Tản mạn về một nhịp cầu - Đại học Hitotsubashi
cảm ơn tác giả Đông Kiên, bài viết xuất sắc
_____
Tùy bút Tokyo:
Tản mạn về một nhịp cầu - Đại học Hitotsubashi
(tặng anh chị em Như Thủy Hội)
*
Hitotsubashi nghĩa là một nhịp cầu. Cây cầu ấy có thật, bắc qua nhánh hào cũ của thành Edo, khiêm tốn đến mức người qua đường không mấy ai dừng lại. Vậy mà cái tên của nhịp cầu nhỏ đã trở thành tên của một trong những đại học danh giá nhất Nhật Bản, dù ngôi trường mang tên cầu đã dọn về ngoại ô từ ngót một thế kỷ trước. Sáng nay đứng trên cầu nhìn xuống mặt nước xanh rêu, tôi chợt nghĩ chuyện đặt tên đôi khi cũng là một lời tiên tri: cả đời mình, ngôi trường ấy làm đúng một việc là bắc cầu, giữa buôn bán và học vấn, giữa Nhật Bản và thế giới, giữa các trường phái kinh tế học vốn không ưa nhau, rồi với riêng tôi là giữa hai quãng đời cách nhau mười lăm năm.
Tôi học thạc sĩ ở Hitotsubashi từ năm 2010 đến 2012, nhưng lại không học ở khu học xá chính. Chương trình Chính sách công châu Á nằm ngay giữa khu Chiyoda, trong tòa nhà Trung tâm Khoa học Quốc gia cạnh đường Hitotsubashi, nghĩa là ngay trên mảnh đất tổ của trường, nơi ngôi trường thương mại đầu tiên của nước Nhật từng tọa lạc cho đến khi trận động đất Kantō đẩy cả khu học xá về miền tây Tokyo. Trường dọn về quê mới nhưng vẫn để lại nơi quê cũ một tiền đồn nhỏ, mà duyên may thế nào tôi lại thuộc về chính cái tiền đồn ấy. Thành thử sáng nay, việc đầu tiên của ngày về thăm trường là quay lại đó.
Mười lăm năm trôi qua mà tòa nhà như chưa hề hay biết: sảnh đá vẫn mát lạnh đúng cái mát từng cứu tôi khỏi những trưa hè oi ả năm cũ, thang máy vẫn chậm rãi đúng cái chậm rãi từng làm tôi sốt ruột thuở nào. Tôi đứng lặng ở hành lang tầng học cũ, nhìn vào một phòng thảo luận đang sáng đèn, rồi trong một thoáng bỗng có cảm giác chỉ cần khẽ đẩy cửa là sẽ gặp lại chính mình ở tuổi hăm nhăm, hăm sáu, đang ngồi cắm cúi ghi chép.
Lớp chúng tôi ngày ấy là một châu Á thu nhỏ: công chức các bộ tài chính và ngân hàng trung ương từ Mông Cổ, Trung Quốc đến Indonesia, từ các nước Trung Á đến Thái Lan, Việt Nam, ngồi chung một phòng học cách trụ sở BOJ mười lăm phút đi bộ và cách Bộ Tài chính Nhật ba ga tàu điện. Những khóa sau, chương trình còn nhận cả công chức Bộ Tài chính Nhật vào học, chủ nhà ngồi học cùng khách. Học chính sách công ở đó có một cái sang mà mãi sau này tôi mới định giá được: chính sách không phải là thứ trong sách, mà là thứ đang được làm ở tòa nhà bên cạnh; người làm ra chính sách thỉnh thoảng lại xuất hiện ngay trên bục giảng của lớp tôi.
