Journey in Life: economics
Showing posts with label economics. Show all posts
Showing posts with label economics. Show all posts

Monday, January 6, 2020

Món nào ngon trên máy bay AirAsia?

ko cần phải đi máy bay mới biết,

đến nhà hàng Santan, ở Kuala Lumpur thử trực tiếp nhé
-----
Out of the many repulsive (ghê tởm, đáng ghét, kinh tởm) things about air travel, airline food probably ranks high. But not for AirAsia.

Asia’s largest low-cost carrier is betting people love its food so much that it opened its first restaurant on Monday, offering the same menu it sells on flights. It’s not a gimmick (mẹo quảng cáo, mánh lới quảng cáo), either: AirAsia, based in Malaysia, said it plans to open more than 100 restaurants globally within the next five years.

The quick-service restaurant’s first location is in a mall in Kuala Lumpur. It’s called Santan, meaning coconut milk in Malay, which is the same branding AirAsia uses on its in-flight menus.

Entrees cost around $3 USD and include local delicacies such as chicken rice and the airline’s signature Pak Nasser’s Nasi Lemak dish, a rice dish with chilli sauce. Locally sourced coffee, teas and desserts are also on the menu.

Sunday, December 29, 2019

Nợ sinh viên - 'án chung thân' với hàng triệu người Mỹ

đừng vay nợ để đi học, mà hãy mời nhà đầu tư, đầu tư cho việc học của mình :)

ở Lambda School, tuyên ngôn: bạn được học miễn phí, không phải trả đồng nào cho đến khi có việc làm kiếm được 50.000 usd/năm
-----
In an ISA, a student borrows nothing but rather has his or her education supported by an investor, in return for a contract to pay a specified percentage of income for a fixed number of years after graduation. Rates and time vary with the discipline of the degree achieved and the amount of tuition assistance the student obtained.

An ISA is dramatically more student-friendly than a loan. All the risk shifts from the student to the investing entity; if a career starts slowly, or not at all, the student’s obligation drops or goes to zero. Think of an ISA as equity instead of debt, or as working one’s way through college — after college.

An excellent point. If you watch Shark Tank the entrepreneurs are always wary about debt because debt puts all the risk on them and requires fixed payments regardless. Yet when it comes to financing the venture of one’s own life suddenly equity becomes akin to slavery and debt bondage becomes freedom! It’s very peculiar.



Friday, December 27, 2019

Tỷ lệ nghèo đói của Mỹ có thực sự giảm?

[tăng mạnh ấy chớ :)]

Những người thuốc lứa tuổi millennial (sinh từ năm 1981 tới 1996, ở Việt Nam chắc sẽ gọi là 8x và 9x đời đầu) hiện nay nghèo hơn bao giờ hết.

Tiền lương trung bình của họ chỉ ở mức 35 ngàn đô/năm; thu nhập thực tế giảm đi so với các thế hệ trước, giá trị tài sản ròng chỉ là 8.000 đô. Và có một nửa trong số họ vẫn phải nhận trợ cấp từ gia đình.; hat tip to Linh Hoang Vu,
-----

There's no way around it: The average American millennial is financially behind.

Faced with a high cost of living (chi phí sinh hoạt đắt đỏ), staggering (gây sửng sốt; làm choáng, làm kinh ngạc) student-loan debt (vay nợ thời sinh viên), and the fallout of the Great Recession (Tổng Suy trầm), American millennials are trying to make ends meet in the midst of The Great American Affordability Crisis.

The financial crisis split (chia, tách) the generation (thế hệ) into two distinct groups. Older millennials, who bore the brunt (gánh nặng chủ yếu, sức mạnh chính) of the financial crisis (khủng hoảng tài chính) dealt with a tough job market (thị trường việc làm khó khăn) and wage stagnation (đình trệ lương bổng), making it more difficult for them to save (tiết kiệm). Younger millennials, who experienced the recovery period (giai đoạn phục hồi), entered a better job market and became risk-averse (không dám chấp nhận rủi ro) by watching the recession unfold.

The generation overall, however, is plagued (quấy rầy, đòi hỏi, yêu sách (ai); mắc bệnh dịch) by financial problems (vấn đề tài chính) that baby boomers didn't have to face (đối mặt) at their age.

Thursday, December 26, 2019

Thủ thuật kế toán của Boeing

hạch toán tiền nghiên cứu phát triển theo... số máy bay (dự kiến) bán được -> tính luôn lợi nhuận tương lai về kỳ hiện tại,

vậy 737 Max giờ bị cấm bay, ko đâu mua nữa, thì che giấu lỗ như nào? liệu có sắp phá sản ko?
-----
the 787 Dreamliner, was budgeted to cost $7 billion for development, but ultimately cost between $30-50 billion (which was both development and manufacturing). That’s a lot of money! Where are the losses?

One hint comes in this headline of a Wall Street Journal story from 2016, before the 737 Max scandals started: "Boeing's Unique Accounting Method Helps Improve Profit Picture." Unique is doing a LOT of rhetorical work in this headline. Here's the nut paragraph:

Boeing is one of the few companies that uses a technique called program accounting. Rather than booking the huge costs of building the advanced 787 or other aircraft as it pays the bills, Boeing—with the blessing of its auditors and regulators and in line with accounting rules—defers those costs, spreading them out over the number of planes it expects to sell years into the future. That allows the company to include anticipated future profits in its current earnings. The idea is to give investors a read on the health of the company's long-term investments.

