewis said.

Vụ Twitter khóa tài khoản của Trump: không chấp nhận được

tội phạm tình dục còn vào mạng được mà tổng thống mỹ lại ko vào được?

cần nới rộng phạm vi tu chính án thứ nhất trong thời mạng xã hội,

repeal section 230 là chưa đủ ;)
-----
'To see what is in front of one’s nose needs a constant struggle,’ George Orwell famously observed. He was talking not about everyday life but about politics, where it is ‘quite easy for the part to be greater than the whole or for two objects to be in the same place simultaneously’. 

...Writing in the London Spectator more than three years ago, I warned of a coming collision between Donald Trump and Silicon Valley. ‘Social media helped Donald Trump take the White House,’ I wrote. ‘Silicon Valley won’t let it happen again.’ The conclusion of my book The Square and the Tower was that the new online network platforms represented a new kind of power that posed a fundamental challenge to the traditional hierarchical power of the state.

By the network platforms, I mean Facebook, Amazon, Twitter, Google and Apple, or FATGA for short — companies that have established a dominance over the public sphere not seen since the heyday of the pre Reformation Catholic Church. None had malign intent. 

...What happened was that the network platforms turned the originally decentralized worldwide web into an oligarchically organized and hierarchical public sphere from which they made money and to which they controlled access. That the original, superficially libertarian inclinations of these companies’ founders would rapidly crumble under political pressure from the left was also perfectly obvious.

QUẢNG TRƯỜNG VÀ TÒA THÁP

THÔNG TIN MÔ TẢ

Tác giả: Niall Ferguson
Dịch giả: Vũ Hoàng Linh, Sơn Phạm
Số trang: 696
Loại bìa: Bìa cứng, áo ôm
Khổ sách: 16 x 24 cm

Mạng lưới và quyền lực, từ Hội Tam điểm đến Facebook

link đặt mua sách: https://forms.gle/ccCrzPHRSsk2W65y9

“Để hiểu được tại sao cuốn sách này được đặt tên là Quảng trường và tòa tháp, người đọc phải đi đến Siena. Đi bộ qua quảng trường có hình vỏ sò Palazzo del Campo đến tòa thị chính Palazzo Pubblico, bước qua dưới bóng gác chuông tòa tháp Torre del Mangia hùng vĩ, để thấy rằng không nơi nào trên thế giới bạn có thể gặp cảnh tượng hai hình thức của tổ chức loài người mà cuốn sách miêu tả lại được đặt cạnh nhau tao nhã đến vậy: xung quanh bạn là không gian công cộng xây dựng với mục đích phục vụ tất cả những hoạt động có phần không quá trang trọng của người dân [quảng trường]; còn phía trên là tòa tháp hùng vĩ tượng trưng và biểu hiện cho quyền lực lâu đời.” – Tác giả Niall Ferguson

| NỘI DUNG CHÍNH |
Thế kỷ XXI đã được ca ngợi là kỷ nguyên của kết nối mạng lưới, hiểu theo


cả nghĩa công nghệ lẫn nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong Quảng trường và tòa tháp, Niall Ferguson lập luận rằng các mạng lưới đã và luôn luôn đồng hành cùng chúng ta từ rất lâu đời cho đến tận thời nay, từ hình thái cấu trúc của bộ não đến chuỗi thức ăn, từ phả hệ gia đình đến khối cộng đồng tự do… Trật tự thứ bậc (mô hình tổ chức theo chiều dọc) và kết nối mạng lưới (mô hình kết nối quan hệ theo chiều ngang, với ví dụ dễ thấy ở thời hiện đại là các mạng xã hội như Facebook, Twitter…) đã luôn tồn tại song song với nhau xuyên suốt sự phát triển của xã hội loài người; chứ hoàn toàn không giống như chúng ta tưởng, rằng mạng xã hội chỉ mới xuất hiện gần đây.

Có thể nói, cuốn sách này ra đời với tư cách một khảo sát về lịch sử tồn tại và hoạt động của các hệ thống mạng lưới trong xã hội con người (từ câu chuyện về các hội kín cho đến các “mạng lưới” được ứng dụng trong chiến tranh du kích ở Borneo và chiến tranh Việt Nam… từ trước thời Facebook; từ việc các mạng lưới giúp tạo ra những phát kiến đổi mới cho đến việc các hệ thống trật tự thứ bậc đã giúp phổ biến các phát minh đổi mới đó…), về căng thẳng giữa các mạng lưới phân tán và các trật tự thứ bậc vốn lâu đời như chính loài người và tồn tại bất chấp tình trạng công nghệ (mặc dù công nghệ có thể ảnh hưởng đến việc bên nào chiếm ưu thế), cũng như sự trở mình để vươn lên nắm lấy quyền lực tối cao trong một xã hội của những mạng lưới này, để từ đó có thể tác động làm biến chuyển và cải tạo các cộng đồng từ phạm vi cục bộ đến toàn cầu.

Nhiều người ngày nay mắc sai lầm khi nghĩ rằng Internet đã thay đổi bản chất thế giới. Tuy nhiên, theo một phán quyết đa số gần đây của Tòa án Tối cao Mỹ đã ghi nhận, Internet chỉ là “quảng trường công cộng hiện đại”. Kỳ thực, công nghệ đến và đi. Thế giới vẫn là một thế giới của quảng trường và tòa tháp.

| THÔNG TIN TÁC GIẢ |
Niall Ferguson (sinh năm 1964): Là sử gia người Anh, là một trong các sử gia nổi tiếng nhất ở thời hiện đại. Ông là giáo sư của Đại học Harvard, nghiên cứu viên cao cấp tại Đại học Stanford và Đại học Oxford; chuyên gia trong các lĩnh vực lịch sử quốc tế, lịch sử kinh tế và tài chính cũng như chủ nghĩa đế quốc của Anh và Mỹ.

