Journey in Life: economics
Showing posts with label economics. Show all posts
Showing posts with label economics. Show all posts

Saturday, November 16, 2019

Trí tuệ nhân tạo có đáng sợ không?

suy nghĩ thông thường là điều đáng sợ từ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo là siêu robot,

nhưng thật ra, như hai nhà kinh tế học Acemoglu và Restrepo chỉ ra: nên sợ 'robot tầm thường' mới đúng - là những robot chỉ giỏi hơn con người một chút (ví dụ như: hệ thống điện thoại tự động, chat bot...) - và do đó thay thế con người, giảm tổng cầu về lao động, chứ không như siêu robot, tạo ra lợi thế lớn về năng suất, gia tăng của cải/sự giàu có và tạo ra nhu cầu lao động mới ở nơi nào đó...
-----

It’s often thought that what we have to fear from automation and AI is super-robots. Acemoglu and Restrepo make the useful point that what we actually should fear is mediocre (xoàng xĩnh, tầm thường) robots, robots only slightly better than humans. Think about robots replacing labor in various tasks. A super-robot replaces labor but has an immense (mênh mông, bao la, rộng lớn) productivity advantage (lợi thế về năng suất) which generates wealth and increases the demand for labor elsewhere. A mediocre-robot replaces the same labor but doesn’t have a huge productivity advantage. As a result, the mediocre robot is the true jobs killer (giết chết việc làm) because it replaces labor without greatly increasing wealth. Think about automated phone systems or chat bots.

In an empirical breakdown, Acemoglu and Restrepo suggest that what has happened in the 1990s and especially since 2000 is mediocre-robots. As a result, there has been a net decline in labor demand with no big wealth increase.

Vì sao ngày càng nhiều biểu tình?

không còn nhiều những vụ đình công của công nhân nữa,

mà sẽ ngày càng nhiều biểu tình của người tiêu dùng (do tăng giá, thuế má v.v...)

-> các chính sách thúc đẩy hiệu quả hoặc 'thắt lưng buộc bụng' sẽ càng khó triển khai...
-----
One frequent theme is people objecting to a price increase (tăng giá). In Ecuador, a focal point of the protests (biểu tình) has been a demand for restoration (khôi phục) of fuel subsidies (trợ cấp xăng dầu). Petroleum price subsidies also have been central to the Haitian protests. In Lebanon, citizens have been upset (buồn bực, phiền muộn) at a new tax levied on the use of WhatsApp, with a social media tax (thuế sử dụng mạng xã hội) also having been an issue in Uganda. In Sudan cuts to food and fuel subsidies have been a major complaint. In Chile they are protesting subway fare hikes.

The trend is that price increases may continue to become less popular. And, crucially, the internet will help people organize against such changes.

Consider that an old-style labor-oriented protest (đình công của người lao động) can be organized (tổ chức) through the workplace (nơi làm việc) or plant (nhà máy) itself, through on-the-ground (trên mặt đất) techniques (kỹ thuật) that long predate the internet (từ hồi xa xưa khi chưa có internet). There is a common locale and set of social networks in place, including perhaps a union (công đoàn). Those who suffer from a price increase, in contrast, typically do not know each other or have common social ties. Just about everyone buys gasoline, either directly or indirectly. The internet, however, makes it possible to mobilize these people into protests with prices as the common theme.

In other words: Protests of workers seem to be becoming less important, and protests of consumers are becoming more important.

You may recall that one of the original demands of the “gilets jaunes” protests in France was for free parking in Disneyland Paris. If you think that sounds a little crazy, you haven’t yet internalized the nature of the new millennium.

In the future, efficiency-enhancing or austerity-induced changes in prices may be much harder to accomplish politically. The new trend is neither central planning nor market liberal reforms, but rather frozen prices, especially when those prices are set in the political realm.

Không đơn giản tí nào

thấy giá nhà đắt quá -> đề xuất: bất kỳ ai thuê nhà cũng có quyền mua căn nhà đó ở mức giá do chính phủ quyết định (nghĩ rằng: không có gì là phức tạp cả)

-> phức tạp đấy: ai sẽ cho thuê nhà, toàn bộ thị trường cho thuê nhà tư nhân sẽ sụp đổ, thà để nhà trống còn hơn...
-----

Whenever something goes awry (hỏng, thất bại; không tốt, không như ý muốn, không như ý mong đợi), it is tempting (hấp dẫn, khêu gợi, mời chào, cám dỗ, lôi cuốn, gây thèm) to believe that government should roll up one sleeve (chuẩn bị làm việc) and plunge its arm in up to the elbow. That is not inevitably a bad idea, but one must always reflect on whether the effort will do more to harm than to help.

The Labour party has no patience for such reflection (sự suy nghĩ/ngẫm nghĩ). For example, rightly worried that houses are too expensive, they propose that anyone who rents a property would gain the right to buy it at a price set by the government. John McDonnell, the shadow chancellor, described this idea to the FT, adding: “I don’t think it’s complicated.”

He should think harder. Who would be a landlord (chủ nhà, chủ đất), if the act of letting out a house incurred the obligation to sell it? The entire private rental market would collapse (sụp đổ). Some landlords would reject tenants (người thuê nhà) to sell at a price of their own choosing; others would grit their teeth and keep the house empty. Just because the idea would hurt landlords does not mean it would help tenants.