Qualcomm độc quyền như thế nào?

theo cách Rockefeller làm với dầu mỏ, và Bill Gates với hệ điều hành thôi, tính phí dùng (sản phẩm) đối với cả đối thủ...
-----
The story of how Qualcomm monopolizes (trở nên độc quyền) is pretty simple. The corporation does what Bill Gates did to computer manufacturers and what John D. Rockefeller did to railroads. Rockefeller’s oil was critical to railroads, and Gates’s operating system software was critical to computer makers. Both of them thus forced their dependents to give them a fee not just for every Rockefeller barrel (thùng) of oil or Microsoft OS license, but a fee for every one of their competitors’ as well. They taxed their competition and made it impossible to compete.

Qualcomm does this as well. As its competitor Intel explained, Qualcomm “refuses to sell [phone makers] any chipsets unless those manufacturers also purchase separate patent licenses that require them to pay exorbitant (cao quá đáng; cắt cổ) royalties (tiền trả cho người chủ một bản quyền hoặc bằng sáng chế; tiền bản quyền tác giả; tiền nhuận bút; tiền do một công ty mỏ hoặc dầu lửa trả cho sở hữu chủ của miếng đất đang được khai thác; tiền thuê mỏ) for every handset they sell, regardless of whether the handset contains a Qualcomm chipset.” In other words, it’s the Gates/Rockefeller playbook. Find an essential chokehold (điểm nghẽn), and use it to control the industry.

Qualcomm uses a few other anti-competitive tactics. It refused to license its patents - essentially standard and necessary for the industry - to competitors. And it cut exclusive deal arrangements with customers to box anyone else out of the market.

Wednesday, December 18, 2019

Trung Quốc vẫn là 'bá chủ' về nhiệt điện than

quy hoạch các nhà máy mới từ năm 2020 bằng công suất của toàn bộ EU luôn, vãi chưởng :D
-----
China is set to add new coal-fired power plants equivalent to the EU’s entire capacity, as the world’s biggest energy consumer ignores (phớt lờ, bỏ qua) global pressure (áp lực cộng đồng toàn cầu) to rein (ghì cương, kiểm soát) in carbon emissions (phát thải các-bon) in its bid to boost (thúc đẩy) a slowing economy (nền kinh tế tăng trưởng chậm chạp).

Across the country, 148GW of coal-fired plants are either being built or are about to begin construction, according to a report from Global Energy Monitor, a non-profit group that monitors coal stations. The current capacity of the entire EU coal fleet is 149GW.

While the rest of the world has been largely reducing coal-powered capacity over the past two years, China is building so much coal power that it more than offsets the decline elsewhere.

Saturday, December 14, 2019

Khai thác năng lượng gió ở Đức

cũng giảm nhiệt rồi, tốc độ xây mới còn chưa tới 20% so với tốc độ trung bình 5 năm trước, và là mức tăng thấp nhất trong hai thập kỷ qua...
-----
In the first nine months of 2019, developers (các nhà phát triển) put up 150 new wind turbines across the country with a total capacity of 514MW — more than 80 per cent below the average build rate in the past five years and the lowest increase in capacity for two decades. The sharp decline (giảm mạnh) has raised alarm (báo động) among political leaders, industry executives and climate campaigners.

“For the fight against climate change, this is a catastrophe (thảm họa),” said Patrick Graichen, the director of Agora Energiewende, a think-tank in Berlin. “If we want to reach the 65 per cent renewables target we need at least 4GW of new onshore wind capacity every year. This year we will probably not even manage 1GW.”

The problem was two-fold, he said: “The federal states have not made available enough areas (không dành đủ đất cho dự án mới) for new wind turbines, and those that are available are fought tooth and nail by local campaigners.”

Tuesday, December 10, 2019

Đạo chích rửa tiền qua game

mua đồ chơi bằng (thông tin) thẻ tín dụng ăn cắp, và bán lại ở trang thứ 3 để lấy tiền thật, v.v...

nhà sản xuất game Counter-Strike đã phải đóng chợ ảo trong game này,
-----

The creators of Counter-Strike says criminals have used it

For people who enjoy being (virtually) shot in the head by foul-mouthed teenagers, Counter-Strike has long led the field. The game, developed by Valve Corporation, pits a team of terrorists against an anti-terrorist commando squad (đội đặc công) in a fight to the death. Its various iterations have helped make Steam, a digital marketplace for video games also run by Valve, among the most successful in the industry. But Counter-Strike has appealed to more than just twitchy young men of late. On October 28th Valve announced it was stopping the trading between players of “container keys”—an in-game gambling device that players can buy (with real money) to try to win (virtual) rewards such as special weapons or clothing. The firm says “nearly all” of the trades of such keys were “believed to be fraud-sourced”. It is a rare admission of the growing problem of using video games to facilitate financial crime.