Giáo sư Rosengard từ Harvard sang dạy chúng tôi về tài chính bao trùm, say sưa kể về tín dụng vi mô ở Indonesia như kể chuyện nhà. Giáo sư Mukul Asher từ Đại học Quốc gia Singapore dạy về thuế, Giáo sư Keyong Dong từ Đại học Nhân dân Trung Quốc dạy về hệ thống an sinh xã hội, Giáo sư Ippei Fujiwara từ Đại học Quốc gia Australia dạy mô hình tự hồi quy vectơ (vector autoregression, VAR) trong kinh tế lượng vĩ mô. Trò đến từ khắp châu Á, còn thầy thì trải rộng cả một vành đai Thái Bình Dương. Các thầy người Nhật thì dạy bằng chính đời công vụ của mình, những năm tháng ngồi ở IMF, ở Bộ Tài chính, ở BOJ.
Có một kỷ niệm nhỏ mà tôi nhớ mãi. Giáo sư Jonathan Morduch từ Đại học New York sang giảng chuyên đề; sau lời giới thiệu trang trọng của thầy Kunieda, giáo sư hướng dẫn trực tiếp của tôi, ông mở đầu bằng một câu khiến cả lớp bật cười rồi lặng đi: thầy Kunieda giới thiệu tôi kỹ thế mà quên mất một điều, rằng tôi vào Harvard sau thầy một khóa; những năm ở đó, tôi học được từ thầy Kunieda nhiều hơn từ bất kỳ giáo sư nào của Harvard. Ngồi dưới lớp nghe một người khách phương xa nói câu ấy về chính người thầy đang hướng dẫn mình, tôi hiểu mình may mắn đến mức nào.
Câu nói nửa đùa nửa thật ấy, mãi sau tôi mới thấy, còn gói cả một nét của nền học thuật Nhật Bản: những người giỏi nhất của họ thường đứng nép sau lời giới thiệu dành cho khách. Ở tuổi hăm sáu, hăm bảy, tôi đến đó để học chính sách; giờ nghĩ lại, thứ thấm lâu nhất hóa ra là một thái độ: người Nhật nói về chính sách công bằng giọng của người từng chịu trách nhiệm, không phải giọng của người đứng ngoài bình luận.
*
Nhưng hôm nay tôi không định ở lại Chiyoda. Ngày về thăm trường thì phải về tận campus chính. Tôi đi bộ từ khu học xá sang ga Ochanomizu, băng qua Đại học Meiji, nơi tôi học tiến sĩ sau này; đoạn đường chỉ mươi phút mà đi ngang hai quãng đời học hành. Từ Ochanomizu, tôi lên tuyến Chūō rồi để đoàn tàu màu cam kéo mình về phía tây, rời khỏi những tòa nhà kính, xuyên qua Shinjuku, Nakano, Kokubunji, cho đến khi phố xá thấp dần, trời rộng dần. Bốn mươi phút sau, tàu dừng ở một cái ga có tên lạ: Kunitachi.
Cái tên này cũng là một câu chuyện. Trận động đất 1923 san phẳng gần như toàn bộ cơ ngơi của trường ở Chiyoda, trớ trêu thay chỉ chừa lại thư viện với ba mươi vạn cuốn sách quý, như thể muốn nhắc rằng phần đáng giữ nhất của một ngôi trường là gì. Khi buộc phải dời đi, người ta chọn một vùng đồng ruộng nằm giữa hai ga Kokubunji (国分寺, Quốc Phân Tự) và Tachikawa (立川, Lập Xuyên), rồi lấy chữ đầu của mỗi tên, chữ quốc (国) của Kokubunji và chữ lập (立) của Tachikawa, ghép thành tên mới: 国立. Hai chữ ấy đọc theo âm Hán là "kokuritsu", nghĩa là quốc lập; đọc theo âm Nhật lại thành Kunitachi. Một cái tên mang nghĩa quốc lập đặt cho nơi khi đó chưa có gì để lập cả. Một thành phố được đặt tên trước khi ra đời, quy hoạch làm đô thị học viện (gakuen toshi) với ngôi trường ở vị trí trung tâm.