Tuesday, November 12, 2019

Khả năng chi trả

shared from fb Lý Xuân Hải,
-----
Một thị trấn nhỏ nọ ở một quốc gia nọ có một khách sạn, một cửa hàng thịt, một gia đình nông dân, một tiệm cầm đồ, một tiệm sửa chữa máy nông nghiệp, một hiệu tạp hoá và cả một cô gái cung cấp dịch vụ vui vẻ.

Đột nhiên cả thị trấn rơi vào khủng hoảng thanh toán nên hoạt động kinh doanh cũng như cuộc sống bị trì trệ nghiêm trọng. Lý do bởi:

Ông chủ khách sạn mua trả chậm thịt bò về làm bít tết cho khách là cô gái cung cấp dịch vụ vui vẻ và bạn trai của cô ta... nhưng do cô gái chưa trả tiền phòng nên chưa thanh toán nợ nần và ông hàng thịt không cho khách sạn mua thịt nợ nữa.

Người chủ hàng thịt cũng tạm đóng cửa hàng vì không có tiền trả cho bác nông dân nuôi bò nên cửa hàng hết thịt để bày bán.

Bác nông dân cũng đang rầu vì đàn bò chết đến nơi nhưng không có tiền để trả khoản vay tại một cửa hàng cầm đồ, bị xếp loại tín dụng kém nên không vay mượn ai được để mua thức ăn cho bò và thuê người sửa chữa máy cắt cỏ.

Tiệm cầm đồ vì vậy không có tiền trả cho khoản tiền gửi của anh thợ máy đã đến hạn. Hơn nữa vì vừa có nợ xấu vừa mất khả năng chi trả nên tiệm cầm đồ không vay ngân hàng trên thành phố được, không ai dám gửi tiền, các khoản vay trước đó bị đòi ráo riết nên cũng hết khả năng cho ai vay. Tiệm cầm đồ có nguy cơ phá sản và mất giấy phép kinh doanh cầm đồ.

Chú thợ máy thì đang trốn và chịu đói vì đã mua nợ thức ăn của hiệu tạp hoá chưa trả tiền nên chủ hiệu tạp hoá suốt ngày đòi nợ không bán thức ăn cho anh ta nữa.

Chủ hiệu tạp hoá cũng đóng cửa lánh mặt vì bữa trước đi cùng 1 cô gái cung cấp dịch vụ vui vẻ vào khách sạn... nhưng chưa có tiền đưa cho cô ta trả dịch vụ phòng.

Một ngày nọ một vị khách du lịch giàu có đi ngang thị trấn. Anh ta có ý định nghỉ lại.
Anh ta muốn xem xét các phòng khách sạn và để lại tiền đặt cọc 100$.
Chủ khách sạn, không ngần ngại một phút, cầm tiền chạy ngay đến gặp chủ cửa hàng thịt để trả nợ.
Người bán thịt, với 100$ trong tay, chạy đến bác nông dân và trả món nợ mua thịt bò.
Bác nông dân mang 100$ trả cho tiệm cầm đồ.
Tiệm cầm đồ mang 100$ trả anh thợ máy.
Anh thợ máy đến cửa hàng tạp hoá và trả nợ 100$ cho các sản phẩm anh đã mua trước đây.
Chủ cửa hàng tạp hoá chạy ngay đến trả 100$ cho cô gái cung cấp dịch vụ vui vẻ, vì khủng hoảng, đã vui vẻ với anh ta trong tình trạng nợ nần.
Cô gái cung cấp dịch vụ vui vẻ ngay lập tức chạy đến gặp chủ khách sạn và trả cho anh ta khoản nợ tiền phòng là 100$ mà cô ta đã thuê cho khách hàng của mình.
Đúng lúc đó, vị khách du lịch quay trở lại quầy lễ tân khách sạn và nói rằng anh ta không tìm thấy một căn phòng phù hợp, nhận lại tiền đặt cọc và rời khỏi thị trấn.

Không ai có được bất cứ điều gì - nhưng toàn bộ thị trấn hiện đang phát đạt, khả năng chi trả ai cũng tốt, ai cũng sẵn sàng cho đối tác nợ trở lại, tiệm cầm đồ lại huy động vốn từ thành phố về cho vay, cửa hàng cửa hiệu lại mở, khách sạn lại lên đèn, mọi người ai cũng vui vẻ và lạc quan về tương lai.

Chỉ cần một chút tiền mồi và vòng quay của tiền lại quay tít. Nền kinh tế thị trấn lại sống trở lại.

Các bài học:
1. Nợ doanh nghiệp cũng cần được kiểm soát. Quy mô của nợ doanh nghiệp không hề nhỏ và có thể tác động trực tiếp lên dòng quay vốn và thanh khoản của nền kinh tế. Có những lúc nợ doanh nghiệp, nợ vay ngoài ngân hàng gấp nhiều lần dư nợ ngân hàng mà không ai kiểm soát.

2. Khái niệm nợ xấu - nợ tốt, khả năng chi trả của ngân hàng rất tương đối trong nhiều trường hợp. Rất nhiều trường hợp ngân hàng là nạn nhân, không phải tội đồ tạo ta việc mất thanh khoản nền kinh tế.

