Journey in Life: english

Search This Blog

Showing posts with label english. Show all posts
Showing posts with label english. Show all posts

Monday, June 8, 2020

Thị trường học IELTS bát nháo

ad chưa từng học ielts một ngày nào, ko có chứng chỉ IELTS, nhưng là du học thật, có bằng thạc sĩ thật nhé :)

ad lập web với sứ mệnh 'no child left behind' in english, cứ vô web học 'one phrase a day' với ad và team, 'It's free and always will be' ;)


Bài trước: In fighting trim nghĩa là gì?

Wednesday, April 29, 2020

Làm thế nào để thông thạo một ngôn ngữ?

shared from fb Tâm Huy Ngô,
-----
Để thông thạo một ngôn ngữ, cần tiếp cận vấn đề khác với việc “học kiến thức” (study) như 1 môn hàn lâm mà nên nhìn mục tiêu ngôn ngữ tương tự như học đàn:
Cần học cả kiến thức về nhạc lý. ( Kiến thức)
Cần tập đều đặn về nhạc cụ. Nhấn mạnh đều đặn quan trọng hơn cường độ. ( Kỹ năng)

Nói chung, ngôn ngữ có 3 tầng lớp:
Lớp 1 gồm các quy tắc, quy luật, công thức của ngôn ngữ: Ngữ pháp (Syntax).
Lớp 2 gồm các tầng ý nghĩa của ngôn ngữ: Ngữ nghĩa (Semantics)
Lớp thứ 3, sâu nhất, khó nhất để thành thạo là Ngữ dụng (Pragmatics):

Dùng ngữ pháp và ngữ nghĩa phải đúng bối cảnh, thói quen sử dụng trong đời thật.

Sai dụng ngữ là khi ngữ pháp đúng, ngữ nghĩa cũng có thể hiểu được, nhưng lại không ai nói, viết như vậy trên thực tế.

Đa số các bạn nếu chỉ học từ sách ngữ pháp, tra từ điển thì chỉ dừng ở 2 lớp đầu.
Còn lại, phải đọc, nghe nhiều, đều đặn hàng ngày thì mới thông thạo sâu đến lớp thứ 3 của ngôn ngữ được.

Riêng trẻ nhỏ thì đi ngược người học ngôn ngữ, chúng không quan tâm đến lớp ngữ pháp, nhưng đến tuổi đi học thì đa phần đều dụng ngữ tốt dù chưa biết viết (Đi từ dưới lên). Còn người học thường đi từ trên xuống, thường phải học ngữ pháp trước mới dụng ngữ thành công.

Một bên là quá trình đắc thụ tự nhiên ngôn ngữ, một bên là quá trình học và tập. 2 quá trình này bản chất là khác nhau nhiều.

Bên cạnh xây dựng giáo trình học ngoại ngữ, thì mình luôn xây chương trình đọc (reading program) đi kèm để tối ưu hoá học và đắc thụ.
(Language learning vs Lanquage acquisition)

Ps. Chém tí về Ây Ai, một số tiến sỹ về trí tuệ nhân tạo chuyên luyện cho máy tính xử lý dữ liệu ngôn ngữ đều nói:
Luyện cho máy dùng đúng ngữ pháp là chuyện quá nhỏ, luyện cho dùng đúng từ cũng không khó.
Khó nhất là làm sao dạy cho máy hiểu tại sao ai cũng khen người yêu là: “Em có thân hình bốc lửa” mà không phải “Em có thân hình bị cháy.”


Bài trước: Philanthropy nghĩa là gì?

Tuesday, April 28, 2020

Philanthropy nghĩa là gì?

shared from fb giang le,
-----
Cám ơn các bạn đã gợi ý cách dịch từ philanthropy. Các phương án được đưa ra (thay cho dịch thành "từ thiện") là thiện nguyện, vị nhân, nhân đạo đều có hàm ý làm một điều gì đó tốt cho người khác (vô vụ lợi). Những phương án đó có thể giúp phân biệt philanthropy với charity nhưng tôi vẫn thấy chưa đủ nghĩa.

Theo tôi hiểu philanthropy rộng hơn charity. Charity (hoạt đông từ thiện) là giúp đỡ (thường bằng tiền/hiện vật nhưng cũng có khi bằng công sức như Operation Smile) cho những người khó khăn, kém may mắn. Philanthropy bao gồm các hoạt động charity nhưng còn cả những lĩnh vực khác như tài trợ khoa học, nghệ thuật, giáo dục, y tế. Ở khía cạnh này philanthropy có phần tương đương với khái niệm "mạnh thường quân" của VN.

Ngược lại charity rộng hơn philanthropy ở chỗ mọi thành phần xã hội đều có thể tham gia (đóng góp từ thiện). Trong khi đó philanthropy gần như chỉ giới hạn trong giới giầu có. Khi nói tới một philanthropist người ta thường liên tưởng đến một người giầu bỏ tiền ra cho các hoạt động từ thiện hoặc mạnh thường quân tài trợ cho khoa học/nghệ thuật. Ngoài một số ngoại lệ, thường philanthropist là những người đã rời bỏ kinh doanh/chính trường (hoặc là những người giầu sẵn do thừa kế).

Luật của các nước Anglo-Saxon phân biệt public foundation (thường cho các hoạt động charity vd Red Cross) với private foundation (thường của các philanthropist như Bill Gates). Trong khi các public foundation luôn có mục đích từ thiện (hoặc các mục đích xã hội khác như bảo vệ môi trường, animal rights,...), private foundation không phải lúc nào cũng tốt, nhiều khi chỉ là một hình thức trốn thuế hoặc đánh bóng tên tuổi.