Ở Nhật, chuyện dời một đại học không chỉ là dời mấy tòa nhà; người ta dựng hẳn một thành phố để làm chỗ ở cho tri thức.
Từ cửa ga, đại lộ Daigaku-dōri chạy thẳng về phía nam, rộng thênh thang, hai hàng anh đào xen ngân hạnh giao tán. Tháng bảy không có hoa, chỉ có vòm lá xanh dày và tiếng ve, nhưng chính lúc không hoa mới thấy con đường này được trồng cho một trăm năm chứ không phải cho một mùa.
Ngân Hạnh, tức cây bạch quả (ginkgo), là giống cây kỳ lạ: lá hình quạt, mùa thu vàng rực, thuộc hàng thực vật cổ nhất còn sống trên trái đất, gần như không đổi dạng từ thời khủng long. Du khách Việt vẫn quen gọi mùa thu Nhật Bản là mùa lá vàng lá đỏ; lá đỏ là của cây phong, còn lá vàng chính là của ngân hạnh này đây. Người Tokyo yêu loài cây ấy đến mức chọn nó làm cây biểu tượng của thủ đô, một phần vì nó gần như không thể bị khuất phục: chịu được khói bụi, sâu bệnh, từng sống sót qua cả những trận bom cháy năm 1945. Trồng anh đào xen ngân hạnh, vì thế, là ghép hai triết lý vào một con đường: anh đào cho cái đẹp biết mình ngắn ngủi, ngân hạnh cho cái đẹp định sống nghìn năm. Một con phố đại học có lẽ nên có cả hai.
Đi hết rặng cây là tới cổng trường, sau cổng là giảng đường Kanematsu, khối nhà kiểu Roman bằng gạch nâu do Itō Chūta thiết kế từ cuối thập niên 1920, mái ngói thấp, cửa vòm dày, trông giống một tu viện hơn một trường dạy kinh doanh. Có lẽ đó cũng là một tuyên ngôn bằng kiến trúc. Ngôi trường này sinh ra năm 1875 làm trường dạy buôn, do Mori Arinori sáng lập với sự đỡ đầu của Shibusawa Eiichi. Gương mặt ông lúc này đang nằm ngay trong ví tôi, trên tờ một vạn yên; ít hôm sau tôi sẽ còn gặp ông lần nữa ở Kabutochō, nơi có sở giao dịch chứng khoán do chính ông góp tay dựng nên.
Trong trật tự sĩ nông công thương của Đông Á, nghề buôn đứng chót và học vấn của nghề buôn thì gần như không được coi là học vấn. Những người dựng trường muốn chứng minh điều ngược lại: rằng thương mại cũng là một khoa học, rằng người đi buôn cũng cần được đào tạo nghiêm cẩn như người làm quan. Huy hiệu của trường là thần Mercury, vị thần của thương nhân. Từ chỗ bị khinh rẻ đến khi thành một biểu tượng học thuật, hành trình ấy mất chừng năm mươi năm. Giảng đường kiểu tu viện này chính là cái kết đầy tự tin cho hành trình đó: đến lúc tri thức về buôn bán cũng có thánh đường riêng.
Cái kết ấy còn có một vĩ thanh bằng tên gọi. Năm 1920, trường dạy buôn năm nào chính thức trở thành Đại học Thương mại Tokyo; đến năm 1949, khi đã lớn vượt khỏi khuôn chữ thương mại để ôm trọn các khoa học xã hội, trường bỏ hẳn hai chữ ấy khỏi tên mình và lấy tên đất Hitotsubashi nơi mình đã lớn lên, dù đã rời xa nhịp cầu ấy từ hai chục năm trước. Cái tên mới do chính sinh viên bỏ phiếu chọn. Một ngôi trường đủ tự tin thì không cần mang tên nghề nữa, chỉ cần mang quê quán.