3. Thanh khoản thị trường hay khả năng chi trả là yếu tố sống còn của nền kinh tế. Sự bế tắc dòng vốn sẽ làm kinh tế trì trệ. Trong bối cảnh ấy chính sách tiền tệ và các dòng vốn ngắn hạn, xử lý mua bán nợ... về bản chất là dùng một dòng tiền nhỏ, ngắn hạn để giải quyết các vấn đề lớn, dài hạn. Trong ví dụ trên vị khách du lịch giàu có đóng vai người cho vay cuối cùng thực hiện công việc ấy.

Wednesday, October 30, 2019

Dự án nhà ở xã hội đội vốn 40%

mỹ cũng thế, để nhà nước làm thì chỉ thế thôi...
-----
USA Today: Nearly three years after city voters approved a $1.2 billion construction program over 10 years, the city has yet to see the first building completed. Average per-apartment costs have zoomed more than $100,000 past prior predictions, the study by city Controller Ron Galperin finds.

…At an average cost of $531,373 per unit – with many apartments costing more than $600,000 each – building costs of many of the homeless units will exceed (vượt quá) the median sale price (giá bán thị trường một căn hộ trung vị) of a market-rate condominium.

…Prices rose (tăng) dramatically (đột ngột) because of higher-than-expected costs for items other than actual construction, such as consultants (tư vấn) and financing (lãi vay tài chính/ngân hàng). Those items comprise up to 40% of the cost of a project, the study found. By contrast, land acquisition costs averaged only 11% of the total costs.

Based on a recent audit of the program.

-> It’s absurd for a government to be building houses, a task for which it is manifestly unsuited. What the government should be doing is easing restrictions (nới lỏng luật lệ/quy định/hạn chế) on building (xây dựng nhà ở dân dụng), improving (cải thiện) public transportation (giao thông công cộng) which increases the supply of effective housing and dealing with any shortfalls by using housing vouchers (tem phiếu).

Việt Nam đối mặt với thiếu điện nghiêm trọng từ năm 2020

liệu có "thụt lùi" như lebanon, nơi giang hồ giành và kiểm soát miếng bánh 2 tỷ usd mỗi năm,

hối lộ quan chức lebanon để đảm bảo rằng công ty điện lực quốc gia hoạt động yếu kém và... liên tục mất điện
-----
blackouts are costing the Lebanese economy about $3.9 billion per year, or roughly 8.2 percent of the country’s GDP.

I asked why the Lebanese government can’t put the private generators out of business. He replied that EdL [the state-owned electricity company] is losing some $1.3 billion per year (lỗ 1,3 tỷ mỗi năm), while the private generators are taking in as much as $2 billion per annum. “It’s a huge business,” he said, “and it’s very dangerous to interfere with this business.”

…Nakhle, an official in the Energy Ministry, was admitting that the generator mafia bribes (hối lộ) Lebanese politicians (quan chức) to make sure that EdL stays weak and blackouts (mất điện (tạm thời) toàn thành phố) persist (tiếp tục tồn tại; vẫn còn; cứ dai dẳng)

Maya Ammar, a model and architect in Beirut…told me, “The one reason is in Lebanon that we do not have electricity is corruption (tham nhũng), plain and simple.”…The electric grid, she continued, is “a microcosmic example of how this country runs.”

từ sách "A Question of Power: Electricity and the Wealth of Nations" by Robert Bryce.
nhà "quý tộc" việt nam thế kỷ 21. Photo by Mat Reding on Unsplash.

Saturday, October 19, 2019

Uber thật ra cũng là lừa đảo đa cấp Ponzi scheme

99% sẽ phá sản trước năm 2027 vì ko có cửa cạnh tranh với xe tự hành, và hiện xuất hiện nhiều cạnh tranh rồi do rào cản gia nhập thị trường thấp,

tất cả những gì họ làm là cố gắng tăng thị giá (cổ phiếu), và người sau (nhà đầu tư) rót tiền vào hy vọng giá lên tiếp...
-----

"It's constantly losing money, and its capital-raising strategy is a ponzi scheme," the cofounder, Hamish Douglass, said at the annual Stockbrokers and Financial Advisers Conference in Sydney.

Douglass says Uber is under threat from the arrival of autonomous cars, in which he doesn't think ride-sharing business has an advantage.

And the competition is coming because the barriers to entry to ride-sharing are low.

"When I look at Uber … I think of it as one of the most stupid investments in history, The probability of this business going bankrupt in a decade is 99%. All they do is keep increasing their private-market valuation, and someone always says, I'll put some money up, because next time they raise, it'll be at a higher price," Douglass says.

Saturday, October 12, 2019

"Thịt chay"

từ rau củ có mùi vị, dưỡng chất, "rỉ máu" y như thịt thật...

ý tưởng đã hình thành, và được trao bản quyền, từ năm 1901 cho Kellogg rồi
-----
...Nearly two-fifths of Americans who described themselves as carnivores (động vật ăn thịt, cây ăn sâu bọ) told a survey by Mintel in February that they wanted to add more plant-based foods to their diet. Some call themselves “flexitarians”: not wholly vegetarian or vegan, but anxious to reduce their meat consumption nonetheless. Young people are the most fervently flexible.

...Beyond Meat and Impossible Foods, another plant-based food company in Silicon Valley, have entered the market. Impossible has raised $700m in private funds; its backers include Bill Gates. Since Beyond Meat went public in May its valuation has more than quintupled, to $8.4bn.