...it seems likely that the keys, which were bought with stolen credit cards, were then traded between accounts on Steam’s marketplace. Players cannot withdraw real money from their accounts, but in-game credit can be used to buy new virtual rewards or games. There is a burgeoning market (on third-party websites) for accounts already loaded up with virtual cash. Criminals can cash out by selling to gamers keen to acquire games or virtual items cheaply.

Công nghệ nhận diện gương mặt đã tinh vi đến mức độ nào?

giúp định danh và tìm được trẻ bị bắt cóc,

ở ấn độ có hơn 300.000 trẻ em mất tích và 100.000 trẻ em được nuôi trong các trại chăm sóc, -> không thể nào tự tìm bằng tay bằng mắt thường được,
-----
The child labor activist, who works for Indian NGO Bachpan Bachao Andolan, had launched a pilot program 15 months prior to match a police database containing photos of all of India’s missing children with another one comprising shots of all the minors living in the country’s child care institutions.

He had just found out the results. “We were able to match 10,561 missing children with those living in institutions,” he told CNN. “They are currently in the process of being reunited with their families.” Most of them were victims of trafficking, forced to work in the fields, in garment factories or in brothels, according to Ribhu.

This momentous undertaking was made possible by facial recognition technology provided by New Delhi’s police. “There are over 300,000 missing children in India and over 100,000 living in institutions,” he explained. “We couldn’t possibly have matched them all manually.”

Locating thousands of missing children is just one of the challenges faced by India’s overstretched police force in a nation of 1.37 billion people.


bất chấp lợi ích to lớn như vậy, giáo sư kinh tế tyler cowen vẫn không ủng hộ hệ thống nhận diện khuôn mặt ở tầm vĩ mô, trong khi đó, ấn độ đang có một kế hoạch rất tham vọng là xây dựng hệ thống nhận diện khuôn mặt lớn nhất thế giới

...…India’s government now has a much more ambitious plan. It wants to construct one of the world’s largest facial recognition systems. The project envisions a future in which police from across the country’s 29 states and seven union territories would have access to a single, centralized database.

Bài trước: Lon nhiễm bẩn

Wednesday, December 4, 2019

Lon nhiễm bẩn

trong khi việt nam tính đến phạt người nuôi lợn gây ô nhiễm phải bồi thường thiệt hại, thì chính phủ hà lan lại có kế hoạch trả cho nông dân mỗi con lợn 151 euro để họ ko nuôi lợn nữa (càng ô nhiễm càng được trợ cấp tiền, để dừng sớm cho rồi :)
-----

The Netherlands is the world’s second-biggest agricultural exporter after the U.S., and farming is the country’s biggest single contributor to nitrogen emissions. The government will pay farmers as much as 151 euros ($166) for every scrapped pig right in the south, while those in the east will get 52 euros for every right they give up.

...Starting Monday, farmers in parts of the Netherlands can apply for compensation (bồi thường, đền bù) to scrap (thải ra, loại ra, bỏ đi) their pig-holding rights (giấy phép nuôi lợn), thereby ending their business, the Ministry of Agriculture said in a statement (thông cáo báo chí) on Monday. The government will also compensate farmers for the loss of value of pig stabling.

The government says fewer pigs means less odor (mùi) nuisance and a better living environment, as well lower emissions (phát thải) of ammonia, in the European country with the most cows and pigs relative to land area (số lượng bò và lợn trên đất lớn nhất thế giới). The Netherlands is under pressure from a court ruling to cut nitrogen emissions, and sees lowering highway speed limits and cutting back on pig farming as first partial fixes.

Tuesday, November 26, 2019

Vỡ trận condotel

shared from fb Son Dang,
-----
Condotel-căn hộ du lịch đương nhiên sẽ vỡ trận. Không sớm thì muộn. Điều này các chuyên gia đã nhìn ra và lên tiếng cảnh báo từ 4-5 năm trước. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam có thể ví như con nghiện đất-bất động sản, vẫn phải “cắn thuốc” và lắc:)) Không sản xuất, không công nghiệp, không công nghệ, thì còn đường nào khác:))

60-70.000 nghìn căn condotel từ Phú Quốc đến Đà Nẵng, với lãi suất hứa hẹn 10-12%, trở thành thứ ma tuý cho nhân dân cùng sướng. Ngồi mát ăn bát vàng, vay ngân hàng lãi suất 8%, rồi chờ các group tặng lại 4% chênh lệch từ condotel. Ngoài ra, cám dỗ lớn nhất của condotel là khả năng tăng...sĩ diện cho nhiều người trẻ. Rất dễ nghe các nạn nhân ngồi quán cafe khoe mới bỏ 8-12 tỉ để sắm 2-3 căn condotel. Cầm cố tài sản để vay và mua condotel làm nhà đầu tư thứ cấp nó đem lại ảo tưởng về sự thành công:))

Khi các group nối gót Cocobay xù độ trả lãi, thì các nhà đầu tư thứ cấp cừu non sẽ rơi vào thế điêu đứng. Chưa có quyền khiếu kiện tập thể, thì chỉ còn cách kiện lẻ tẻ. Hợp đồng mua bán condotel hầu như phần cán thuộc về các group, nên cừu non chỉ có nước kêu be he và ngậm cục tức:)) Bán lại cũng không ai mua...