Chính trong khu học xá còn thơm mùi vữa này, ngày 28 tháng 1 năm 1931, Joseph Schumpeter đã đến thăm và giảng về bộ máy lý thuyết của các nhà kinh tế hiện đại. Giữa mùa đông Kantō, giảng đường mới xây chưa kịp lắp hệ thống sưởi. Trước sự áy náy rất Nhật của các giáo sư chủ nhà, Schumpeter đáp lại bằng một ý mà tôi muốn khắc lên cổng mọi trường đại học: đại học là một định chế chứ không phải những tòa nhà; nghiên cứu đỉnh cao và giáo dục tinh hoa có thể được tiến hành trong những điều kiện khắc nghiệt nhất, như Bologna đã từng làm suốt thời Trung Cổ. Điều Schumpeter không biết là đúng những ngày ấy, cách giảng đường không xa, một cậu học sinh mười tám tuổi đang ngồi trong trại giam vì hoạt động cánh tả. Cậu ấy, về sau, sẽ trở thành hiệu trưởng thứ sáu của chính ngôi trường ông vừa đứng giảng.
Tôi vào khuôn viên, đi chậm dưới những tán cây về phía Viện Nghiên cứu Kinh tế, nghĩ về con người khiến tôi nhất định phải về Kunitachi chuyến này: Tsuru Shigeto.
*
Đời Tsuru là thứ tiểu thuyết mà không tiểu thuyết gia nào dám bịa.
Tháng 12 năm 1930, cậu học sinh Tsuru bị bắt vì đứng đầu Liên đoàn Phản đế, một tổ chức Marxist trong trường phổ thông. Cậu ngồi trại khoảng hai tháng rưỡi rồi được thả, không bị truy tố, nhưng mọi cánh cửa đại học trong nước từ đó đóng lại với cậu. Cậu muốn sang Đức học tiếp, nhưng nước Mỹ là lựa chọn duy nhất người cha chịu chu cấp, thế là tháng 9 năm 1931 cậu đặt chân đến nước Mỹ, khởi đầu ở một trường nhỏ tại Wisconsin, rồi vào Harvard năm 1933 và bước vào chương trình tiến sĩ kinh tế năm 1935, đúng những năm vàng của khoa kinh tế nơi ấy. Tsuru gặp Schumpeter lần đầu không phải ở Nhật mà ở đó, trở thành người đối thoại được chính Schumpeter trân trọng.
Chàng nghiên cứu sinh Marxist ấy cùng Sweezy phụ trách một lớp chuyên đề về kinh tế học Marxist ngay trong lòng Harvard, rồi góp cho cuốn sách kinh điển của Sweezy một phụ lục về cơ chế tái sản xuất, phần viết mà giới nghiên cứu về sau đánh giá là có chỗ đứng vĩnh viễn trong lịch sử học thuyết kinh tế. Anh cũng góp tay sáng lập Science and Society từ năm 1936, tờ tạp chí đến nay vẫn là tạp chí kinh tế học Marxist lâu đời nhất còn xuất bản liên tục. Và giữa chừng ấy công việc học thuật, Tsuru còn kịp làm một việc phi học thuật mà hệ quả cũng lâu bền không kém: giới thiệu cho Samuelson người vợ tương lai. Về sau Samuelson lấy chính Tsuru làm ví dụ khi nói rằng Harvard làm nên sinh viên chúng tôi, nhưng chúng tôi cũng làm nên Harvard.
Chiến tranh Thái Bình Dương biến Tsuru thành công dân nước thù địch trên đất Mỹ. Mùa hè năm 1942, ông xuống tàu trao đổi kiều dân về nước, bỏ lại sau lưng cả một sự nghiệp đang mở. Tại điểm trung chuyển Lourenço Marques bên bờ Đông Phi, ông tình cờ gặp lại người bạn thời Harvard là nhà ngoại giao Canada Herbert Norman, chuyên gia hàng đầu về lịch sử Nhật Bản hiện đại, bèn gửi gắm lại cho Norman chỗ sách vở tài liệu về lịch sử kinh tế Nhật mà mình không thể mang theo, hãy còn nằm lại ở Cambridge. Một cử chỉ trọng sách rất mực trí thức: đã không giữ được thì trao cho người biết dùng.