...(Children of the Quorn) Meatless meat has been around for a while. In 1901 John Harvey Kellogg, the inventor of the cornflake (which he hoped would make people less keen on sex), was granted a patent for protose, a “vegetable substitute for meat” made of wheat gluten and peanuts. For a long time, however, the market for pseudomeat was small, and the incentive for making it tasty was accordingly modest. This is perhaps why so many early veggie burgers had the taste and the texture of heavily salted woodchips.


Bài trước: Cú lừa mang tên 'nền kinh tế chia sẻ'

Thursday, October 3, 2019

Cú lừa mang tên 'nền kinh tế chia sẻ'

nói là chia sẻ, thực chất là cho thuê mà thôi :D

-> Ôi những kẻ lừa đảo dối trá đều xuất thân từ extreme leftish socialist, hat tip to anh Nguyễn Bá Quỳnh,
-----
More than 10 years since the dawn of the sharing economy, these promises sound painfully out of date. Why rent a DVD from your neighbor, or own a DVD at all, when you can stream your movies online? Why use Airbnb for a single room in your home when you can sublease an entire apartment and run a lucrative off-the-books hotel operation? Uber, Lyft, and Airbnb — startups that banked on the promises of the sharing economy — are now worth tens of billions, with plans go public. (Lyft filed for an IPO on March 1.) These companies and the pundits who hyped them have all but abandoned the sharing argument that gave this industry life and allowed it to skirt government regulations for years. Sharing was supposed to transform our world for the better. Instead, the only thing we’re sharing is the mess it left behind.

...Over the first half of the 2010s, the so-called sharing economy evolved into a powerful new multibillion-dollar economic model. At about the same time, the definition of “sharing” began to shift. Sharing still referred to the peer-to-peer model of leveraging underutilized assets — sharing our goods with each other — but it was also increasingly applied to more traditional centralized rental models.

...Alongside making it easy to rent out spare rooms, vacation rental platforms encouraged speculative real estate investment. Whole homes and apartment buildings are taken off the rental market to act as hotels, further squeezing housing markets in already unaffordable cities.

Bài trước: Chậm mà chắc?

Thursday, September 19, 2019

Chậm mà chắc?

phải vậy không ta?

nhnn việt nam chọn cách tiếp cận dè chừng đối với cho vay ngang hàng (p2p lending), nhưng như vậy có thể dẫn đến tình trạng tồi tệ đã diễn ra ở indonesia: các con nợ tự tử vì lãi suất cắt cổ, và ở trung quốc: hàng nghìn nhà đầu tư mất tiền tiết kiệm và xuống đường biểu tình vì sụp đổ các nền tảng cho vay không được điều tiết.
-----

Vietnam’s government is exposing (phơi bày, phơi nhiễm) vulnerable (dễ bị tổn thương) borrowers (người đi vay, con nợ) to the predations (sự ăn thịt, lối sống ăn thịt) of unscrupulous (không tận tâm, cẩu thả; vô nguyên tằc, vô liêm sĩ; không có nguyên tắc đạo đức; không cực kỳ cẩn thận, không cực kỳ kỹ lưỡng; không tỉ mỉ; không chú ý đến chi tiết; không thận trọng; không cẩn thận để không làm sai; không tuyệt đối chân thật) peer-to-peer (P2P) lenders in choosing to go slow on policing this rapidly growing industry.

The State Bank of Vietnam (SBV), the central bank, has been given until 2021 to study the sector before rolling out a framework of pilot (thử nghiệm) regulations.

The government may wish to balance financial system regulation with encouraging new, technology-driven industries such as P2P lending, which matches lenders with borrowers through online platforms. But this go-slow approach results in a regulatory vacuum (khoảng trống luật pháp) that threatens (đe dọa) a repeat (sự lặp lại) of problems seen in Indonesia, where some borrowers have been pushed to suicide (tự tử) by sky-high interest rates, and in China, where thousands of investors (nhà đầu tư) have lost their savings (tiền tiết kiệm) and taken to the streets in protest (biểu tình) following the collapse (sụp đổ, thất bại) of hundreds of under-regulated platforms (nền tảng).

...Asia-focused consulting firm Solidiance estimated that the country’s fintech market overall will process $7.8bn in transactions by next year, up from $4.4bn in 2017.

Saturday, September 14, 2019

Cơn khát trái phiếu doanh nghiệp: “Bom” nổ chậm?

shared from fb Giang Le,
-----
Mấy tháng gần đây đọc những tin về thị trường trái phiếu doanh nghiệp VN bùng nổ tôi rất ngạc nhiên về mức độ "cởi mở" của các cơ quan quản lý nhà nước. Nhìn chung trong lĩnh vực tài chính VN khá thận trọng, thậm chí quá "hà khắc" trong việc quản lý các hoạt động và sản phẩm tài chính. Nhưng dường như các nhà quản lý đã bật đèn xanh cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển tự do dù các khung khổ pháp lý và quản lý còn rất lỏng lẻo, thậm chí chỉ đang trong giai đoạn dự thảo (xem bài báo).