Bởi vậy ai đó có foundation mang tên mình chưa chắc đã là làm từ thiện hay mạnh thường quân. Chỉ khi nào được xã hội/báo chí công nhận là philanthropist thì mới chứng tỏ người đó có đóng góp thực sự cho cộng đồng. Nên nhớ những đóng góp đó chưa chắc vô vị lợi, có những người muốn lưu danh sử sách, quảng bá quan điểm/tư tưởng của mình cho hậu thế, thậm chí ngấm ngầm có động cơ chính trị (tốt hay xấu không bàn ở đây).

Nếu hiểu philanthropy như vậy thì phải dịch thế nào bây giờ?

Bài trước: Học viết văn

Monday, April 6, 2020

32 kênh Youtube siêu xịn khiến bạn nghiện nghe tiếng Anh

(nguồn: Kien Vintich / Shared by: Awake Your Power)

1. In a Nutshell

Các đoạn phim hoạt hình khiến việc học hành thú vị và đọc đẽ hơn.

2. C.G.P Grey

Các giải thích đầy dễ hiểu và mang tính giải trí về chính trị, địa lý và văn hóa.

3. Crash Course

Các nội dung về khoa học nhỏ nhưng có võ và nhiều chủ đề xuyên suốt nhiều lĩnh vực khác.

4. Scishow

Khám phá những điều bạn chưa từng ngờ đến với nhiều chủ đề mang tính khoa học cực kì hấp dẫn.

5. HowStuffWorks

Một “liều” tò mò cho mỗi ngày để hiểu thêm về thế giới.

6. THNKR

Con người, những câu chuyện và ý tưởng có thể làm thay đổi góc nhìn của bạn.

7. MinutePhysics
Những cách giải thích đơn giản cho nhiều câu hỏi liên quan đến vật lý và nhiều môn khoa học khác.

8. MinuteEarth

Khoa học và những câu chuyện về hành tinh tuyệt vời của chúng ta.

9. Veritasium

Kênh khoa học với nhiều thí nghiệm, phỏng vấn chuyên gia, trình diễn thú vị và thảo luận với cộng đồng về khoa học.

10. Numberphile

Nếu bạn yêu những con số, đừng bỏ qua kênh YouTube này.

11. SmarterEveryDay

Đúng như tên gọi của mình, kênh YouTube này sẽ giúp bạn thông minh hơn mỗi ngày với nhiều chủ đề về khoa học.

12. Periodic Videos

Video về từng chất hóa học và các vấn đề về hóa học nói chung.

13. Sixty Symbols

Tìm hiểu về vật lý và thiên văn.

14. AsapSCIENCE

Cập nhật hàng tuần các video cực kì vui nhộn và gây tò mò về khoa học.

15. It’s Okay To Be Smart

Thật tuyệt khi thông minh, chúng tôi cũng đồng ý với bạn!

16. PatrickJMT

Kênh YouTube với nhiều video liên quan đến toán học.

17. Bozeman Science

Một giáo viên trung học giải thích các vấn đề về khoa học

18. Computerphile

Loạt video liên quan đến công nghệ và máy tính.

19. The Game Theorists

Nếu thích phân tích và “chém gió” về game, đây là nơi dành cho bạn.

20. Extra Credits

Game được tạo ra như thế nào, chúng có nghĩa là gì và làm sao để chúng tốt hơn, kênh YouTube này sẽ trả lời tất cả.

21. The New Boston

Nhiều bài hướng dẫn về phát triển web.

22. Mark Crilley

Các video về hướng dẫn vẽ rất cả mọi thứ bạn có thể tưởng tượng được.

23. Draw with Jazza

Video học vẽ cực kì thú vị.

24. JustinGuitar

Kênh YouTube học guitar vời nhiều phong cách, kĩ thuật và phù hợp với nhiều trình độ.

25. HDpiano

Học chơi piano với những hướng dẫn dễ hiểu.

26. Every Frame a Painting

Video phân tích phim ảnh cực kì hấp dẫn.

27. Photo Exposed

Bí kíp và hướng dẫn nhiếp ảnh.

28. Film Riot

Khám phá nhiều bước trong quy trình làm ra một bộ phim.

29. ouLearn

Kênh YouTube về tìm hiểu những điều mới lạ phong phú của Open University.

30. TED Talks

Những bài thuyết trình đầy cảm hứng của TED.
TED-Ed - Những video về khoa học, giáo dục được TED chọn lọc kĩ lưỡng.

31. Smithsonian

Tìm đáp án cho những câu hỏi lớn.

32. Big Think

Khám những ý tưởng lớn định hình kiến thức trong thế kỉ 21

Wednesday, December 4, 2019

Học viết văn

shared from fb Nguyễn Tuấn,
-----
Nhà văn William Zinsser từng nói rằng viết văn là suy nghĩ trên trang giấy. Hai hôm trước, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gởi "thư động viên" đến huấn luyện viên Park Hang Seo. Tôi tò mò tìm hiểu xem nội dung lá thư viết gì, nhưng khi đọc xong lá thư tôi phải nói là văn phong rất ư là lạ lùng, không theo một qui chuẩn nào về viết văn mà chúng ta biết. Tôi thử chấp bút một lá thư khác cho ông thủ tướng. :)

Lá thư có 4 đoạn văn, trong đó Thủ tướng Phúc nói về chuyến thăm Hàn Quốc và chúc mừng ông huấn luyện viên. Vào thư, ông cho biết ông mới đi thăm chánh thức Hàn Quốc về, và trong chuyến thăm đó, ông có dịp dự vài hội nghị ngoại giao liên quan đến các nước trong khối ASEAN. Đoạn văn thứ hai, ông kể về những cuộc hội kiến với các chánh trị gia thượng tầng ở Hàn Quốc, và họ nói với ông về huấn luyện viên ‘Park Hang Seo’ như là một biểu tượng về mối liên hệ giữa hai quốc gia. Trong đoạn văn thứ ba, ông Phúc chúc mừng đội bóng do ông Park Hang Seo huấn luyện "luôn quyết tâm cao, mạnh mẽ, kiên cường, sáng tạo trong thi đấu, đạt nhiều thành tích to lớn hơn nữa [...]" Ông còn dùng câu văn cuối cùng để "chúc" ông ‘Park Hang Seo’ một lần nữa. Ông không quên viết tay chữ "Thân ái" trước khi kí tên.