Vậy mà mười lăm năm sau, giữa thời McCarthy, cử chỉ ấy bị lôi ra thành "vấn đề Norman", buộc Tsuru phải điều trần trước một tiểu ban của Thượng viện Hoa Kỳ. Trong cuộc điều trần, ông vui vẻ thừa nhận thời sinh viên mình đã nói, viết và hành động đúng như điều người ta đang chất vấn. Không chối, không sám hối, cũng không thách thức. Cứ như thể sự thật là thứ đương nhiên phải nói ra.
Rồi nước Nhật bại trận cần người biết nhìn nền kinh tế bằng con số. Năm 1947, ở Ủy ban Ổn định hóa kinh tế với hàm thứ trưởng, Tsuru chấp bút bản Sách trắng kinh tế đầu tiên của Nhật Bản, mở đầu bằng một nhận định trần trụi đã thành kinh điển: nhà nước thâm hụt, doanh nghiệp thâm hụt, hộ gia đình cũng thâm hụt. Không tô vẽ, không hô hào, chỉ nhìn thẳng. Người Nhật hay nói công cuộc tái thiết bắt đầu từ đống tro tàn; đọc lại văn kiện thời ấy, tôi nghĩ cuộc tái thiết ấy bắt đầu từ một câu văn dám gọi đúng tên đống tro tàn.
Năm 1948, khi nội các Katayama sụp đổ, ông rời chính phủ về làm giáo sư trường cũ, bấy giờ còn mang tên Đại học Thương mại Tokyo; một năm sau, ông trở thành viện trưởng đầu tiên của Viện Nghiên cứu Kinh tế vừa được tổ chức lại từ viện nghiên cứu thời chiến của trường, chính cái viện mà tôi đang đứng trước cửa, đến nay vẫn đứng đầu Nhật Bản trong ngành.
Rồi ông trở thành hiệu trưởng thứ sáu của trường, tại vị đến năm 1975. Quyền lực chính trị gõ cửa nhiều lần nhưng không lôi được ông đi: ông từ chối ghế Bộ trưởng Giáo dục trong nội các Miki, từ chối ra tranh cử Thị trưởng Tokyo dù cửa thắng gần như trong tầm tay. Lý do chính thức là còn quá nhiều điều muốn theo đuổi trong học thuật; còn lý do thật, như chính ông kể lại với sự thành thật thường trực, là bà vợ dọa ly dị nếu ông ra tranh cử.
*
Điều làm tôi kính trọng Tsuru hơn cả lại nằm ở đoạn sau của đời ông.
Khi Nhật Bản bước vào thời tăng trưởng thần kỳ và cả thế giới ngưỡng mộ những con số, Tsuru là một trong những tiếng nói sớm nhất chỉ ra cái giá của chúng: những dòng sông nhiễm độc, những làng chài mang bệnh, những chi phí mà GNP không những không trừ đi mà đôi khi còn cộng vào như thể thành tích. Ông trở thành người mở đường cho kinh tế học môi trường ở Nhật từ trước khi bộ môn này có được tên gọi chính thức ở phương Tây.
Một nhà kinh tế từng viết sách trắng cho tăng trưởng, về già lại dành tâm sức cảnh báo về tăng trưởng; nghe như mâu thuẫn, nhưng tôi nghĩ đó mới là nhất quán. Nhất quán với câu hỏi, chứ không phải với câu trả lời. Tsuru đọc Marx mà không thành tín đồ của Marx, làm việc với những bộ óc tân cổ điển lớn nhất mà không thành tín đồ của họ; ông đứng giữa các trường phái như người ta đứng trên cầu. Cuốn sách tổng kết của ông về chủ nghĩa tư bản Nhật mang một cái tên mà tôi cho là một trong những nhan đề hay nhất của kinh tế học thế kỷ hai mươi: thất bại sáng tạo (creative defeat). Thua trận, mất hết, rồi chính vì mất hết mà được tự do làm lại từ đầu một cách sáng tạo. Phải là người từng bỏ Harvard về với đất nước bại trận mới có thẩm quyền đặt một cái tên như thế.