Năm 2004, Niall Ferguson được Tạp chí Time bình chọn là một trong 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới.

| TÁC PHẨM TIÊU BIỂU |
Đồng tiền lên ngôi
Văn minh phương Tây và phần còn lại của thế giới

| TRÍCH ĐOẠN HAY |
“Cuốn sách này […] kể câu chuyện về tác động lẫn nhau giữa các mạng lưới và trật tự thứ bậc từ thời xa xưa cho đến gần đây. Nó tập hợp những hiểu biết lý thuyết từ rất nhiều ngành học, từ kinh tế học đến xã hội học, từ khoa học thần kinh đến hành vi tổ chức. Luận điểm trung tâm của cuốn sách là các mạng xã hội luôn có vai trò quan trọng hơn nhiều trong lịch sử so với những gì hầu hết các nhà sử học, với niềm lưu luyến với các tổ chức thứ bậc như các nhà nước, cho phép – và chưa bao giờ quan trọng đến vậy trong hai thời kỳ.

“Thời đại nối mạng” đầu tiên theo sau sự ra đời của máy in ở châu Âu vào cuối thế kỷ XV và kéo dài đến cuối thế kỷ XVIII. Thời kỳ thứ hai – thời của chúng ta – bắt đầu từ những năm 1970,dù tôi cho rằng cuộc cách mạng công nghệ mà chúng ta gắn nó với Thung lũng Silicon là hệ quả nhiều hơn là nguyên nhân của một cuộc khủng hoảng của các tổ chức thứ bậc. Giữa hai thời kỳ này, từ cuối những năm 1790 cho đến cuối những năm 1960, cho thấy xu hướng ngược lại: các tổ chức thứ bậc đã thiết lập lại quyền kiểm soát của mình và thành công trong việc dập tắt hoặc sáp nhập các mạng lưới. Đỉnh cao của quyền lực được tổ chức theo thứ bậc trên thực tế là giữa thế kỷ XX – kỷ nguyên của chế độ chuyên chế và chiến tranh tổng lực.”

Omega+ trân trọng giới thiệu tới quý độc giả!

link đặt mua sách: https://forms.gle/ccCrzPHRSsk2W65y9

Đọc "Về Trung Quốc" của Kissinger

đọc làm gì, sai bét rồi :D
-----

...Roy asserted (khẳng định), for example, that “The breakthrough to China … really was a turning point (bước ngoặt) in the Cold War,” inducing (xui khiến, thuyết phục) Moscow to enter Strategic Arms Limitation Talks (Hiệp định tạm thời về một số biện pháp trong lĩnh vực hạn chế vũ khí chiến lược), and that “SALT paved the way to détente (hòa hoãn) that ultimately (cuối cùng, rốt cuộc) … brought down (hạ xuống, làm tụt xuống; hạ bệ, làm nhục; hạ, bắn rơi) the Soviet Union.”

In fact, however, the détente period brought heightened Cold War tensions (căng thẳng chiến tranh lạnh), Soviet global advances, and a near-nuclear confrontation (đối đầu hạt nhân) during the 1973 Yom Kippur War. It was Ronald Reagan who confronted (đối đầu, đối chất) “the Evil Empire” (đế quốc ma quỷ) a decade later, turned that momentum around and caused a Soviet downfall that Vladimir Putin has described as “the greatest geopolitical catastrophe of the century.” (thảm họa địa chính trị lớn nhất của thế kỷ)

Roy’s claim about Kissinger’s second great China-related achievement — Vietnam — is even more astonishing (đáng ngạc nhiên): “They negotiated an end to the Vietnam war that, in retrospect (ngẫm lại), [is] looked at as a disastrous end. But ... the agreement that was reached in 1973 was on U.S. terms because the key Vietnamese demand throughout the negotiation had been that there could only be an agreement if we got rid of (loại bỏ) the South Vietnamese government (chính phủ vnch). And the U.S. side would not cave in (nhượng bộ, chịu thua, khuất phục) on that subject.”

How does Roy explain the disaster (thảm họa) that followed? “Agreements cannot be implemented effectively (thực thi hiệu quả) if you don’t have the domestic support (ủng hộ trong nước) for doing that.”

Did Kissinger just learn that elemental diplomatic lesson (bài học ngoại giao cơ bản) after Saigon collapsed (sụp đổ) under North Vietnam’s inevitable full-scale invasion (xâm lược)? Or, as a seasoned realist and erudite (uyên bác, thông thái) historian (nhà sử học), didn’t he already know it at the time and sign South Vietnam’s death warrant (ký lệnh xử tử) anyway?

...Nixon’s strategic vision (tầm nhìn chiến lược) was that “China must change,” and he regretted years later that it had only grown more powerful: “We may have created a Frankenstein[’s monster].” Contrary to Kissinger mythology (huyền thoại), his vision was not strategic but transactional — our concessions to China would temper Soviet hostility and give us a “graceful exit” from both South Vietnam and Taiwan. That it failed on all counts is of no great concern to Kissinger; there would be other transactions with China over the ensuing decades.

Popular Now