Tại sao lại có sự "cởi mở" này? Phải chăng vì nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng cao nhưng hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán không đáp ứng được nên các nhà quản lý "làm ngơ" để các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp BĐS, có cửa huy động vốn? Hay vì các ngân hàng và các công ty chứng khoán "khám phá" ra một kênh kiếm tiền mới (bảo lãnh/tư vấn phát hành) đã nhanh nhạy nhảy vào trước khi các cơ quan quản lý kịp trở tay? Tôi không có câu trả lời nhưng tôi đồng ý với ông Vụ phó Nguyễn Hoàng Dương là các nhà đầu tư các nhân phải hết sức thận trọng.

Một điểm nữa tôi cũng ngạc nhiên là đến giờ này chưa thấy SSC lên tiếng. Việc phát hành trái phiếu ra công chúng như hiện nay hoàn toàn giống IPO cổ phiếu. Nên nhớ "chứng khoán" bao gồm cả cổ phiếu lẫn trái phiếu, do đó SSC phải là đầu mối quản lý việc doanh nghiệp phát hành trái phiếu. Nhất là SSC phải có trách nhiệm bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ lẻ không có nhiều kiến thức và đang bị các ngân hàng/công ty chứng khoán "dụ khị".

Ở Úc ASIC (tương đương như SSC của VN) quản lý rất chặt việc phát hành trái phiếu ra công chúng. Các công ty phải nộp hồ sơ (prospectus, financial disclosures) cho ASIC và tuân thủ nhiều qui định của ASIC (dựa trên Corporate/Consumer Laws) bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Vì những qui định rất chặt chẽ và nặng nề như vậy nên phần lớn trái phiếu doanh nghiệp ở Úc được phát hành dưới dạng private placement cho các nhà đầu tư tổ chức hoặc chuyên nghiệp (accredited investors) với các khoản đầu tư tối thiểu là AU$500,000. Không chỉ Úc, Mỹ và đa số các nước phát triển khác cũng vậy, trái phiếu doanh nghiệp chủ yếu do các nhà đầu tư tổ chức nắm giữ, chỉ một tỷ lệ rất nhỏ được mua bán tự do trên thị trường chứng khoán (exchange trade bonds).

Một điểm khác biệt nữa là đa số các loại trái phiếu doanh nghiệp phát hành ở Úc và các nước phát triển khác có đánh giá tín nhiệm (credit rating). Chỉ có chưa đầy 1% số trái phiếu được phát hành non-rated mà chủ yếu cho private placement. Mặc dù lĩnh vực credit rating (cho corporate bond) có nhiều bất cập (mà tôi đã viết vài lần), đây là một biện pháp quan trọng để bảo vệ các nhà đầu tư, nhưng ở một khía cạnh rất khác so với nhiều người nhầm tưởng.

Vì sao người dân Hong Kong biểu tình?

giá nhà quá đắt, một người dân trung bình làm quần quật cả năm chỉ mua được 1,11 m2 (chỉ bằng 1/8 new york hoặc tokyo),

bất bình đẳng, không có cơ hội nghề nghiệp; việc lương cao thuộc về chuyên gia nước ngoài, dân trung quốc đại lục...

nền kinh tế trong tay 3-4 gia tộc ông trùm bất động sản, cảng biển..., những người nhận được các hợp đồng béo bở từ bắc kinh (đổi lấy sự thần phục của họ)
-----
...By preserving Hong Kong’s economic system in aspic (không thay đổi trong một thời gian dài), China has helped to generate extreme inequality (cực kỳ bất bình đẳng), due largely to the extraordinary expense of housing (chi phí nhà ở). A coterie (nhóm, phái) of tycoons (ông trùm) with a lock on the property market continue to enrich themselves at the expense of others. Many young protesters say they have lost hope (mất hy vọng) of a prosperous future (tương lai tươi sáng). Being able to afford a decent home appears inconceivable (không thể hiểu được, không thể nhận thức được; không thể tưởng tượng được; kỳ lạ, phi thường). The latest “nano” flats are not much bigger than a large car.

Thanks to light regulation, independent courts and a torrent of money from China, Hong Kong has long been a global financial centre. But many of the resulting jobs are filled by outsiders on high salaries, who help push up property prices. Mainlanders seeking boltholes do too. And then there is the contorted market for housing. The government artificially limits the supply of land for development, auctioning off just a little bit each year. Most of it is bought by wealthy developers, who by now are sitting on land banks of their own. They have little incentive to flood the market with new homes, let alone build lots of affordable housing. The average Hong Kong salary is less than HK$17,000 ($2,170) a month, hardly more than the average rent. The median annual salary buys just 12 square feet, an eighth as much as in New York or Tokyo.

The patriarchs of the main business families—for instance, Peter Woo of Wheelock, Lee Shau-kee of Henderson Land and the Kwok brothers of Sun Hung Kai—were already at the top when Britain ruled Hong Kong. In addition to property, such families dominate industries with limited competition such as ports, utilities and supermarkets. Before the handover, China assiduously (siêng năng, cần mẫn) cultivated (nuôi dưỡng (tình cảm... đối với ai); trau dồi, tu dưỡng (trí tuệ...)) the oligarchs (đầu sỏ) with a view to securing their loyalty—not least by offering them juicy land deals on the mainland. They duly fell into line (làm theo ai/cái gì).

