James Smith Bush

Mục sư James Smith Bush (15/6/1825 - 11/11/1889) là một luật sư, mục sư Giáo hội Giám nhiệm (Episcopal*), người viết sách truyền giáo (giáo nghi), và là tổ phụ của gia đình chính trị Bush. Ông là cha của ông trùm tư bản công nghiệp Samuel Prescott Bush, ông nội của cựu Thượng nghị sĩ Mỹ Prescott Bush, cụ của cựu Tổng thống Mỹ George H.W. Bush và là kị của cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush.

Tiểu sử

James Smith Bush được sinh ra ở Rochester, New York với cha là Obadiah Newcomb Bush và mẹ là Harriet Smith (1800-1867). Năm 1851, hai năm sau Cơn sốt vàng California, cha của ông trên đường trở về đoàn tụ gia đình và dự định đưa cả nhà về phía tây, đã bị chết trên tàu và được thả hài cốt trên biển.

Đại học Yale
James Bush vào Đại học Yale năm 1841 (lớp 1844), người đầu tiên trong truyền thống gia đình lâu đời, khi cháu trai Prescott Bush Sheldon, các chắt George H.W. Bush, Prescott Bush Sheldon, Jr. và William H.T. Bush, chắt gọi bằng kị George W. Bush, và chắt gái gọi bằng ông cố - Barbara đều là cựu sinh viên Đại học Yale. Năm 1883, ông được coi là một trong 300 cựu sinh viên và giảng viên Đại học Yale ủng hộ việc thành lập Hội Wolf's Head. Sau khi tốt nghiệp đại học Yale, ông trở về Rochester và theo học luật, trở thành luật sư vào năm 1847.

Hôn nhân đầu tiên
Người vợ đầu của ông, Sarah Freeman, sống ở thành phố Saratoga Springs. Năm 1851, hai người kết hôn nhưng bà đã chết 18 tháng sau khi sinh con.

Cái chết của vợ thúc đẩy James Bush nghiên cứu thần học với mục sư của nhà thờ Tân giáo địa phương. Năm 1855, được thụ phong thầy trợ tế, ông được bổ nhiệm làm mục sư tại nhà thờ Grace mới được tổ chức ở quận Orange, bang New Jersey.

Hôn nhân thứ hai
Ngày 24 tháng 2 năm 1859, ông kết hôn với Harriet Eleanor [Fay], con gái của ông Samuel Howard và bà Susan [Shellman] Fay, tại nhà thờ Trinity, thành phố New York. Fay được sinh ra ở thành phố Savannah, bang Georgia. Cha của bà là cháu đời thứ thứ sáu của John Fay, tộc trưởng nhập cư, sinh ra ở Anh khoảng năm 1648, ngày 30 tháng 5 năm 1656 lên tàu Speedwell ở Gravesend, và cập bến Boston ngày 27 tháng 6 năm 1656.

Con cái
1. James Freeman, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1860, hạt Essex, bang New Jersey
2. Samuel Prescott, sinh ngày 04 tháng 10 năm 1863, quận Orange, bang New Jersey
3. Harold Montfort, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1871, làng Dansville, thành phố New York
4. Eleanor Howard, sinh ngày 07 tháng 11 năm 1873, khu Staten Island, thành phố New York

Samuel được đặt theo tên ông nội của Harriet Fay, Samuel Prescott Phillips Fay.

Nghề nghiệp
Trong hai năm 1865-1866, được nhà thờ cho nghỉ phép, ông tới San Francisco qua eo biển Magellan trên tàu chiến nhỏ bọc thép USS Monadnock cùng Phó Đề đốc John Rodgers (một giáo dân của ông), với các điểm dừng chân thiện chí quốc tế dọc đường đi. Về mặt chính thức, ông được chỉ định là Trợ lý của Phó Đề đốc, nhưng được coi là "quyền cha tuyên úy", tổ chức các buổi lễ trên tàu và thậm chí điều khiển một đám cưới trên tàu cho một người Mỹ gốc Đức họ gặp ở Montevideo [thủ đô của Uruguay], sự kiện do Bret Harte kể lại trong những bức thư của ông. Trùng hợp, hạm đội chứng kiến trận pháo kích ác liệt từ thành phố không phòng vệ Valparaíso, Chile của Hải quân Tây Ban Nha trong Chiến tranh Quần đảo Chincha, sau khi những nỗ lực hòa giải của Rodgers thất bại.

Trong giai đoạn 1867-1872, ông được gọi về nhà thờ Grace (sau này là Nhà thờ Lớn) ở San Francisco, nhưng gặp rắc rối vì các nghĩa vụ gia đình nên chỉ ở đây năm năm. Thời gian ngắn ngủi này của ông và của nhà phát minh phim cuộn nhiếp ảnh Hannibal Goodwin đã bị Mark Twain châm biếm ở mục hàng tuần của mình ở tờ The Californian.