Lá thư của Thủ tướng Phúc có rất nhiều vấn đề đáng học về nội dung và cách viết văn. Ở đây, tôi chỉ nêu nhanh những điểm dễ thấy:

1. Nội dung nghèo nàn. Nội dung lá thư, như các bạn thấy, không có một điểm gì cụ thể cả. Toàn bộ lá thư là những câu, những chữ rất chung chung, hoàn toàn không đề cập đến một chiến tích nào của ông huấn luyện viên. Cũng không có một câu cảm ơn. Chúc mừng tưởng một lần là đủ, đằng này ông chúc mừng đến hai lần trong 2 câu văn gần nhau! Lá thư đọc lên giống như là một người đi xa về nhà kể chuyện, chớ nó không thể hiện tầm vóc của một chánh trị gia đang điều hành đất nước.

2. Lá thư không có một câu văn nào để có thể gọi là 'quotable'. Thông thường, khi một chánh khách có tầm cỡ phát biểu -- dưới hình thức diễn thuyết hay viết -- họ đều có một thông điệp chánh, và trong thông điệp đó phải có một câu đáng trích dẫn. Tiếng Anh gọi là câu phát biểu 'quotable'. Nếu chánh khách không có câu nào đáng trích dẫn, thì họ cũng cố gắng tìm một câu nói để đời của các danh nhân và người nổi tiếng và dùng đó như là một lời nhắn nhủ. Chẳng hạn như Ronaldinho từng nói một câu bất hủ rằng "I learned all about life a ball at my feet", hay Pele với câu "The more difficult the victory, the greater the happiness in winning." Rất tiếc là trong lá thư của Thủ tướng không có một câu nào có thể xem là đáng trích dẫn.

3. Sai sót cơ bản nhứt là viết tên người ta sai. Tên của ông huấn luyện viên là "Park Hang-seo" (chú ý Hang-seo có dấu gạch ngang, và chữ sau không viết hoa). Ấy vậy mà ông thủ tướng viết là "Park Hang Seo"! Tên ông tổng thống Hàn Quốc là Moon Jae-In, nhưng ông thủ tướng viết là "Mun Che in". Tên của người nhận thư và tên của tổng thống mà còn viết không đúng thì thật quá khiếm nhã vậy.

4. Trong thư, ông thủ tướng viết hoa khá tuỳ tiện. Khi đề cập đến ông Park Hang-seo, ông viết "Ông". Khi đề cập đến cá nhân ông, ông dùng "Tôi". Tôi tự hỏi tại sao không là "ông" và "tôi"? Có lí do gì để viết hoa như vậy? Không có bất cứ lí do nào để viết hoa hai chữ "Ông" và "Tôi" cả.

5. Nhưng điều lạ lùng nhứt là cách cấu trúc đoạn văn. Trong thực tế, toàn bộ lá thư chỉ có 4 câu văn chánh. Mỗi đoạn văn chỉ có 1 câu văn! Câu văn đầu tiên dài 66 chữ/từ, câu hai 40 chữ, và câu ba dài đến 132 chữ! Hình như các quan chức Việt Nam có thói quen viết câu văn dài. Không nói ra thì ai cũng biết câu văn dài rất chuyển tải thông điệp đến người đọc. Đọc xong câu văn thứ hai của lá thư, tôi không rõ người viết muốn gởi một thông điệp gì hay nói lên ý chánh là gì. Không hiểu. Ấy vậy mà từ tổng bí thư, chủ tịch Nước, chủ tịch Quốc hội, thủ tướng, đến bộ trưởng, ai cũng viết những câu văn dài thòng. Có lẽ viết câu văn dài trở thành một nét văn hoá của các quan chức cao cấp Việt Nam.

Tôi nghĩ Thủ tướng Phúc muốn cảm ơn ông huấn luyện viên, và dùng lá thư để gởi một thông điệp về tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Nhưng có lẽ người chấp bút cho ông viết lan man quá, nên đọc xong lá thư ít ai biết ý chánh là gì! Ở trên, tôi có đề cập đến Nhà văn William Zinsser qua danh ngôn "Writing is thinking on paper" (viết văn là suy nghĩ trên trang giấy). Đối chiếu lại những gì ông thủ tướng viết không/chưa nói lên cái thông điệp đó một cách rõ ràng và mạnh mẽ (3).

====
Tôi thử tưởng tượng nếu mình là ông Phúc, mình sẽ viết gì? Có lẽ lá thư chỉ có 3 đoạn văn thôi. Tôi cũng bắt đầu bằng chuyến thăm Hàn Quốc, nhưng tôi sẽ gói gọn trong 4 câu văn ngắn, và nhân dịp đó nói lời cám ơn. Nhưng đoạn hai tôi sẽ có một thông điệp gởi cho ổng và công chúng (nếu cần). Có lẽ lá thư đó sẽ gọi tên thay vì họ cho thân thiện hơn, và dùng 'anh' thay vì 'ông' cho gần gũi hơn:

"Anh Hang-seo mến:

[Đi thẳng vào ý chánh] Tôi viết thư này để chúc mừng anh và đội tuyển bóng đá dưới sự huấn luyện của anh đã đạt được những thành tích vang dội trong vùng. Tôi cũng nhân dịp này bày tỏ lòng tri ân của tôi đến anh trong quá trình nâng cao vị thế xứng đáng của bóng đá Việt Nam trên trường quốc tế, và giúp đem Việt Nam gần hơn với các nước trong vùng. [Mở màn cho ý sau]

[Nhắc lại lịch sử] Tôi vừa mới đi thăm chính thức đất nước anh, nơi tôi có dịp diện kiến nhiều lãnh đạo trong Chính phủ và Quốc hội. Họ bày tỏ lòng ngưỡng mộ trước những đóng góp của anh cho bóng đá Việt Nam. Anh không chỉ là một huấn luyện viên; anh còn là một cầu nối quan trọng của tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt - Hàn. Thật ra, tình hữu nghị giữa hai dân tộc chúng ta bắt đầu hơn 800 năm trước, khi Hoàng tử Lý Long Tường từ Việt Nam sang Cao Ly định cư và ông đã giúp Triều đình Cao Ly đánh thắng quân Mông Cổ. Ít ai biết rằng trước Lý Long Tường khoảng 100 năm, còn có một người Việt khác là Hoàng tử Lý Dương Côn sang Cao Ly cũng định cư và có công lớn gíup triều đình Cao Ly. Sự hiện diện của anh ở Việt Nam có thể nói là nằm trong dòng chảy lịch sử giao thoa đó.

[Quay lại ý chánh trong đoạn 1] Có người nhìn cuộc thi bóng đá như là một chiến trường, nơi có thắng và thua. Nhưng tôi muốn nhìn bóng đá như là một môi trường nối kết giữa hai hay hơn hai dân tộc. Mỗi cuộc thi bóng đá không phải nhắm đến thắng thua, mà là một sự vun bồi cho khoảng cách văn hoá giữa hai cộng đồng dân tộc. Anh chính là người đang vun bồi và giúp cho hai dân tộc Việt - Hàn gần nhau hơn nữa. Anh không chỉ là một huấn luyện viên, mà anh còn là một sứ giả văn hoá.

[Một câu chúc Tết và không quên gia đình ông ấy] Nhân dịp Tết sắp về, tôi chân thành chúc anh và gia đình nhiều sức khoẻ, tận hưởng những ngày nghỉ ấm cúng và viên mãn ở Việt Nam."

Tuesday, November 26, 2019

Khác biệt giữa disease, illness, sickness

shared from fb Nguyễn Tuấn,
-----
Hôm nọ một bạn đọc bên nhà hỏi tôi về khác biệt giữa disease, illness, sickness. Mấy chữ này trong tiếng Việt thì đều có nghĩa chung là 'bệnh', nhưng tiếng Anh thì phân biệt khá rạch ròi. Trước đây tôi có dịp bàn về ba chữ này, và nay xin chia sẻ với các bạn, trước là trả lời bạn đọc và sau là ... học tiếng Anh.

Nguồn đáng tin cậy nhứt để tham khảo về disease, illness, và sickness là bài báo trên các tập san y học. Tập san BMJ có ít nhất là một bài (1) bàn về những khác biệt mang tính khái niệm giữa 3 chữ đó. Tôi tóm tắt những ý chính trong bài đó như sau:

Disease là một quá trình bệnh lí, mà căn nguyên của nó là các yếu tố liên quan đến sinh lí. Ví dụ như nhiễm trùng, ung thư, hay bệnh có căn nguyên không rõ ràng như schizophrenia được xem là 'disease'. Đây là những bệnh lí được chẩn đoán một cách khách quan, chứ không chủ quan qua cảm nhận của người bác sĩ. Tiếng Việt chúng ta dịch disease là 'bệnh tật'.

Illness là cảm nhận từ trải nghiệm về một trạng thái không khoẻ, không lành mạnh. Thường thì illness mang tính nội tâm của một cá nhân, và do đó nó mang tính chủ quan. Illness có thể là một disease nếu qua xét nghiệm, nhưng cũng có thể không phải là disease mà chỉ là một cảm nhận chủ quan. Có lẽ nên dịch illness là 'ốm'.

Sickness là một cái trạng thái ngoại tại về tình trạng không khoẻ mạnh. Sickness mang tính xã hội, chứ không mang tính nội tại và cũng không mang tính sinh lí học. Chẳng hạn như "homesick" là nhớ nhà. Không ai nói nhớ nhà là một disease hay illness cả. Chữ sick có khi dùng với hàm ý miệt thị, khinh thường. "He is a sick person" thường hay được sử dụng để ám chỉ một người có những suy nghĩ bệnh hoạn, hợm hĩnh. Chẳng hạn như có những người sợ bóng sợ gió, sợ đi máy bay, sợ khủng bố, sợ tiếp xúc với người thuộc chủng tộc khác, thấy ai cũng đáng nghi ngờ, v.v. thì đó là sickness. Có lẽ dịch sickness là 'bệnh chứng'?

Trong tiếng Anh, chúng ta có thể nói "I HAVE a disease", nhưng không thể nói "I feel diseased" được. Tương tự, chúng ta có thể nói "I FEEL ill", nhưng không nên nói "I have an illness".

Tóm lại, 3 chữ / khái niệm này có thể phân biệt bằng 2 đặc tính: đánh giá và nguồn gốc. Về cách đánh giá, disease được đánh giá khách quan qua các phương tiện khoa học, còn illness và sickness thì đó là cảm nhận chủ quan. Về nguồn gốc, disease có nguồn từ rối loạn sinh học, illness cũng có thể bắt nguồn từ sinh học, nhưng sickness có nguồn từ xã hội và văn hoá là chánh.

