Journey in Life: 09/09/16

Friday, September 9, 2016

Họp lớp 12 Anh, Nguyễn Trãi, Hải Dương


Gia đình Pháo Đài Láng
Bão Thần Sét tăng tốc, đổ bộ trực tiếp vào Hẻm quán

Quỹ hưu trí khổng lồ của Nhật Bản: Cảm giác khó chịu đó

Thị trường chứng khoán biến động khiến cho Quỹ đầu tư hưu trí Chính phủ Nhật Bản (GPIF) và những nhà lãnh đạo mới của quỹ này chịu nhiều áp lực.

Theo các nhà kinh tế học, một trong số các lý do vì sao người Nhật thích tích trữ tiền mặt hơn là chi tiêu vì họ lo sợ rằng một hệ thống hưu trí ọp ẹp sẽ không đủ để cung cấp cho số lượng người nghỉ hưu ngày càng tăng. Ông Hiromichi Mizuno—Giám đốc đầu tư thứ nhất của Quỹ Đầu tư hưu trí Chính phủ bảo thủ cực đoan thấy rằng bất kỳ sự can thiệp nào vào 140 nghìn tỷ Yên (1,27 nghìn tỉ USD) của quỹ hưu trí nhà nước sẽ gây căng thẳng về mặt chính trị.

Tháng 10 năm 2014, GPIF đã tiến hành một bước thay đổi mang tính lịch
sử trong việc phân bổ tài sản, cắt bỏ bớt trái phiếu chính phủ Nhật Bản
và tăng gấp đôi số cổ phiếu nó nắm giữ (xem biểu đồ). Trong vòng ba quý tiếp theo, lợi nhuận của quỹ tăng đều theo thị trường chứng khoán. Trong năm tài chính kết thúc vào ngày 31 tháng 3 năm 2015, lợi nhuận của quỹ đạt mức 12,27% -- mức cao nhất từ trước tới nay. Tuy nhiên, ý định của quỹ này không hẳn là có được lợi nhuận cao mà chủ yếu là chuẩn bị khi lạm phát trở lại. Sau một thập kỷ giảm phát, chủ trương nới lỏng tiền tệ hàng loạt của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản được cho là rất có thể khiến giá cả tăng trở lại, do đó làm giảm đi giá trị của trái phiếu Nhật Bản.

Tuy nhiên, kể từ lúc khởi đầu xông xáo đó, cổ phiếu Nhật Bản và một số cổ phiếu nước ngoài đã chìm xuống. Giá trị đồng Yên cũng mạnh lên, làm giảm giá trị tài sản nước ngoài. Điều này đã khiến quỹ GPIF--quỹ hưu trí lớn nhất thế giới--thiệt hại, mà theo các nhà phân tích ước tính, là hơn 5 nghìn tỷ Yên trong năm tài khóa gần đây nhất.

Trong khi đó, không hề có dấu hiệu lạm phát dù đã có những tính toán về chiến lược đầu tư mới. Ông Mizuno cho biết, "Chúng tôi đã phân bổ danh mục đầu tư mới với tình huống cơ sở rằng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản sẽ tạo ra lạm phát ở mức 2% trong vòng hai năm, tuy nhiên tình huống ấy có lẽ đã thay đổi." Hiện tại, giá cả đang giảm sút và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản cho hay có thể nó sẽ không đạt được mục tiêu lạm phát của mình cho đến đầu năm 2018.

Ông Mizuno không hề có sự chuẩn bị nào cho những thử thách sắp tới với GPIF. Ông gia nhập GPIF từ một quỹ cổ phần riêng (private-equity firm) ở London và vào năm ngoái, ông chia sẻ với bạn bè rằng việc chuyển sang GPIF giống như là đổi chiếc Ferrari lấy một chiếc xe ba bánh. Đây là một cú sốc không chỉ là do GPIF xem nhẹ định hướng đầu tư (gần đây quỹ đã bị cấm phát triển loại năng lực mua cổ phần nội bộ mà các nhà đầu tư lớn khác có) mà còn do các chính trị gia và các phương tiện truyền thông chỉ trực để buộc tội quỹ này hoạt động như đánh bạc.