Nhìn vào số lỗ của Vin trong mảng khách sạn du lịch chẳng hạn, sẽ thấy được tương lai gần của condotel. Dự báo kinh tế toàn cầu 2020 bê bết, mảng du lịch xuống dốc sâu. Ở Đà Nẵng-Nha Trang-Phú Quốc, số lượng phòng hotel đã vượt xa mức cầu. Các chuỗi quốc tế như Sheraton-Intercon liên tục giảm giá nhưng vẫn xanh mặt. Thì condotel càng thêm bí:))

Chưa nói đến việc thả cửa cấp phép cho condotel đã khiến cho các thành phố biển vỡ trận về mặt quy hoạch. Những bức tường thành condotel khổng lồ dựng đứng và cực kì ngột ngạt là điều mà mọi người cảm nhận rất rõ. Hậu quả là khách cao cấp không cánh mà bay, giờ chỉ còn đường ôm khách tour Tàu rẻ tiền.))


Bài trước: Nước sạch sông Đuống đắt đỏ vì 'cõng' lãi vay nghìn tỉ?

Saturday, November 23, 2019

Cả triệu người ở California bị cắt điện

bị đòi bồi thường 30 tỷ usd cháy rừng, công ty cung cấp điện và khí đốt PG&E của Mỹ đệ đơn phá sản

vì luật sư tham lam chăng? (tập đoàn có nhiều tiền mà)
-----
“When you turn the lights out on 3 million people because you have to keep the power lines safe then there’s no reason you should be allowed to continue,” Mr. Court said.

Michael Lewis, PG&E’s senior vice president of electric operations, said the issue was safety.

“We would only take this decision for one reason — to help reduce catastrophic wildfire risk to our customers and communities,” Mr. Lewis said in a statement.

PG&E filed for bankruptcy in January after amassing (chất đống, tích luỹ, cóp nhặt (tiền của)) tens of billions of dollars in liability (trách nhiệm, nợ) related to two dozen wildfires in recent years. As speculation grew that its equipment might be the cause of the Kincade Fire, its stock price plummeted about 30 percent on Friday to $5.08, a small fraction of its 52-week high of $49.42.

I would think the market expectation is that if PG&E is allowed to continue, as is likely to be the case, that it slowly will claw its way back to profitability, given that this is a highly regulated sector with barriers to entry. So the company is afraid of losing its expected remaining profit from further liability, and thus it plays it safe with power, too safe because they don’t suffer so much from the power blackouts. Sadly, the retail customers do not have many other options...

Mạng xã hội - công cụ đắc lực cho người biểu tình

thật vậy ko?

giờ có mạng xã hội nên người dân dễ dàng xuống đường -> ảo tưởng về sức mạnh/sự tự tin, 200.000 người (xuống đường) ngày nay ko giống như 200.000 người (xuống đường) của thời kỳ trước đây
-----

...In that pre-social media era, activists (nhà hoạt động) had to spend years mobilizing through community (cộng đồng) outreach (vượt hơn, với xa hơn) and organization-building (xây dựng tổ chức). Activists met near daily to drill (luyện tập), strategize and hash out disagreements. But those tasks made the movement more durable, ensuring it was built on real-world grass-roots networks. And it meant that the movement had the internal organization both to persevere when things got hard and to translate street victories into carefully planned political outcomes.

Social media allows movements to skip many of those steps, putting more bodies on the streets more quickly, but without the underlying structure to help get results.

This sets societies up for recurring cycles (chu kỳ lặp đi lặp lại) of mass protest (biểu tình quần chúng), followed by a failure (thất bại, ko đạt được (mục tiêu)) to achieve change (đổi thay), followed by more social media-spurred protest.

At the same time, governments have learned to co-opt social media, using it to disseminate (truyền bá) propaganda (tuyên truyền), rally its sympathizers (cảm tình viên) or simply spread confusion (nghi hoặc, nhầm lẫn, hỗn loạn).

Monday, November 18, 2019

Nước sạch sông Đuống đắt đỏ vì 'cõng' lãi vay nghìn tỉ?

shared from fb Giang Le,
-----
Tôi khá ngạc nhiên khi nhiều người bức xúc việc giá nước bao gồm cả chi phí lãi suất. Giá bán (hầu hết) mọi loại hàng hóa/dịch vụ luôn bao gồm chi phí lãi suất. Trong một nền kinh tế thị trường thực ra tỷ lệ chi phí lãi suất càng cao thì người tiêu dùng càng có lợi (về mặt giá) vì như vậy tỷ lệ debt/equity cao đồng nghĩa với cost of capital thấp (cost of debt bao giờ cũng thấp hơn cost of equity).

Vấn đề là liệu chi phí lãi suất trong giá nước (20%) có quá cao như TS Nguyễn Trí Hiếu nói hay không? Với một nhà máy mà nguyên liệu đầu vào là nước sông (tôi không biết có phải trả tiền khai thác nước hay không nhưng nếu có chắc không lớn), số lượng công nhân vận hành nhà máy không nhiều thì giá thành sản phẩm phần lớn sẽ bao gồm chi phí vốn đầu tư ban đầu. Ngành cung cấp nước sạch thuộc loại public utility (tôi sẽ viết thêm về vấn đề này bên dưới) nên cần nhiều vốn (capital intensive), cho nên chi phí lãi vay cao không có gì khó hiểu. Những ngành capital intensive khác như hàng không, điện lực cũng có chi phí lãi suất cao. TS Hiếu cứ thử hỏi bên hàng không xem trong giá vé máy bay có bao nhiêu % chi phí lãi suất (bao gồm cả lease expenses).