Friday, October 11, 2019

Cách viết bài viral content lan tỏa mạnh mẽ

viết đơn giản thôi,

tưởng tượng những câu ngắn sau có sức sống hơn 500 năm
-----

If we want to learn how to do it let’s look at some of the expressions that have ‘gone viral’ and passed into everyday usage, take the following:

“Out of the frying pan into the fire” (tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa)

“There’s no point closing the barn door after the horse has bolted” (mất bò mới lo làm chuồng, vô nghĩa)

“Every man for himself” (ai cũng vì mình)

“Don’t put the cart before the horse” (trứng đòi khôn hơn vịt)

“Half a loaf is better than none” (nửa ổ bánh mì còn hơn không)

Every dog has its day” (ai rồi cũng có lúc gặp vận, không ai khó ba đời)


We can all agree those expressions went viral without the need for technology.

In fact those were written by a man who was born about the time America was being discovered, and died just before the Spanish Armada, before the Internet, before electricity, around the time of the first printing press.

His name was John Heywood and he was born in 1497 and died in 1580.

He wasn’t a famous playwright, as Shakespeare became, he was mainly a performer.

But he used to write his own simple plays to incorporate his singing, dancing, and juggling.

In Henry VIII’s court records he was listed as a “Synger” and paid 100 shillings a quarter.

The writing was just an excuse for the performance, so he kept it simple and catchy.

Simple and catchy is what ordinary people like, so his writing has stayed viral, stayed in the language for 500 years.

Tuesday, August 20, 2019

Cryptocurrency nghĩa là gì?

shared from fb Giang Le,
-----
dịch cryptocurrency thành "tiền ảo" là sai, cả về nghĩa từ lẫn bản chất. Rất tiếc báo chí và cả một số quan chức (như trong bài bên dưới) vẫn nhầm lẫn như vậy. Hi vọng đến khi VN có văn bản pháp luật chính thức về cryptocurrency thì nó sẽ được dịch đúng là TIỀN MẬT MÃ.

Tôi cổ súy cho việc dịch cryptocurrency thành tiền mật mã vì những lý do sau. Thứ nhất tiền ảo chính xác ra là "virtual currency", nghĩa là những thứ không có thật và không có giá trị pháp lý. Ví dụ của virtual currency là tiền trong các game online, nghĩa là các đồng tiền tồn tại trong virtual world chỉ có thể mua được virtual products/services. Ở một khía cạnh nào đó tôi xếp tiền vàng mã ở VN cũng là virtual money, dù nó không phải là tiền điện tử. Lưu ý: virtual money vẫn có giá trị (dù nhỏ), nghĩa là trong một số trường hợp có thể đổi virtual money sang tiền thật.

Tiền điện tử (electronic money) là các loại tiền chỉ tồn tại trong các hệ thống computer. Vì computer hiện nay (hầu hết) là digital nên tiền số (digital money) cũng có nghĩa tương đương. Khi ngân hàng thực hiện electronic transfer thì họ chuyển electronic/digital money từ chỗ này sang chỗ khác. Electronic/digital money trong hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay và paper money (banknotes) đều là claims đối với ngân hàng trung ương.

Cryptocurrency là một dạng tiền tệ (hoặc phương tiện thanh toán) dựa trên nguyên lý khác hẳn với electronic/digital money truyền thống. Về cơ bản nó được xây dựng trên công nghệ blockchain sử dụng rất nhiều các thuật toán mật mã (cryptography). Cryptocurrency = Cryptography + Currency.

Một số người dịch thành "tiền mã hóa" cũng không chính xác.
Mã hóa dịch từ encryption, là quá trình chứ không phải bản chất. Bất kỳ đồng tiền điện tử/hệ thống thanh toán hiện đại nào cũng phải sử dụng encryption, nhưng như đã nói chỉ nên gọi chúng là eletronic/digital money. Có thể phân biệt cryptography vs encryption tương tự như dollar vs dollarization.

Tóm lại:

Virtual currency = tiền ảo
Electronic currency = tiền điện tử
Digital currency = tiền số
Cryptocurrency = TIỀN MẬT MÃ

Sunday, August 4, 2019

Để dịch tiếng Anh hay

cần giỏi cả tiếng việt nữa :), via Bao Tran,
-----
'glows in the dark, blow in the park' dịch sao cho vần điệu?

-> 'nhấp nháy trong đêm đen, nhấp đít trong công viên?' :D

Bài trước: Demarche nghĩa là gì?

Saturday, August 3, 2019

Demarche nghĩa là gì?

shared from Giang Le,
-----
Theo tài liệu này về mặt ngoại giao 2 quốc gia có thể có rất nhiều dạng "communication" khác nhau, tất nhiên với mức độ quan trọng khác nhau. Tôi đoán "công hàm" xếp vào dạng "Demarche", nghĩa là một bức thư/bức điện gửi một cách chính thức tuyên bố quan điểm của chính phủ mình. Thấp hơn "Demarche" là "Note Verbale", một dạng trao đổi ngoại giao rất phổ biến.

Demarche có 2 dạng: "first-person" (có chữ ký) và "third-person" (không có chữ ký), trong khi "Note Verbale" luôn là "third-person". Ví dụ của first-person demarche là Công hàm 1958 của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, còn phản hồi của TQ khi VN (và Malaysia) nộp bản đồ EEZ lên CLCS là một dạng Note Verbale.

Một câu hỏi đặt ra là "Công hàm" mà vừa rồi VN gửi cho TQ phản đối hành vi vi phạm chủ quyền EEZ trên bãi Tư Chính thuộc loại nào, nếu là first-person thì ai ký?

PS. Khi một đại sứ trình quốc thư, chữ quốc thư đó dịch từ "Letter of Credence".

Jurisdiction nghĩa là gì?

shared from Giang Le,
-----
Có 3 thuật ngữ cần làm rõ liên quan đến "chủ quyền" hiểu theo UNCLOS: sovereignty, sovereign rights, jurisdiction.