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, một trong những người ủng hộ mạnh mẽ nhất sự thay đổi trong phân bổ tài sản của quỹ. Mới đây, ông đã lưu ý rằng điều quan trọng là kết quả dài hạn chứ không phải những biến động ngắn hạn. Tuy nhiên thật không ích gì khi ông lại cũng nêu ra viễn cảnh lương hưu sẽ phải thấp hơn nếu những thua lỗ của GPIF tăng lên. Nhiều người phản đối sự thay đổi này, trong đó có chủ tịch quỹ lúc bấy giờ, Takahiro Mitani, cho rằng chính chính phủ đã giật dây quỹ này để bơm căng thị trường chứng khoán. Quỹ GPIF, thường công khai các kết quả hoạt động thường niên vào đầu tháng 7, đã lùi những công bố này lại đến cuối tháng này, sau cuộc bầu cử vào Thượng viện. Theo ông Jesper Koll của quỹ WisdomTree, một nhà quản lý quỹ hoán đổi danh mục tại Tokyo, sự trì hoãn này là dấu hiệu rõ ràng về sự can thiệp chính trị.

Ông Mizuno cho biết GPIF có thể sẽ phải điều chỉnh lại danh mục đầu tư vì không có lạm phát. Và dù khả năng nào đi nữa, điều này sẽ kéo theo việc bán bớt cổ phần và quay trở lại với trái phiếu chính phủ Nhật Bản. Động thái này sẽ là một sự xấu hổ lớn đối với Ngân hàng Trung ương Nhật Bản. Dù vậy, GPIF vẫn chưa quyết định liệu có tiếp tục với việc phân bổ hiện tại hay không. Theo ông Takatoshi Ito, cố vấn của chính phủ về quỹ này thì vào cuối năm nay, quyền hạn của hội đồng quản trị sẽ được tăng cường khiến cho việc tiếp nhận chỉ trích của công chúng về những tổn thất ngắn hạn trở nên nhẹ nhàng hơn. Và nếu Nhật Bản có đẩy lùi được lạm phát đi chăng nữa thì những người nhận lương hưu của đất nước này vẫn cần bảo hiểm đối phó với những trái phiếu đắt đỏ kia của chính phủ.

Hà My
The Economist

Hôn nhân ở Nhật Bản: Tôi không đồng ý

Hầu hết người Nhật muốn kết hôn, nhưng ngày càng khó.

Cảnh tượng hiếm thấy hơn bao giờ hết. Photo courtesy Yoshihide HANAKI.

SEIKO, một nhà báo 35 tuổi ở Tokyo, là một trong những trường hợp người Nhật gọi là "Mì Năm mới". Một năm kết thúc vào ngày 31 tháng 12, và, tương tự thế, triển vọng về một cuộc hôn nhân như ý của một người phụ nữ Nhật Bản sẽ tan biến khi cô bước qua tuổi 31. Tình hình còn từng tồi tệ hơn: trước đây, từ được dùng là "bánh Giáng sinh " vì quan niệm rằng độ tuổi kết hôn đẹp nhất của một người phụ nữ là 25 tuổi.

Nhưng có lẽ cần bổ sung một từ mới nữa: nam giới và phụ nữ ở Nhật Bản đang có xu hướng kết hôn muộn hơn, hoặc, trong vài trường hợp, không kết hôn. Từ năm 1970, độ tuổi trung bình khi kết hôn lần đầu đã tăng thêm 4,2 tuổi đối với nam và 5,2 tuổi đối với nữ, lần lượt tương ứng là 31,1 và 29,4. Tỷ lệ người Nhật ở tuổi 50 và chưa bao giờ kết hôn đã tăng từ 5% vào năm 1970 lên 16% vào năm 2010 (xem biểu đồ).