Trong bài báo này tôi thấy chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh (không hiểu sao bài báo không gọi ông Ánh là TS như 2 chuyên gia kia dù ông Ánh cũng có bằng TS) nói đúng:

"Hà Nội mua buôn nước của Sông Đuống đắt hơn gấp đôi so với nhà máy khác. Mua bán buôn hơn 10.000 đồng/m3, cao hơn giá bán lẻ, tức là thấy lỗ vẫn làm, rất vô lý. Đây chính là điều dư luận cần xoáy sâu, Hà Nội phải trả lời những câu hỏi đó một cách minh bạch, rõ ràng để an dân".

Nhưng vấn đề không chỉ là "an dân" mà còn là khui ra một vụ tham nhũng giữa chủ đầu tư và người có trách nhiệm duyệt mức giá đó. Tất nhiên để Hà Nội trả lời những câu hỏi của chuyên gia Ánh sẽ không khách quan, cần phải có các chuyên gia điều tra/kiểm toán độc lập rà soát lại toàn bộ hồ sơ dự án. Có một số điểm của dự án cần phải xem xét kỹ, nhưng trước hết tôi quay lại vấn đề public utility.

Tôi không đồng ý với những ý kiến (như của Hoàng Tư Giang) cho rằng cấp nước đô thị là "dịch vụ công" nếu hiểu theo nghĩa "public service". Bỏ qua định nghĩa (rất đặc thù) trong kinh tế học, có thể hiểu nôm na public goods/services là những loại hàng hóa/dịch vụ do public sector/public servants cung cấp. Sở dĩ public sector (các cơ quan hành chính/sự nghiệp) đứng ra cung cấp các loại hàng hóa/dịch vụ này vì: (i) thị trường không cung cấp được (do có externality, non-excludability...), và (ii) thị trường chưa cung cấp được do các lý do lịch sử và thể chế.

Vì public sector độc quyền nên giá của các loại public goods/services phải được ấn định/kiểm soát trong hệ thống nhà nước (thay vì thị trường). Trong rất nhiều trường hợp giá public goods/services thấp hơn cost bởi các sức ép chính trị, xã hội (cứ nhìn các cuộc biểu tình ở Pháp năm ngoái hay Chile hiện tại). Có những loại hàng hóa/dịch vụ công người dân thậm chí còn không biết giá là bao nhiêu, vd an ninh/quốc phòng.

Public utility (vd điện, nước, giao thông công cộng, viễn thông đã từng là public goods/services ở nhiều nước. Lý do chính là những ngành này có tính chất "natural monopoly" rất mạnh: chi phí đầu tư lớn (capital intensive), một thành phố/khu vực chỉ cần một đường truyền/mạng phân phối, đa số người dân đều cần, liên quan đến an ninh/an toàn của một cộng đồng lớn. Nhưng với những tiến bộ công nghệ, thay đổi tư duy quản lý nhà nước, và sức ép ngân sách, public utility đã tách dần ra khỏi public sector, toàn bộ hoặc một phần.

Những ví dụ rõ nhất là ngành viễn thông, hàng không, đường sắt, một phần giao thông công cộng đô thị. Hiện tại ngành điện, nước, khí đốt (đường ống) cũng đang được tư hữu hóa một số công đoạn (bán buôn, bán lẻ, thậm chí cả đường truyền). Dù thị trường và cạnh tranh đã được đưa vào, trong hầu hết các trường hợp public utility được tư nhân hóa (mà ở VN vẫn phải nói tránh đi thành "cổ phần hóa"), can thiệp nhà nước vẫn cần vì tính chất natural monopoly của những ngành này.

Can thiệp nhà nước với các public utility có 3 hình thức. Thứ nhất, can thiệp vào giá như với bất cứ dạng monopoly nào khác. Nhà nước phải duyệt mức giá và tốc độ tăng giá hàng năm để doanh nghiệp cung cấp public monopoly không lạm dụng vai trò độc quyền của mình để bắt người dân phải trả giá quá cao (monopoly rent). Thứ hai, nhà nước (bao gồm cả chính quyền sở tại như Hà Nội trong trường hợp này) phải tham gia/đóng vai trò chính trong việc thiết kế/lên kế hoạch phát triển thị trường trong dài hạn. Việc Bình Thuận phát triển điện mặt trời ồ ạt trong khi chưa đủ đường truyền là một vị dụ cho thấy nhà nước không/chưa làm tốt chức năng này.

Thứ ba, liên quan một phần đến vai trò thứ hai, là lựa chọn/cấp phép nhà cung cấp public utility. Ở hầu hết các nước utility sector là một ngành an toàn cho nhà đầu tư bởi nhu cầu ổn định, customer base lớn, giá cả ổn định vì không/ít cạnh tranh (còn lợi nhuận có cao hay không tùy thuộc vào giá bán khi đàm phán với regulator). Bởi vậy nhiều nhà đầu tư muốn bỏ tiền vào ngành này, chí ít cũng là một dạng diversification dài hạn. Chi nên khi public utility đã được tư nhân hóa, gọi thầu công khai các dự án đầu tư vào ngành này không khó thu hút được vốn tư nhân. Vấn đề là phải công khai.