Năm 1872, ông nhận lời gọi từ Nhà thờ Ascension tại Tây Brighton, khu Staten Island. Năm 1884, trong một lần tranh cãi về cuộc xổ số [để bán hàng vì mục đích từ thiện] của nhà thờ (một chiếc đồng hồ vàng đã được bán đấu giá, nhưng ông coi đó là đánh bạc), ông từ chức.

Năm 1883, ông xuất bản một tuyển tập các bài thuyết giáo được gọi là 'Nói thêm về Kinh Thánh' (More Words About the Bible), đáp lại cuốn sách của đồng nghiệp Heber Newton là 'Công dụng của Kinh Thánh' (Uses of the Bible). Năm 1885, cuốn sách của ông 'Bằng chứng về Đức tin' (Evidence of Faith) được tạp chí The Literary World (Thế giới Văn chương) đánh giá là "rõ ràng, đơn giản và khiêm cung", và được tóm tắt như là một lập luận phản đối những giải thích siêu nhiên về Thiên Chúa. Theo tạp chí này, cả hai tác phẩm của ông phù hợp với phong trào nhà thờ rộng rãi. Nhật báo Boston Advertiser (Nhà quảng cáo Boston) gọi tác phẩm thứ hai là "tuyên bố tuyệt vời nhất về tư tưởng thánh linh không bị ngăn trở" trong những cuốn sách gần đây.

Ông nghỉ hưu từ thị trấn Concord, bang Massachusetts, và năm 1888, rời Giáo hội Giám nhiệm và trở thành người theo thuyết nhất thể (Unitarian). Căng thẳng từ sự ly giáo này khiến ông gặp các vấn đề sức khỏe trong suốt phần còn lại cuộc đời. Ông chuyển đến thành phố Ithaca, bang New York, nơi ông đột ngột qua đời khi đang cào lá vào năm 1889.

Sơn Phạm
Wikipedia English

Bài trước: Obadiah Newcomb Bush

* Anh giáo thường được đồng nhất với Giáo hội Anh - giáo hội chính thức của xứ Anh Cát Lợi, nhưng trong thực tế Anh giáo có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới. Anh giáo tại một số nơi như Hoa Kỳ, Scotland được biết đến với tên là Giáo hội Giám nhiệm (Episcopal), từ tiếng La-tinh episcopus, có nghĩa là "Giám mục", có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là "người quản lý". Tên gọi này ngụ ý giáo hội được quản trị theo thể chế Giám mục. Mỗi giáo hội cấp quốc gia được đặt dưới quyền lãnh đạo của một Tổng Giám mục, hoặc Giám mục chủ tịch (Presiding Bishop) như trong trường hợp của Giáo hội Giám nhiệm Hoa Kỳ. Giáo hội quốc gia được chia thành các giáo phận, giữa hai cấp bậc này có thể còn có bậc trung gian nữa là giáo tỉnh, thường tương ứng với địa giới hành chính của các tiểu bang hoặc các tỉnh.
-----
Dưới đây là một số câu nổi tiếng trích từ Sách Cầu nguyện chung do Thomas Cranmer biên soạn:
... dù hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn, dù giàu hay nghèo, dù khi bệnh tật, tôi nguyện yêu em (anh), cho đến khi sự chết chia lìa chúng ta.

Xin Chúa nhân lành cứu chúng con khỏi mọi sự mê muội của trái tim, khỏi sự kiêu ngạo, hư danh, và đạo đức giả; khỏi lòng ganh tị, căm ghét, hiểm độc, và mọi điều hà khắc.

Lạy Chúa, xin chiếu sáng chúng con trong bóng tối; bởi ơn thương xót rất lớn của Ngài, xin gìn giữ chúng con khỏi mọi tai ương và hiểm nghèo trong đêm nay.

Chúng con vẫn luôn sai lầm và lạc lối như chiên đi lạc.

Chúng con bỏ dở những điều cần phải làm, mà lại làm những điều chúng con không được phép làm.

Lạy Chúa toàn năng, Đấng tra xét lòng người, thấy rõ mọi tham dục của họ, không điều gì giấu kín khỏi mắt Ngài; Bởi sự soi sáng của Chúa Thánh Linh, xin thanh tẩy ý tưởng và tấm lòng chúng con để chúng con có thể yêu Ngài trọn vẹn, và xứng hiệp mà tôn vinh Danh thánh của Ngài.

Chúng con, những tôi tớ không xứng đáng của Ngài, xin khiêm nhu dâng lời tạ ơn tự đáy lòng vì sự tốt lành và tình yêu bao dung của Ngài dành cho chúng con, và cho mọi người; Chúng con tạ ơn Ngài vì Ngài đã sáng tạo thế giới và bảo tồn nó, cùng mọi ơn phước trên đời này; nhưng trên hết là vì tình yêu vô bờ của Ngài dành cho thế gian qua Giêsu Kitô Chúa chúng con.

Chúng ta đặt thân thể này xuống lòng đất; đất trở về với đất, tro về với tro, bụi về với bụi; với niềm hi vọng chắc chắn và mạnh mẽ rằng người này sẽ sống lại.
Tags: history

Đăng nhận xét

Tin liên quan

    Hôn nhân

    Tình dục