Friday, September 13, 2019

Vì sao bữa trưa ở Mỹ đắt hơn ở Anh?

lấy ví dụ món bánh mỳ kẹp tôm (lobster roll) ở Anh chỉ 7,31 usd, ở Mỹ là 9,99 usd.

vì là thị trường địa phương, suất lớn hơn, văn hóa tip bồi bàn, người anh ăn tiết kiệm hơn, cạnh tranh ở đó lớn hơn,

cách ra giá bán ở thực đơn là (đơn giản lắm) lấy giá thành (nguyên liệu,...) nhân 3, rồi tự hỏi xem khách hàng có thể trả được bao nhiêu đối với món này, rồi là món này do bạn làm, rồi xem xét xem đối thủ ra giá bao nhiêu nữa...
-----
Menu pricing starts with a simple rule, says John Buchanan of the consulting arm of Lettuce Entertain You Enterprises, a restaurant group: take the cost of ingredients and multiply by three. Then ask yourself how much customers would expect to pay for a dish of this type, and how much they would expect to pay for it from you. A Pret lobster roll and one from a fancy seafood restaurant are quite different propositions. Lastly, check what the competition charges. “Only a small part of this decision is what I would call scientific,” says Mr Buchanan. “A lot has to do with a subjective judgment of what the market will bear.”

The lunch market is local. New Yorkers do not care about prices in London. And they—alongside Bostonians and Washingtonians—are used to their local high prices, for reasons that include bigger portions (though not at Pret) and tipping habits. Londoners are keener on sandwich lunches, which means stiffer competition in that part of the market...

Sunday, September 1, 2019

Người Mỹ nhờ Trump đòi nợ trái phiếu từ thời nhà Thanh

shared from fb Giang Le,
-----
Nếu chăm chỉ đọc báo chí tài chính quốc tế thỉnh thoảng bạn có thể gặp một tin đại loại là một số nhà đầu tư bị lừa mua giấy tờ có giá của các hoàng gia/chính phủ phát hành từ hàng trăm năm trước. Tất nhiên những thứ giấy tờ đó nếu không phải là giả thì cũng chẳng còn giá trị và các "nhà đầu tư" thường bị mất một số tiền khá lớn. Năm ngoái SEC đã truy tố một mục sư vì đã "bán" một số trái phiếu của chính phủ THDQ phát hành năm 1911 đổi lấy 3.4 triệu USD từ các nhà đầu tư đa số là các cụ hưu trí.

Cũng trong năm ngoái Jonna Bianco, đại diện cho các "nhà đầu tư" Mỹ nắm giữ trái phiếu cổ của THDQ, không biết bằng cách nào "diện kiến" được Trump ở sân golf của ông ta và "hiến kế" là chính phủ Mỹ dùng số trái phiếu cổ đó (theo bà ta trị giá hơn 1000 tỷ USD) đổi lấy số trái phiếu của Mỹ mà TQ đang nắm giữ. Tất nhiên Trump phải "thưởng" cho Bianco và các trái chủ khác bởi họ đã bỏ công giữ số trái phiếu đó cả trăm năm trời.

Chắc thời điểm đó Trump cười khẩy đừng hòng xỏ mũi ta, không có chuyện ta bỏ ra dù chỉ $1 để đổi lấy mới giấy lộn đó. Dù gì SEC vừa tuyên bố những thứ đó cùng lắm chỉ có giá trị sưu tập (được chào bán $250/tờ trên Ebay), hơn nữa từ năm 1979 một tòa án ở Alabama đã bác bỏ vụ kiện đòi TQ trả nợ cho các trái phiếu của THDQ. Nhưng có lẽ sau một năm đang "bí nước" nên Trump chỉ đạo Mnuchin nghiên cứu lại vấn đề này. Có điều theo lời một giáo sư luật ở Duke:

“I think everyone who works for Trump at the Treasury Department thinks this is loony”

Nghĩa là chắc Mnuchin sẽ rỉ tai Trump: thôi ông à, ngay cả nếu số trái phiếu đó còn giá trị thì chính phủ Mỹ không thể dính dáng gì vào đây. Tốt nhất là gà cho tụi "đầu gấu chuyên đòi nợ chính phủ" như Elliott Advisors làm việc với Bianco, rồi tụi nó thấy kiếm chác được gì thì đi mà kiện. Nhưng ông cũng đừng trông chờ vào đó mà mong có ngày bắt được vài cái tàu của TQ, tụi đòi nợ chuyên nghiệp đó mà đánh hơi thấy mùi tiền thì tụi nó đã nhảy vào từ đời nào rồi chẳng đợi ông nhắc.

Wednesday, August 28, 2019

Bảo hộ nông nghiệp ở Úc trong bối cảnh toàn cầu hóa

nông dân nhập lậu tinh trùng lợn đan mạch (ngụy trang trong bánh xà phòng) -> bị bỏ tù luôn
-----
Two pig farmers in Western Australia will be jailed after being convicted (kết án tù, tuyên bố có tội) of illegally importing Danish pig semen concealed (giấu) in shampoo bottles.

...The Perth district court was told boar semen had been illegally imported from Denmark multiple times between May 2009 and March 2017. The semen was used in GD Pork’s artificial breeding program and several breeding sows were direct offspring of Danish boars.

Federal agriculture minister Bridget McKenzie said breaches of biosecurity laws would not be tolerated.