Quay lại vụ cấp nước ở Hà Nội, tôi đồng ý với chuyên gia Ánh là phải rà soát lại việc tính giá bán nước. Nhưng rộng hơn còn cần phải xem qui hoạch cấp nước dài hạn cho Hà Nội thế nào, tại sao phải xây thêm nhà máy ở sông Đuống mà không mở rộng thêm sông Đà hay ở một địa điểm nào khác. Giả sử qui hoạch lấy nước sông Đuống là cần thiết thì quá trình lựa chọn nhà đầu tư có minh bạch không?

Tôi ủng hộ việc đưa ra một bộ luật điều phối quá trình tư nhân hóa và hoạt động của các public utility. Nhưng bản chất của vấn đề không nằm ở chỗ có luật hay không, cái chính là thể chế chính trị có buộc các cơ quan nhà nước (trong trường hợp này là UBND Hà Nội) có accountability với người dân hay không. Và tất nhiên khi người dân bức xúc thì họ có (thể) ra đường biểu tình/phản đối như ở Pháp/Chile hay không hay chỉ (dám) lên FB ca thán.

Điểm cuối cùng là dù sao tôi vẫn ủng hộ tư nhân hóa các public utility như đã từng viết về thị trường điện.

PS. Mới nhận hóa đơn tiền nước, rất "căm phẫn" vì giá bán lẻ tăng từ 76 AU cent lên 80 cent/m3 cho năm tới ;)

Saturday, November 16, 2019

Trí tuệ nhân tạo có đáng sợ không?

suy nghĩ thông thường là điều đáng sợ từ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo là siêu robot,

nhưng thật ra, như hai nhà kinh tế học Acemoglu và Restrepo chỉ ra: nên sợ 'robot tầm thường' mới đúng - là những robot chỉ giỏi hơn con người một chút (ví dụ như: hệ thống điện thoại tự động, chat bot...) - và do đó thay thế con người, giảm tổng cầu về lao động, chứ không như siêu robot, tạo ra lợi thế lớn về năng suất, gia tăng của cải/sự giàu có và tạo ra nhu cầu lao động mới ở nơi nào đó...
-----

It’s often thought that what we have to fear from automation and AI is super-robots. Acemoglu and Restrepo make the useful point that what we actually should fear is mediocre (xoàng xĩnh, tầm thường) robots, robots only slightly better than humans. Think about robots replacing labor in various tasks. A super-robot replaces labor but has an immense (mênh mông, bao la, rộng lớn) productivity advantage (lợi thế về năng suất) which generates wealth and increases the demand for labor elsewhere. A mediocre-robot replaces the same labor but doesn’t have a huge productivity advantage. As a result, the mediocre robot is the true jobs killer (giết chết việc làm) because it replaces labor without greatly increasing wealth. Think about automated phone systems or chat bots.

In an empirical breakdown, Acemoglu and Restrepo suggest that what has happened in the 1990s and especially since 2000 is mediocre-robots. As a result, there has been a net decline in labor demand with no big wealth increase.

Vì sao ngày càng nhiều biểu tình?

không còn nhiều những vụ đình công của công nhân nữa,

mà sẽ ngày càng nhiều biểu tình của người tiêu dùng (do tăng giá, thuế má v.v...)

-> các chính sách thúc đẩy hiệu quả hoặc 'thắt lưng buộc bụng' sẽ càng khó triển khai...
-----
One frequent theme is people objecting to a price increase (tăng giá). In Ecuador, a focal point of the protests (biểu tình) has been a demand for restoration (khôi phục) of fuel subsidies (trợ cấp xăng dầu). Petroleum price subsidies also have been central to the Haitian protests. In Lebanon, citizens have been upset (buồn bực, phiền muộn) at a new tax levied on the use of WhatsApp, with a social media tax (thuế sử dụng mạng xã hội) also having been an issue in Uganda. In Sudan cuts to food and fuel subsidies have been a major complaint. In Chile they are protesting subway fare hikes.

The trend is that price increases may continue to become less popular. And, crucially, the internet will help people organize against such changes.

Consider that an old-style labor-oriented protest (đình công của người lao động) can be organized (tổ chức) through the workplace (nơi làm việc) or plant (nhà máy) itself, through on-the-ground (trên mặt đất) techniques (kỹ thuật) that long predate the internet (từ hồi xa xưa khi chưa có internet). There is a common locale and set of social networks in place, including perhaps a union (công đoàn). Those who suffer from a price increase, in contrast, typically do not know each other or have common social ties. Just about everyone buys gasoline, either directly or indirectly. The internet, however, makes it possible to mobilize these people into protests with prices as the common theme.

In other words: Protests of workers seem to be becoming less important, and protests of consumers are becoming more important.

You may recall that one of the original demands of the “gilets jaunes” protests in France was for free parking in Disneyland Paris. If you think that sounds a little crazy, you haven’t yet internalized the nature of the new millennium.