Một quốc gia có "chủ quyền" trên đất liền như thế nào thì cũng đó từng đó quyền trên "territorial water" 12 hải lý của mình trên biển. Chủ quyền theo nghĩa này là "sovereignty" bao gồm tất cả các quyền lực quốc gia của nhà nước qui định trong luật pháp quốc tế và luật của quốc gia đó. Ra ngoài "territorial water" quyền lực giảm dần, trong vùng EEZ (200 hải lý) một quốc gia chỉ còn "sovereign rights" liên quan đến những lĩnh vực qui định trong Điều 57 (và Điều 77 khi mở rộng ra "Continental Shelf ").

Như vậy theo UNCLOS "sovereign rights" (trên EEZ) nhỏ/hẹp hơn "sovereignty" trên đất liền hoặc "territorial water" dù cả hai chữ đó đều dịch sang tiếng Việt là "chủ quyền". [Lưu ý: đây là nói trong phạm vi UNCLOS, ở những lĩnh vực khác sovereignty có nghĩa rộng hơn.]

Chữ "jurisdiction" tiếng Việt dịch là "tài phán" (tôi đoán là dịch từ thuật ngữ của TQ). Tài phán (=trọng tài + phán xét, bạn nào biết chữ Hán confirm giùm) không phải ánh hết nghĩa của jurisdiction. Trong các vụ kiện tụng ở Anh/Mỹ/Úc đầu tiên các thẩm phán phải xem họ có jurisdiction xử vụ án đó hay không. Nghĩa là họ có thẩm quyền trong phạm vị pháp lý, phạm vi địa lý, đối với hai bên về vấn đề cấn phán xét hay không (vd vụ người dân VN kiện chính phủ Mỹ về tác hại của chất độc mầu da cam bị tòa bác vì lý do không có jurisdiction - tôi không nói đúng sai ở đây). Tài phán bao hàm nghĩa này của jurisdiction.

Nhưng jurisdiction còn có nghĩa quyền ra luật và thực thi luật, vd Điều 21 cho phép các quốc gia đưa ra các luật hoặc qui định liên quan đến hoạt động của tàu bè nước ngoài miễn là các luật này không trái với UNCLOS và các bộ luật quốc tế khác. Riêng với EEZ, Điều 57 liệt kê rõ những gì một quốc gia có jurisdiction trên EEZ của mình. Tôi chưa đọc Luật Biển của VN nhưng tin là bộ luật này không cho phép tàu bè nước ngoài thực hiện thăm dò/khảo sát trên EEZ của VN mà không xin phép. Thực ra nhiều nước qui định như vậy (kể cả TQ) và điều này không trái với qui định của UNCLOS (jurisdiction về scientific research - 57(1)(b)(ii)).

Bài trước: President vs Chairman

Friday, August 2, 2019

Có nhất thiết phải thế không?

 2 từ tiếng anh cần phải thay để trung tính hơn:

manhole (miệng cống, lỗ cống) thành mainternance hole (lỗ bảo dưỡng), và

manpower (nhân lực) thành human effort (nỗ lực của con người), ka ka
-----

The revised city documents also will replace instances (trường hợp) of gendered pronouns, such as "he" and "she" with "they,"

"Having a male-centric municipal code (mã, quy định) is inaccurate and not reflective of our reality," Robinson said. "Women and non-binary individuals (những người không xác định được giới tính hay người xuyên giới) are just as entitled to accurate representation. Our laws are for everyone, and our municipal code should reflect that."

Bài trước: President vs Chairman

Wednesday, June 5, 2019

Không cần thiết phải "lấy làm tiếc" về Phát biểu của Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long

shared from fb Anh Pham,
-----
(nguyên gốc đoạn văn của) Lee Hsien Loong

Wrote to Thai PM Prayut Chan-o-Cha to express my condolences on the passing of former Thai PM and President of the Privy Council, General Prem Tinsulanonda.

A capable and immensely respected leader, General Prem served Thailand with great distinction. As PM, he steered Thailand through a period of democratic development. Later he was appointed to the Privy Council, and was a trusted source of advice and counsel to the late King Bhumibol, and successive military and civilian governments.

His leadership also benefited the region. His time as PM coincided with the ASEAN members (then five of us) coming together to oppose Vietnam’s invasion of Cambodia and the Cambodian government that replaced the Khmer Rouge. Thailand was on the frontline, facing Vietnamese forces across its border with Cambodia. General Prem was resolute in not accepting this fait accompli, and worked with ASEAN partners to oppose the Vietnamese occupation in international forums. This prevented the military invasion and regime change from being legitimised. It protected the security of other Southeast Asia countries, and decisively shaped the course of the region.

General Prem was a good friend of Singapore. Mr Lee Kuan Yew worked closely with him and had deep respect for him as a statesman. He strengthened relations between Singapore and Thailand, forming a strong and enduring partnership.

I met General Prem several times. When I called on him in Bangkok in 1999 and 2000, he was gracious with his hospitality and counsel.

General Prem will be greatly missed by the people of Thailand and all who knew him. – LHL
-----
Ý kiến của mình về những phản ứng mạnh mẽ của bạn bè Việt Nam về phát biểu của Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long về việc Việt Nam "invade" (xâm lược) và "occupy" (chiếm đóng) Campuchia.

Thứ nhất là các hiểu lầm về tiếng Anh.

Các bạn học Tiếng Anh Bạn Gấu với mình năm vừa rồi có lẽ còn nhớ

Wednesday, June 22, 2016

President vs Chairman

shared from Giang Le.
-----
Xin phép múa rìu qua mắt các chuyên gia tiếng Anh một lần nữa. Hai từ trong tiếng Anh: president và chairman khi dịch sang tiếng Việt đều là chủ tịch. Tuy nhiên thông thường chairman là "chủ tịch" của một hội đồng (committee, board) mà mọi thành viên ngang hàng nhau, còn president là người đứng đầu một tổ chức có tính phân cấp (company, university, government).