Cuối đời, trong tự truyện, Tsuru nhắc lại một bài giảng của mình từ năm 1964, kể chuyện ba anh em mang tên Cường quyền, Phú quyền và Tử tế. Thế giới, ông nói, vẫn đang đo sức nặng của một quốc gia bằng hai người anh đầu. Nhật Bản không phải, không thể và không nên là một Cường quyền; Nhật Bản chưa phải, dù rồi sẽ, là một Phú quyền; nhưng điều ông mong được thấy là Nhật Bản trở thành một quyền lực của Tử tế. Thời đại của Tử tế rồi sẽ đến, ông tin vậy, bởi đó là con đường duy nhất để một nước như Nhật tồn tại.
Đứng trước Viện Nghiên cứu Kinh tế trong bóng chiều Kunitachi, tôi nghĩ lời ấy nghe ngây thơ vào năm 1964, bớt ngây thơ hơn nhiều vào năm 2026, khi Cường quyền và Phú quyền đang va nhau chan chát trên khắp các đại dương và người ta bắt đầu hiểu Tử tế cũng là một loại tài sản chiến lược của quốc gia.
*
Chiều xuống chậm trên Daigaku-dōri. Tôi ngồi ở một quán cà phê nhỏ gần cổng trường, nhìn sinh viên đạp xe qua, nghĩ về hai campus của trường như hai nửa của một đời làm học thuật. Một nửa ở Chiyoda, giữa trung tâm quyền lực, nơi kinh tế học phải trả lời ngay những câu hỏi của tháng này, quý này: lãi suất, tỷ giá, ngân sách. Một nửa ở Kunitachi, sau bốn mươi phút tàu điện, nơi có thể ngồi dưới bóng cây mà hỏi những câu mất bốn mươi năm mới trả lời xong: tăng trưởng để làm gì, cái giá nào không được phép trả, đo lường thế nào cho khỏi tự dối mình.
Tsuru là người hiếm hoi đi lại thong thả giữa hai nửa ấy suốt một đời, từ phòng họp sách trắng đến phòng nghiên cứu, từ hàm thứ trưởng đến ghế hiệu trưởng. Còn phần lớn chúng ta thì loay hoay, lúc bị hút về đầu này, lúc dạt về đầu kia.
*
Mười lăm năm trước, tôi rời nơi này với một tấm bằng về chính sách công, rồi về dạy ở một ngôi trường mà hôm nay, càng đứng lâu ở Kunitachi, tôi càng nhận ra là một người anh em cùng số phận của nơi này: Trường Đại học Ngoại thương.
Hai ngôi trường sinh ra cách nhau gần một thế kỷ nhưng từ cùng một câu hỏi. Nước Nhật thời Minh Trị mở cửa và nhận ra mình không có người biết buôn bán với phương Tây, thế là năm 1875 ra đời ngôi trường dạy buôn về sau trở thành Đại học Thương mại Tokyo. Nước Việt Nam năm 1960, giữa muôn vàn thiếu thốn, vẫn quyết dành riêng một ngôi trường để đào tạo những người sẽ mang hàng hóa và gương mặt của đất nước ra thế giới, thế là có trường Ngoại thương. Cả hai đều khởi đầu là trường nghề theo nghĩa cao quý nhất của chữ nghề: dạy một kỹ năng mà quốc gia đang thiếu để đứng được giữa thế giới. Cả hai đều chọn chuyên sâu thay vì dàn trải, đứng trên một dải hẹp của khoa học xã hội và làm thật sâu dải ấy, đều sở hữu thứ tài sản mà không bảng xếp hạng nào đo hết: những lớp sinh viên được thị trường tin cậy đến mức tranh nhau đón từ khi chưa kịp tốt nghiệp.