In the future, efficiency-enhancing or austerity-induced changes in prices may be much harder to accomplish politically. The new trend is neither central planning nor market liberal reforms, but rather frozen prices, especially when those prices are set in the political realm.

Không đơn giản tí nào

thấy giá nhà đắt quá -> đề xuất: bất kỳ ai thuê nhà cũng có quyền mua căn nhà đó ở mức giá do chính phủ quyết định (nghĩ rằng: không có gì là phức tạp cả)

-> phức tạp đấy: ai sẽ cho thuê nhà, toàn bộ thị trường cho thuê nhà tư nhân sẽ sụp đổ, thà để nhà trống còn hơn...
-----

Whenever something goes awry (hỏng, thất bại; không tốt, không như ý muốn, không như ý mong đợi), it is tempting (hấp dẫn, khêu gợi, mời chào, cám dỗ, lôi cuốn, gây thèm) to believe that government should roll up one sleeve (chuẩn bị làm việc) and plunge its arm in up to the elbow. That is not inevitably a bad idea, but one must always reflect on whether the effort will do more to harm than to help.

The Labour party has no patience for such reflection (sự suy nghĩ/ngẫm nghĩ). For example, rightly worried that houses are too expensive, they propose that anyone who rents a property would gain the right to buy it at a price set by the government. John McDonnell, the shadow chancellor, described this idea to the FT, adding: “I don’t think it’s complicated.”

He should think harder. Who would be a landlord (chủ nhà, chủ đất), if the act of letting out a house incurred the obligation to sell it? The entire private rental market would collapse (sụp đổ). Some landlords would reject tenants (người thuê nhà) to sell at a price of their own choosing; others would grit their teeth and keep the house empty. Just because the idea would hurt landlords does not mean it would help tenants.

Tuesday, November 12, 2019

Khả năng chi trả

shared from fb Lý Xuân Hải,
-----
Một thị trấn nhỏ nọ ở một quốc gia nọ có một khách sạn, một cửa hàng thịt, một gia đình nông dân, một tiệm cầm đồ, một tiệm sửa chữa máy nông nghiệp, một hiệu tạp hoá và cả một cô gái cung cấp dịch vụ vui vẻ.

Đột nhiên cả thị trấn rơi vào khủng hoảng thanh toán nên hoạt động kinh doanh cũng như cuộc sống bị trì trệ nghiêm trọng. Lý do bởi:

Ông chủ khách sạn mua trả chậm thịt bò về làm bít tết cho khách là cô gái cung cấp dịch vụ vui vẻ và bạn trai của cô ta... nhưng do cô gái chưa trả tiền phòng nên chưa thanh toán nợ nần và ông hàng thịt không cho khách sạn mua thịt nợ nữa.

Người chủ hàng thịt cũng tạm đóng cửa hàng vì không có tiền trả cho bác nông dân nuôi bò nên cửa hàng hết thịt để bày bán.

Bác nông dân cũng đang rầu vì đàn bò chết đến nơi nhưng không có tiền để trả khoản vay tại một cửa hàng cầm đồ, bị xếp loại tín dụng kém nên không vay mượn ai được để mua thức ăn cho bò và thuê người sửa chữa máy cắt cỏ.

Tiệm cầm đồ vì vậy không có tiền trả cho khoản tiền gửi của anh thợ máy đã đến hạn. Hơn nữa vì vừa có nợ xấu vừa mất khả năng chi trả nên tiệm cầm đồ không vay ngân hàng trên thành phố được, không ai dám gửi tiền, các khoản vay trước đó bị đòi ráo riết nên cũng hết khả năng cho ai vay. Tiệm cầm đồ có nguy cơ phá sản và mất giấy phép kinh doanh cầm đồ.

Chú thợ máy thì đang trốn và chịu đói vì đã mua nợ thức ăn của hiệu tạp hoá chưa trả tiền nên chủ hiệu tạp hoá suốt ngày đòi nợ không bán thức ăn cho anh ta nữa.

Chủ hiệu tạp hoá cũng đóng cửa lánh mặt vì bữa trước đi cùng 1 cô gái cung cấp dịch vụ vui vẻ vào khách sạn... nhưng chưa có tiền đưa cho cô ta trả dịch vụ phòng.

Một ngày nọ một vị khách du lịch giàu có đi ngang thị trấn. Anh ta có ý định nghỉ lại.
Anh ta muốn xem xét các phòng khách sạn và để lại tiền đặt cọc 100$.
Chủ khách sạn, không ngần ngại một phút, cầm tiền chạy ngay đến gặp chủ cửa hàng thịt để trả nợ.
Người bán thịt, với 100$ trong tay, chạy đến bác nông dân và trả món nợ mua thịt bò.
Bác nông dân mang 100$ trả cho tiệm cầm đồ.
Tiệm cầm đồ mang 100$ trả anh thợ máy.
Anh thợ máy đến cửa hàng tạp hoá và trả nợ 100$ cho các sản phẩm anh đã mua trước đây.
Chủ cửa hàng tạp hoá chạy ngay đến trả 100$ cho cô gái cung cấp dịch vụ vui vẻ, vì khủng hoảng, đã vui vẻ với anh ta trong tình trạng nợ nần.
Cô gái cung cấp dịch vụ vui vẻ ngay lập tức chạy đến gặp chủ khách sạn và trả cho anh ta khoản nợ tiền phòng là 100$ mà cô ta đã thuê cho khách hàng của mình.
Đúng lúc đó, vị khách du lịch quay trở lại quầy lễ tân khách sạn và nói rằng anh ta không tìm thấy một căn phòng phù hợp, nhận lại tiền đặt cọc và rời khỏi thị trấn.