Với các trường đại học Mỹ president phải hiểu là hiệu trưởng, là người chịu trách nhiệm điều hành/quản lý trường hàng ngày còn chairman (of the board) là chủ tịch của một hội đồng có trách nhiệm giám sát hoạt động của trường tuân thủ theo "điều lệ/hiến pháp". President, giống như CEO của công ty, có lương (rất cao), còn chairman (và các board member khác) thường không có lương mà chỉ được trả các chi phí liên quan đến việc tham gia vào board. Bởi vậy các bạn nên cẩn thận khi dịch chữ president/chairman trong bối cảnh trường đại học và khi bàn về lương của "chủ tịch" trường đại học. [Ở Úc hiệu trưởng trường đại học là Vice Chancellor, còn Chancellor là một vị trí hình thức có thể dịch là "chủ tịch"].

Trong công ty (theo hệ thống Anh/Mỹ) president không phải là người có quyền lực (điều hành) cao nhất, người đó là CEO (mặc dù có CEO kiêm luôn president). Chữ president trong bối cảnh này có nhiều nghĩa tuỷ thuộc từng công ty. Có khi president là người đứng đầu một bộ phận trong công ty, vd president of sales, president of marketing..., nhưng cũng có khi president là một chức vụ phó cho CEO (vì ít ai dùng chữ vice-CEO). President (và vice-president) còn có một nghĩa nữa là cấp bậc (khác với chức vụ) chỉ mức độ quan trọng của người giữ tên gọi đó (để dễ hiểu bạn liên hệ với cấp bậc đại tá trong quân đội, còn chức vụ có thể là sư đoàn trưởng). Trong trường hợp này bạn có thể thấy title đại loại như "President - Head of Sales" hay "VP - Customer Service". Lưu ý vì VP (vice president) ở đây là cấp bậc nên trong một bộ phận có thể có vài VP nhưng không có president. Ngược lại một công ty có thể có vài president mà không có VP.

Một chữ nữa khá oái oăm khi phải dịch sang tiếng Việt là director. Nếu là công ty theo hệ thống Anh/Mỹ dịch thành "giám đốc" là sai. Thông thường director là thành viên hội đồng quản trị (Board of Directors). Tuy nhiên cũng có công ty sử dụng chữ director với nghĩa cấp bậc như president/VP bên trên. Bởi vậy nếu thấy một người có title "Director of Marketing" thì cần hiểu đó là một nhân vật có vai vế trong marketing department của công ty, thường là head của department đó (nhưng không nhất thiết). Vậy nên đừng thắc mắc nếu bạn thấy title "Director - Head of Marketing" hay "VP - Head of Sales". Nhưng nếu bạn thấy title "Managing director" thì đó chắc chắn là sếp lớn trong công ty. Nói chung bất kỳ khi nào có chữ "managing" thì title đó quan trọng, vd managing director, managing president, managing partner..., còn nếu chỉ là president/VP hay director thì còn tuỳ.

Monday, April 6, 2015

Nightingale = đêm đầy bão

shared from fb Nguyễn Văn Tuấn.
-----
Đó là cách dịch theo kiểu chiết tự của một bài trên báo Tuổi Trẻ (1). Tác giả giải thích rằng "khi tìm tư liệu về Bạch Long Vĩ, chúng tôi biết rằng hòn đảo này còn được gọi bằng cái tên tiếng Anh theo nghĩa không hay là Nightingale (night in gale: 'đêm đầy bão')". Ôi, thật là hài hước!

Tôi nghĩ ai học tiếng Anh cũng biết Nightingale có nghĩa là chim sơn ca. Do đó tên tiếng Anh của đảo Bạch Long Vĩ có nghĩa là đảo Chim Sơn Ca. Đơn giản thế thôi. Không có bão táp gì trong chữ đó cả.

Xin nói thêm là ai từng học về thống kê sinh học sẽ biết đến cái tên Florence Nightingale. Bà xuất thấn là một y tá bên Anh, được xem như là "mẹ đẻ" của ngành y tá, nhưng bà còn là một nhà thống kê học xuất sắc. Bà được ghi nhận là người đi tiên phong trong việc thể hiện dữ liệu định lượng bằng biểu đồ.

Quay lại câu chuyện "nightingale = đêm đầy bão", nguồn mà tác giả nói là đã khảo sát là trang web Cục văn thư và lưu trữ Nhà nước (archives.gov.vn). Không rõ bài nào trong web này dịch như thế. Mà, ngay cả cách dịch theo kiểu chiết tự cũng sai be bét. Không có ai lại ngớ ngẩn đến độ nói "đêm trong cuồng phong" cả (gale có nghĩa là "gió mạnh" hay "cuồng phong"). Ấy thế mà vẫn có người nguỵ biện rằng cách dịch "đêm đầy bão" là đúng với chữ nightingale!

Chuyện này làm tôi nhớ đến chuyện mấy năm trước khi Hội khoa học kĩ thuật Hà Nội dịch dòng chữ "Cây gạo đại thụ. Trồng năm 1284. Giáp Thân" sang tiếng Anh là "Plant rice university acceptance".