Người Việt Nam nói về sinh viên Ngoại thương bằng đúng cái giọng người Nhật nói về sinh viên Hitotsubashi: nhanh nhẹn, ngoại ngữ giỏi, ra đời là làm được việc.
Và cũng giống nhau, cả hai đều từng phải nghe lời trêu nửa đùa nửa thật rằng đó là trường của người đi làm nghề giỏi hơn là người làm học thuật lớn. Điều đáng nói là Hitotsubashi chưa bao giờ cãi lại lời trêu ấy bằng lời; ngôi trường này trả lời bằng chính quãng đường mình đi.
Mà muốn xem người em có thể lớn đến đâu thì phải nhìn cho rõ tầm vóc của người anh.
Ở ngoài nước Nhật, Hitotsubashi ít người biết đến vì trường quá nhỏ; nhưng ở trong nước, đây là một trong những cánh cửa hẹp nhất của giáo dục đại học và là đại học quốc lập trọng điểm được chỉ định (Designated National University) duy nhất của Nhật chuyên về khoa học xã hội.
Chỉ trên dưới sáu nghìn sinh viên tính cả bậc sau đại học, vậy mà hết thế hệ này đến thế hệ khác tỏa ra nắm giữ các vị trí điều hành cao nhất của giới kinh doanh, đến mức người Nhật có câu cửa miệng: Todai đào tạo quan chức, còn Hitotsubashi đào tạo những thuyền trưởng của ngành (captains of industry), đúng như tôn chỉ mà ngôi trường tự nhận cho mình từ thuở khai sinh. Trường cũng là nơi khai sinh truyền thống lớp chuyên đề (zemi) của đại học Nhật: mỗi sinh viên thuộc về một nhóm nhỏ dăm bảy người quây quanh một giáo sư suốt mấy năm trời, học bằng đối thoại chứ không chỉ bằng giảng đường trăm chỗ.
Còn hội cựu sinh viên của trường thì mang tên Như Thủy hội (如水会, Josuikai), lấy chữ từ câu của Trang Tử: giao tình của người quân tử đạm như nước, giao tình của kẻ tiểu nhân ngọt như rượu. Đạm ở đây không phải là lạnh nhạt mà là thanh đạm, không màu mè, không vụ lợi; chính vì thanh đạm mà bền, còn ngọt vì lợi thì chóng tan. Một ngôi trường dạy buôn, nghề của những tính toán lợi ích, mà chọn nước thay vì rượu để đặt tên cho hội đồng môn thì đã nói đủ về cốt cách của mình.
Tầm vóc của Ngoại thương thì phải nói bằng thì tương lai, nhưng nền móng đã nằm sẵn ở thì hiện tại: hơn sáu mươi năm giữ một trong những ngưỡng đầu vào cao nhất của đại học Việt Nam, những thế hệ cựu sinh viên đang vận hành các ngân hàng, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các bàn đàm phán thương mại của một đất nước sống bằng ngoại thương, nơi kim ngạch hai chiều lớn gần gấp đôi tổng sản phẩm quốc nội.
Nếu Hitotsubashi là ngôi trường đã dạy nước Nhật cách buôn bán với thế giới rồi tự nâng mình thành nơi tư duy cho nước Nhật về nền kinh tế, thì tầm vóc mà Ngoại thương sẽ vươn tới, tôi tin, là phiên bản Việt Nam của đúng quỹ đạo ấy: từ ngôi trường dạy đất nước cách hội nhập trở thành ngôi trường suy nghĩ cùng đất nước về hội nhập, địa chỉ mà thế giới tìm đến khi muốn hiểu một quốc gia thương mại đang trỗi dậy nghĩ gì. Một nền kinh tế mở vào loại nhất thế giới xứng đáng có, rồi sẽ đòi hỏi phải có, một đại học tầm cỡ chuyên tư duy về thương mại và hội nhập. Chỗ ấy, không ai đứng thay được Ngoại thương.