Không ai có được bất cứ điều gì - nhưng toàn bộ thị trấn hiện đang phát đạt, khả năng chi trả ai cũng tốt, ai cũng sẵn sàng cho đối tác nợ trở lại, tiệm cầm đồ lại huy động vốn từ thành phố về cho vay, cửa hàng cửa hiệu lại mở, khách sạn lại lên đèn, mọi người ai cũng vui vẻ và lạc quan về tương lai.

Chỉ cần một chút tiền mồi và vòng quay của tiền lại quay tít. Nền kinh tế thị trấn lại sống trở lại.

Các bài học:
1. Nợ doanh nghiệp cũng cần được kiểm soát. Quy mô của nợ doanh nghiệp không hề nhỏ và có thể tác động trực tiếp lên dòng quay vốn và thanh khoản của nền kinh tế. Có những lúc nợ doanh nghiệp, nợ vay ngoài ngân hàng gấp nhiều lần dư nợ ngân hàng mà không ai kiểm soát.

2. Khái niệm nợ xấu - nợ tốt, khả năng chi trả của ngân hàng rất tương đối trong nhiều trường hợp. Rất nhiều trường hợp ngân hàng là nạn nhân, không phải tội đồ tạo ta việc mất thanh khoản nền kinh tế.

3. Thanh khoản thị trường hay khả năng chi trả là yếu tố sống còn của nền kinh tế. Sự bế tắc dòng vốn sẽ làm kinh tế trì trệ. Trong bối cảnh ấy chính sách tiền tệ và các dòng vốn ngắn hạn, xử lý mua bán nợ... về bản chất là dùng một dòng tiền nhỏ, ngắn hạn để giải quyết các vấn đề lớn, dài hạn. Trong ví dụ trên vị khách du lịch giàu có đóng vai người cho vay cuối cùng thực hiện công việc ấy.

Wednesday, October 30, 2019

Dự án nhà ở xã hội đội vốn 40%

mỹ cũng thế, để nhà nước làm thì chỉ thế thôi...
-----
USA Today: Nearly three years after city voters approved a $1.2 billion construction program over 10 years, the city has yet to see the first building completed. Average per-apartment costs have zoomed more than $100,000 past prior predictions, the study by city Controller Ron Galperin finds.

…At an average cost of $531,373 per unit – with many apartments costing more than $600,000 each – building costs of many of the homeless units will exceed (vượt quá) the median sale price (giá bán thị trường một căn hộ trung vị) of a market-rate condominium.

…Prices rose (tăng) dramatically (đột ngột) because of higher-than-expected costs for items other than actual construction, such as consultants (tư vấn) and financing (lãi vay tài chính/ngân hàng). Those items comprise up to 40% of the cost of a project, the study found. By contrast, land acquisition costs averaged only 11% of the total costs.

Based on a recent audit of the program.

-> It’s absurd for a government to be building houses, a task for which it is manifestly unsuited. What the government should be doing is easing restrictions (nới lỏng luật lệ/quy định/hạn chế) on building (xây dựng nhà ở dân dụng), improving (cải thiện) public transportation (giao thông công cộng) which increases the supply of effective housing and dealing with any shortfalls by using housing vouchers (tem phiếu).

Việt Nam đối mặt với thiếu điện nghiêm trọng từ năm 2020

liệu có "thụt lùi" như lebanon, nơi giang hồ giành và kiểm soát miếng bánh 2 tỷ usd mỗi năm,

hối lộ quan chức lebanon để đảm bảo rằng công ty điện lực quốc gia hoạt động yếu kém và... liên tục mất điện
-----
blackouts are costing the Lebanese economy about $3.9 billion per year, or roughly 8.2 percent of the country’s GDP.

I asked why the Lebanese government can’t put the private generators out of business. He replied that EdL [the state-owned electricity company] is losing some $1.3 billion per year (lỗ 1,3 tỷ mỗi năm), while the private generators are taking in as much as $2 billion per annum. “It’s a huge business,” he said, “and it’s very dangerous to interfere with this business.”

…Nakhle, an official in the Energy Ministry, was admitting that the generator mafia bribes (hối lộ) Lebanese politicians (quan chức) to make sure that EdL stays weak and blackouts (mất điện (tạm thời) toàn thành phố) persist (tiếp tục tồn tại; vẫn còn; cứ dai dẳng)

Maya Ammar, a model and architect in Beirut…told me, “The one reason is in Lebanon that we do not have electricity is corruption (tham nhũng), plain and simple.”…The electric grid, she continued, is “a microcosmic example of how this country runs.”

từ sách "A Question of Power: Electricity and the Wealth of Nations" by Robert Bryce.
nhà "quý tộc" việt nam thế kỷ 21. Photo by Mat Reding on Unsplash.