Các quốc gia phát triển khác cũng gặp tình cảnh tương tự, nhưng tỷ lệ ở Nhật Bản cao nhất châu Á. (Ví dụ, tỷ lệ người dân Hàn Quốc ở tuổi 50 và không kết hôn là 4%). Và trong khi đó, nếu ở phương Tây, số lượng các cặp vợ chồng đăng kí kết hôn giảm nhưng số các cặp đôi sống chung mà không kết hôn tăng, thì ở Nhật, chỉ có khoảng 1,6% các cặp đôi sống chung như vậy. Vì vậy, ở Nhật Bản, ít các cặp đôi kết hôn hơn có nghĩa là ít trẻ em hơn—tai họa cho một quốc gia có dân số giảm và lão hóa. Chỉ có 2% trẻ em Nhật là con ngoài giá thú, so với hơn 40% ở Anh và Mỹ.

Một số lý do khiến giới trẻ Nhật Bản trốn tránh việc kết hôn cũng giống như ở các nước phát triển khác. Phụ nữ có học vấn cao hơn, theo đuổi sự nghiệp, có thể tự lực về tài chính và không cho rằng gia đình truyền thống là cách duy nhất để có một cuộc sống trọn vẹn. Tuy nhiên cũng có một số lý do khác. Các cặp vợ chồng thường có con ngay sau khi kết hôn, vì vậy những phụ nữ muốn trì hoãn việc sinh nở sẽ trì hoãn hôn nhân. Mặc dù vậy, một phần lớn thanh niên Nhật Bản vẫn muốn kết hôn: 86% nam giới và 89% phụ nữ, theo một cuộc khảo sát được công bố vào năm 2010 bởi Viện Nghiên cứu Quốc gia về Dân số và An sinh xã hội.

Kinh tế là một phần quan trọng của vấn đề. Phụ nữ tìm kiếm người bạn đời có sự đảm bảo về tài chính. Nam giới mong mình có khả năng để thực hiện điều đó. Tuy nhiên đây là một khó khăn, khi ngày càng có nhiều người trẻ đang bế tắc với các công việc tạm thời hoặc bán thời gian. "Tôi không muốn vợ và các con tôi bỏ lỡ những trải nghiệm thú vị trong cuộc sống chỉ vì tôi không có khả năng chi trả ", Junki Igata, một thực tập sinh 24 tuổi tại một chuỗi khách sạn quốc tế cho biết, và anh sẽ không kết hôn cho đến giữa hoặc cuối tuổi ba mươi. Nam giới làm việc bán thời gian có ít khả năng kết hôn hơn nam giới làm việc toàn thời gian.

Có sự đối lập ở nữ giới: số phụ nữ làm việc toàn thời gian và chưa lập gia đình nhiều hơn so với những người làm việc bán thời gian. Vấn đề của họ là quan điểm truyền thống chưa bao giờ thay đổi về trách nhiệm hôn nhân, thứ khiến một người phụ nữ Nhật Bản khó có thể vừa làm việc toàn thời gian vừa chăm sóc con cái. Chồng của họ thường sẽ muốn họ từ bỏ công việc. (Bạn trai của Seiko của yêu cầu cô làm như vậy chỉ sau ba tháng chung sống; cô từ chối.) Ngoài ra, ở Nhật Bản, việc nhà không được chia sẻ đều giữa vợ và chồng: người chồng chỉ làm việc nhà và chăm con một giờ và bảy phút một ngày, so với khoảng ba giờ của nam giới Mỹ và hai giờ rưỡi của nam giới Pháp.

Và giờ người ta thấy việc gặp nhau cũng khó khăn hơn. Thời của omiai, những cuộc hôn nhân sắp đặt, đã qua rồi. Sinh viên đại học dành thời gian rảnh tham gia các câu lạc bộ để làm đẹp lý lịch khi xin việc bởi việc làm tốt đang trở nên khan hiếm. Công nhân làm việc cực nhọc trong nhiều giờ. Một số người lo rằng nam giới đã trở nên e ngại (hoặc lười biếng) trong việc tiếp cận những người bạn đời tiềm năng.