“This case shows a disturbing (làm náo động, quấy rầy, làm nhiễu loạn) disregard (không đếm xỉa đến, bấn chấp, coi thường) for the laws that protect the livelihoods of Australia’s 2,700 pork producers, and the quality of the pork that millions of Australians enjoy each year,” McKenzie said.

“GD Pork imported the semen illegally in an attempt to get an unfair advantage over its competitors, through new genetics.”

Western Australian Farmers Federation spokeswoman Jessica Wallace said the offences was “a selfish act” that could cripple (làm hỏng, phá hỏng, làm lụn bại; làm tê liệt) an entire industry.

Monday, August 19, 2019

Tín dụng vi mô: Hiểm họa khôn lường đang đe dọa nền kinh tế Sri Lanka

lãi suất tính ra có thể lên tới 220%/năm, thì thôi gọi chính xác là 'cho vay nặng lãi' cho rồi...
-----
Borrowers know nothing about interest rates—effective rates may be as high as 220%—only the capital and weekly instalment (phần trả lãi hằng tuần). The finance ministry reckons big microfinance institutions have lent out 282bn rupees ($1.6bn), but it has no data for the many smaller lenders that operate. No rules exist to prevent over-indebtedness (nợ nần quá mức/ngập mặt). Most borrowers took out their first loan to consume rather than invest, and most new loans are taken out to service old ones. Giving poor people small loans without collateral (vật thế chấp), albeit at higher interest rates than on conventional loans (các khoản vay truyền thống), was meant to spur entrepreneurship (tinh thần khởi nghiệp) and allow people to bootstrap (tự mình cố gắng vươn lên, vươn lên bằng nỗ lực bản thân) their way out of poverty (nghèo khổ). In Sri Lanka it seems to be burying many, particularly women, deeper in it.

Those areas in the north and the east where civil war once raged hold 160,000 households headed by women. When the war ended the government began a $26m microloan programme called “Awakening North” for agriculture and business. The money was disbursed at 12% interest through state-owned and private banks.

...There are strong echoes of the wave of farmer suicides (nông dân tự tử) linked to predatory (cướp bóc, trấn lột) lending in the Indian state of Andhra Pradesh in the 1990s and early 2000s. These caused India to pass laws preventing private microfinance institutions from “exploiting” borrowers through “usurious (cao quá đáng, cắt cổ) interest rates and coercive (ép buộc, cưỡng bức) means of recovery”.

...Last year the government wrote off business loans of up to 100,000 rupees given to women in drought-affected areas and capped interest rates at 35%. But the relief applied only to each person’s biggest loan from a registered lender.

Saturday, August 17, 2019

Thomas Friedman sai rồi?

trích từ báo 'tuổi trẻ':

thuyết ngăn ngừa xung đột McDonald, hai quốc gia có cửa hàng McDonald sẽ không bao giờ tuyên chiến với nhau, tới thuyết ngăn ngừa xung đột Dell?
- Phải. Hai quốc gia bất kỳ là một phần của chuỗi cung ứng toàn cầu cho một hãng toàn cầu như Dell sẽ không đánh nhau chừng nào họ còn thuộc về chuỗi cung ứng đó. Khi tôi đang điều hành gian sau nhà bạn, đang làm nhân sự cho bạn, làm kế toán cho bạn, chứ không chỉ bán bánh hamburger, thì chúng ta đã ở chung giường. Điều đó sẽ ảnh hưởng tới hành vi của tôi.

* Theo một khía cạnh nào đó, thế giới là một chuỗi cung ứng khổng lồ. Và bạn không muốn trở thành người làm sụp đổ tất cả?
- Chính xác là như thế.

(hết trích)

-> có nghĩ lại ko ta, khi nhìn vào tình hình thế giới hiện nay Mỹ cấm Huawei, đánh các node (quan trọng) trong chuỗi cung ứng là tactic trong chiến tranh thương mại,

hệ thống swift code trong ngân hàng, internet (do bộ quốc phòng mỹ đầu tư ban đầu) -> mỹ có lợi thế và power

trước nữa là nước anh với vai trò của city of london và hải quân anh,
-----

...Thomas Friedman, author of The World Is Flat, is fond of telling the story that US businesses (in particular Dell) told their Indian suppliers (in particular Wipro) to calm things down or get cut out of the loop. And things did indeed calm down, so perhaps it was the concerns over Dell’s supply chain that prevented catastrophe. Perhaps.

Mr Friedman duly coined the phrase “the Dell Theory Of Conflict Prevention”: no two countries will go to war if they are part of the same global supply chain. He was never entirely serious about that, but the question now arises: did he have it backwards? Rather than a line of defence against hostile action, might global supply chains be a line of attack?

One example is the recent executive order banning US companies from working with Huawei, effectively denying the Chinese telecoms company the use of Qualcomm’s chips and Google’s Android operating system. Another was Mr Trump’s crude — and fleeting — threat to slap tariffs on Mexico if it didn’t satisfy him on immigration policy.

...Messrs Farrell and Newman point out that supply chains and digital networks can be used both as a “panopticon” to see everything that happens and as a “chokepoint”, denying access to some vital service. Both approaches require a certain bureaucratic apparatus — something that would be hard to disassemble once in operation. There is more going on here than the whim of “Tariff Man”.