Trước đó thì có vụ dịch nhạc sang tiếng Anh còn vui hơn nữa. Số là người ta làm một CD như là tặng phẩm cho chương trình 1000 năm Thăng Long, gồm 10 ca khúc nổi tiếng của Việt Nam được chuyển sang tiếng Anh. CD này do nhóm BSP Entertainment (được giới thiệu gồm những thành viên là bác sĩ, nghệ sĩ, sinh viên tại Sài Gòn). Họ dịch bài "Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa" như sau:
Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa (Hanoi's this season... absent the rains)
Cái rét đầu đông khăn em hiu hiu gió lạnh (The first cold of winter make your towel's gently in the wind)
Hoa sữa thôi rơi, em bên tôi một chiều tan lớp (Flower stop falling, you inside me after class)
Đường Cổ Ngư xưa chầm chậm bước ta về (on Co Ngu street in our step slowly return)

Đó là cách dịch từng từ một, chứ không hẳn là chuyển ngữ, và chắc chắn không phải là sáng tác.

Chưa nói đến văn phạm (vì khó nói văn phạm trong chuyển ngữ thơ nhạc), cách dịch trên cực kì vụng về, thể hiện người chuyển ngữ chưa rành tiếng Anh. Chú ý đến câu "Hoa sữa ...." thì người dịch lúng túng nên dùng flower cho ... tiện. Nếu không biết đây là một ca khúc được dịch sang tiếng Anh, tôi nghĩ là những câu văn hài hước, nhằm chọc cười người nghe. Tôi nghĩ người nói tiếng Anh sẽ không thể nào hiểu nổi những câu văn bồi (vâng, phải nói là bồi) trên có ý nghĩa gì. Flower stop falling, you inside me after class là cái gì? You inside me. Trời đất ơi!...

Wednesday, December 24, 2014

Jack Ma: Từ kẻ bị KFC "đá đít" thành người giàu thứ 70 thế giới

shared via vietnamplus.
-----
... Trước khi trở thành một nhân vật giàu có và quyền lực, lãnh đạo một công ty Internet với ảnh hưởng khổng lồ lên nền kinh tế trên mạng của Trung Quốc, Ma đã từng không thể xin được việc làm tại một cửa hàng bán đồ ăn nhanh KFC.

Doanh nhân 50 tuổi này có gốc gác rất khiêm tốn ở thành phố Hàng Châu, phía Đông Trung Quốc, nơi ông dạy tiếng Anh tại một ngôi trường ở địa phương với khoản lương chỉ tương đương 15 USD mỗi tháng. Trong nỗ lực cải thiện thu nhập, vào đầu những năm 1990, Ma đã đâm đơn xin việc vào nhiều nơi, gồm một tiệm KFC ở thành phố, nhưng bị từ chối.

Khi còn nhỏ, Ma rất hứng thú học tiếng Anh. Mỗi buổi sáng ông thường đạp xe 45 phút tới một khách sạn gần đó và tập giao tiếp với người nước ngoài. Ông thường làm hướng dẫn viên du lịch miễn phí cho họ để thực tập và hoàn thiện tiếng Anh của mình. Hoạt động giao tiếp cũng giúp thay đổi nhãn quan của Ma.

Vận may của Ma đã thay đổi khi ông được một công ty tuyển dụng vào năm 1995. Công ty này đã điều ông sang Mỹ với tư cách một phiên dịch viên. Ở nước Mỹ, Ma lần đầu tiên được tiếp xúc với một chiếc máy tính kết nối với Internet. Đó là sự kiện đặt nền móng đầu tiên để Ma gia nhập hàng ngũ những người như Mark Zuckerberg và Jeff Bezos, những tỷ phú làm giàu từ công nghệ...

Xem thêm bài gốc tại vietnamplus. Câu hỏi là: bạn đã thấy hứng thú học tiếng Anh hơn chưa? ;)

Thursday, December 11, 2014

Emotion khác feeling như nào?

-----
Học ngoại ngữ có cái thú vị là không chỉ học được các từ mới, mà học được luôn cả các khái niệm mới, mà tiếng Việt có khi chưa có. Một ví dụ là hai từ emotion và feeling trong tiếng Anh. Hai từ đó dịch ra tiếng Việt đều thành "cảm xúc". Tuy nhiên, khái niệm cảm xúc theo nghĩa "emotion" và theo nghĩa "feeling" về mặt khoa học là khác nhau!

Khái niệm "emotion" được trình bày rất hay trong một chương của cuốn sách của Gluck với tựa đề: "Learning and memory: from brain to behavior".

"Emotion", theo định nghĩa khoa học trong sách viết, gồm một bộ ba hiện tượng xảy ra đồng thời, như là một phản ứng đối với một tác động hay kích thích từ bên ngoài. Ba hiện tượng đồng thời đó là:
- Phản ứng sinh lý học (physiology), ví dụ như là nhịp tim đập nhanh lên, hàm lượng đường trong máu tăng lên, máu dồn vào một số chỗ trong cơ thể (ví dụ như là não để xử lý tình huống cho nhanh và chân tay để mà chạy hoặc tự vệ) trong khi đó một số hoạt động khác của cơ thể bị ngừng lại (ví dụ như hệ tiêu hóa hay hệ miễn dịch tạm ngừng hoạt động).
- Hành vi quan sát được (overt behavior, ví dụ như miệng cười toét ra, mặt đỏ lên, v.v.)
- Cảm xúc có ý thức (conscious feeling, ví dụ như cảm giác vui, buồn, sợ hãi, v.v.)

Như vậy thì feeling là một phần của emotion. Trong emotion ngoài feeling còn có cả phản ứng sinh lý và biểu hiện hành vi bên ngoài.

Các nghiên cứu cho thấy ba yếu tố trên tác động qua lại lẫn nhau, mỗi cái có thể kéo theo hai các khác. Bởi vậy, như người ta nói, "put on a happy face", muốn được cảm thấy vui vẻ thì hãy hay nở nủ cười. Hành vi nở nụ cười sẽ dẫn đến cảm xúc vui thực sự, dù cho đó có là nụ cười "vô cớ"!

Popular Now