Kỳ vọng cao đặt ra một rào cản khác. Takako Okiie, "người sắp đặt" tại Partner Agent, một trung tâm mai mối được điều hành bởi những phụ nữ luôn trang điểm đẹp hoàn hảo, cho biết khách hàng thường đòi hỏi rất cao. Họ muốn có một người bạn đời lý tưởng (Okiie nói phải mất 18 tháng để họ bước ra khỏi giấc mơ này) hoặc, ít nhất, một người mà Nhật Bản gọi là "ba ổn": thu nhập ổn, ngoại hình ổn, học vấn ổn.

Những khó khăn người trẻ Nhật Bản gặp phải trong việc hẹn hò và kết hôn là một trong những lý do vì sao tỷ lệ sinh giảm mạnh. Tỷ lệ sinh của một phụ nữ Nhật Bản giảm từ 2,13 con vào năm 1970 xuống mức hiện nay còn 1,42 con. Không mấy ngạc nhiên khi dân số giảm đi.

Một số người lo ngại về số lượng ngày càng nhiều những người thích sống cách ly xã hội và những người được gọi là " độc thân ký sinh": sống cùng và phụ thuộc vào cha mẹ cho đến tuổi trưởng thành. Nhà nước có thể hỗ trợ kinh tế, nhưng các nhóm dân sự và các tổ chức cộng đồng, nơi giúp mọi người cảm thấy hòa nhập với xã hội đã bị suy yếu ở Nhật Bản, như ở các nơi khác. Sự gắn bó từng rất bền chặt giữa người lao động và công ty của họ giờ đã trở nên mờ nhạt với số việc làm ngày càng ít đi. "Tôi lo lắng không biết điều gì sẽ xảy ra khi cha mẹ của họ qua đời ", Masahiro Yamada, một nhà xã hội học tại Đại học Chuo, người đã đặt ra thuật ngữ "độc thân ký sinh" cho biết.

Không nhiều người độc thân có bạn trai hoặc bạn gái, ngay cả khi họ không phải là otaku (người nghiện phim hoạt hình hoặc trò chơi trên máy tính), cũng không phải hikikomori (người tự nhốt mình trong phòng riêng). Ông Yamada cho rằng nếu người ta không kết hôn và không hẹn hò, họ phải làm gì đó để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Ông đang nghiên cứu liệu họ có những lựa chọn khác như mua dâm, chơi game người yêu ảo, cuồng thần tượng, xem ảnh khiêu dâm hoặc nuôi thú cưng hay không.

Thủ tướng Shinzo Abe rất lo ngại về vấn đề này. Chính phủ của ông muốn phụ nữ sinh nhiều con hơn và vẫn giữ quan niệm rằng hôn nhân là nền tảng của cuộc sống gia đình. Chính phủ còn trợ cấp cho các thị trấn để tổ chức các sự kiện hẹn hò, xây dựng nhiều nhà trẻ hơn và tuần này đã tuyên bố sẽ xóa bỏ một loại thuế hôn nhân khiến phụ nữ đã lập gia đình không muốn có thu nhập vượt quá 1,03 triệu yên (10.000 USD)/ năm.

Những sửa đổi như vậy có thể có ích ít nhiều. Giờ làm việc ngắn hơn cũng tương tự như vậy, nhưng quan trọng hơn, nam giới Nhật Bản cần chấp nhận rằng họ không thể kết hôn với điều kiện (về người bạn đời) như thế hệ cha ông của mình đã từng. Tuy nhiên, các chính phủ thường không thể tạo ra những thay đổi về mặt văn hóa như vậy. Nam giới và phụ nữ Nhật Bản, hoặc sẽ phải tìm ra cách chung sống với nhau, hoặc sẽ độc thân suốt đời.

Minh Thu
The Economist