Hitotsubashi đã đi trọn quỹ đạo ấy, nên đứng ở Kunitachi hôm nay cũng là nhìn thấy trước chặng sắp tới của trường mình. Từ lớp dạy buôn đến Đại học Thương mại Tokyo mất chừng nửa thế kỷ; từ Đại học Thương mại Tokyo đến ngôi trường có viện nghiên cứu hàng đầu quốc gia và một hiệu trưởng như Tsuru cần thêm một cuộc bại trận, một thế hệ học giả dám nghĩ lớn và vài quyết định thể chế đúng lúc: giữ trường gọn để giữ chất, nuôi viện nghiên cứu bằng sự kiên nhẫn, trọng người hơn trọng nhà.
Trong những cái giá ấy, Ngoại thương may mắn không phải trả cái giá thứ nhất; phần còn lại chỉ đòi hỏi sự kiên nhẫn và lòng tự trọng học thuật, hai đức tính vốn không xa lạ gì với một ngôi trường đã quen đòi hỏi ở sinh viên mình nhiều hơn mặt bằng chung. Kinh nghiệm Kunitachi nói rằng chặng đường ấy không đi bằng cách xây thêm nhà hay đếm thêm bài báo.
Xây nhà và đếm bài đều cần, nhưng ngồi dưới bóng cây Kunitachi một buổi chiều thì hiểu rằng chúng chưa bao giờ là phần khó nhất. Phần khó nhất, Schumpeter đã gọi tên từ gần một thế kỷ trước, trong chính giảng đường không sưởi giữa mùa đông năm 1931: đại học là một định chế chứ không phải những tòa nhà. Mà định chế thì không thể xây bằng gạch vữa, càng không thể xây bằng chỉ tiêu; định chế lớn lên chậm rãi từ những con người như Tsuru, người dám viết một câu trần trụi vào sách trắng quốc gia, dám cất lời cảnh báo ngược dòng giữa lúc cả nước đang say men tăng trưởng, dám nói thật trước một tiểu ban thượng viện đầy ác cảm và dám từ chối ghế bộ trưởng để được ở lại với trang sách.
Một đại học lớn, xét cho cùng, không phải là nơi có nhiều tòa nhà đẹp hay thứ hạng cao, mà là nơi mỗi thế hệ lại nuôi được vài con người như thế. Và tôi tin Ngoại thương rồi sẽ có Kunitachi của mình, bởi một ngôi trường đã dạy được cho bao thế hệ cách mang đất nước ra thế giới thì sớm muộn cũng sẽ có điều của riêng mình để dạy cho thế giới.
*
Tàu về lại trung tâm lúc đèn thành phố vừa lên. Qua cửa kính, Kunitachi lùi dần vào bóng chiều cùng những vòm cây trăm tuổi.
Tôi chợt nhớ Lênin, giữa lúc nước Nga tiểu nông ngổn ngang sau nội chiến, từng viết trong những trang bàn về chính sách kinh tế mới rằng muốn sang được bờ bên kia thì đừng mơ nhảy một bước qua sông, mà phải biết bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc, đi qua hàng loạt hình thức trung gian, quá độ.
Hóa ra những người nghĩ nghiêm túc nhất về các nền kinh tế đi sau đều gặp nhau ở một nhịp cầu: không ai lội tắt qua được con sông của sự phát triển, chỉ có thể kiên nhẫn bắc từng nhịp một.
Một nhịp cầu thì nhỏ, nhưng sông thì dài.
Và nghề của chúng tôi, may mắn thay, là nghề bắc cầu và giữ cầu.
Tokyo, ngày 3 tháng 7 năm 2026




Post a Comment