Bài trước: Chỉ vì tiền

Chỉ vì tiền

netflix từ giờ thường xuyên dừng serie phim ở mùa hai, kể cả khi bộ phim này rất được ưa thích, vì nghiên cứu ra là mùa 3, 4 hay trở về sau cũng ko mang lại thêm nhiều người đăng ký mới, và các nhà sản xuất phim thường đòi tăng giá hợp đồng sau 2 năm.
-----

[Netflix] now routinely ends shows after their second season, even when they’re still popular. Netflix has learned that the first two seasons of a show are key to bringing in subscribers—but the third and later seasons don’t do much to retain or win new subscribers.

So the company is trying to get new subscribers, and wants to keep old subscribers just happy enough to not quit the service. And there’s this other tidbit:

Ending a show after the second season saves money, because showrunners who oversee production tend to negotiate a boost in pay after two years.

This passage, and the whole article, is framed by the notion that Netflix is becoming more budget conscience and metrics-driven. But really Netflix’s strategy is straightforward market power exploitation. The company is cancelling shows that subscribers like, so it won’t have to pay creators the amount they would otherwise be able to get for making good commercially successful art. In other words, Netflix is subtly raising prices on subscribers and paying creators less for their work.

Monday, August 12, 2019

Cuộc chiến của các công ty giao đồ ăn trực tuyến

năm 2018 tổng thị trường là 161 tỷ usd, dự đoán trị giá 1.000 tỷ usd vào năm 2023, nhưng không tasty tẹo nào đâu,

chia đôi rõ rệt: cựu binh có lợi nhuận và cty khởi nghiệp đốt tiền, 1 đằng thì phải tăng chi tiêu (mạnh cho) quảng cáo và hình thành mạng lưới giao hàng, 1 đằng thì trợ giá cho khách hàng (dẫn đến dung lượng thị trường thực ra có thể ảo, vì nếu giá tăng lên thì ko còn nhiều khách; alibaba còn dùng ele.me chịu lỗ để dẫn khách đến trang thương mại điện tử của họ),

hướng đi tới có thể là tổng điều phối, cung cấp thực phẩm cho các nhà hàng, có khi còn hình thành "nhà hàng ma" - chuẩn bị món chỉ để giao đi...
-----

...The food-delivery business can be split into two camps: mostly profitable veterans and loss-making newcomers. The veterans, founded at the start of the century, are led by publicly traded Grubhub in America, and Just Eat and Takeaway in Europe. The trio are collectively worth $18bn or so. They account for the largest share of the market, offering customers online access to restaurants that already have their own delivery services, such as pizza joints, sushi bars and Chinese restaurants. Their relatively simple business model, in which they take a cut of the bill from the restaurants, has enabled Grubhub and Just Eat to turn a profit for years. Takeaway makes money in its home market of the Netherlands.

The newbies, born more recently, have turned a once-tidy business into a food fight. They include listed firms such as Meituan of China and Delivery Hero of Germany, Uber Eats (part of Uber), Ele.me (owned by China's Alibaba), and privately held DoorDash, based in San Francisco, and Deliveroo, from London. For most of them, delivery is their core business, so they share their cut of the bill with riders as well as restaurants. This substantially broadens the market to restaurants offering everything from steak to Hawaiian poké bowls. But margins suffer. Funded largely by venture capital, they have thrown subsidies at customers, forcing their veteran rivals onto the defensive. To catch up, the veterans are investing in advertising and delivery networks—at a big cost. This week Grubhub and Just Eat reported slumping earnings, and Takeaway mounting losses, as they spent heavily to fend off the upstarts.

...Another is to provide cheaper meals by centrally supplying ingredients to restaurants, or building “ghost kitchens” that prepare food only for delivery.

Friday, August 9, 2019

“Quantum pricing” nghĩa là gì?

các nhà bán lẻ lớn không tính giá bán theo từng mặt hàng mà theo từng nhóm mặt hàng,

-> khi muốn thay đổi giá một mặt hàng, họ không điều chỉnh giá của mặt hàng đó, mà đưa mặt hàng đó vào nhóm hàng khác, xem ví dụ H&M ở dưới
-----

...A forthcoming paper by Diego Aparicio and Roberto Rigobon of the Massachusetts Institute of Technology helps make the point. Firms that sell thousands of different items do not offer them at thousands of different prices, but rather slot them into a dozen or two price points. Visit the website for H&M, a fashion retailer, and you will find a staggering array of items for £9.99: hats, scarves, jewellery, belts, bags, herringbone braces, satin neckties, patterned shirts for dogs and much more. Another vast collection of items cost £6.99, and another, £12.99. When sellers change an item’s price, they tend not to nudge it a little, but rather to re-slot it into one of the pre-existing price categories. The authors dub this phenomenon “quantum pricing” (quantum mechanics grew from the observation that the properties of subatomic particles do not vary along a continuum, but rather fall into discrete states).

Just as surprising as the quantum way in which prices adjust is how rarely they move at all. Retailers, Messrs Aparicio and Rigobon suggest, seem to design products to fit their preferred price points. Given a big enough shift in market conditions, such as an increase in labour costs, firms often redesign a product to fit the price rather than tweak the price. They may make a production process less labour-intensive—or shave a bit off a chocolate bar.

Central banks are starting to see the consequences. Inflation does not respond to economic conditions as much as it used to...