Journey in Life: 10/14/12

Sunday, October 14, 2012

Transform_Oct 14


In this twentieth century, to stop rushing around, to sit quietly on the grass, to switch off the world and come back to the earth, to allow the eye to see a willow, a bush, a cloud, a leaf, is an unforgettable experience.
- Frederick Franck

Assignment: Today, give yourself that unforgettable experience.

Frederick Franck (born April 12, 1909 in Maastricht, The Netherlands – died June 5, 2006 in Warwick, New York, U.S.) was a painter, sculptor, and author of more than 30 books on Buddhism and other subjects who was known for his interest in human spirituality. He was a native of The Netherlands and became a US citizen in 1945. He was a dental surgeon by trade, and worked with Dr. Albert Schweitzer in Africa from 1958-1961His sculptures are in the collections of the Museum of Modern Art, the Whitney Museum of American Art, the Fogg Art Museum, the Tokyo National Museum, and the Cathedral of St. John the DivineHis major creation, however, was a sculpture garden and park adjacent to his home in Warwick, New York, which he called Pacem in Terris, or "Peace on Earth."...

Người xưa cảnh tỉnh


Áp đặt chuyên chế mọi nơi mọi chỗ
Chẳng những vua quan chuyên chế, họ lại còn kéo cả kẻ làm cha kẻ làm chồng vào cái cạm độc ác ấy nữa. Ôi hủ nho! Cũng vì mấy câu tà thuyết của các người mà luân lý gia đình nước ta truỵ lạc đến thế này!

Cha mẹ coi con như của, muốn thế nào thì buộc con phải thế; không muốn đi xa, cũng không muốn cho con đi xa; luồn cúi cửa ông lớn này ông lớn nọ thì cũng bắt con như thế.

Ấy là tôi nói mấy nhà giàu, còn như nhà nghèo dạy con thì tát thì chửi thì đánh không biết rằng làm như thế là nuôi cho con một cái tính phục tùng nô lệ.

Khi còn ở trong gia đình thở cái không khí chuyên chế của gia đình, khi đến trường học thở cái không khí chuyên chế trong trường học, thì làm sao khi bước ra ngoài xã hội khỏi quen tính nô lệ chịu luồn cúi người?

Cái tính nô lệ của người mình ngày nay chính là mang từ trong gia đình chuyên chế ra vậy.

Phan Châu Trinh
Đạo đức và luân lý Đông Tây, 1925

Óc tồn cổ
Trong làng, hễ động mưu công cuộc gì thoát ra ngoài lề lối tục lệ trong làng người ta đều bị coi như những sự quái gở, những tội ác đáng phạt.

Khi óc tồn cổ tha hồ còn hoành hành thì bao nhiêu sáng kiến đều bị dìm dập.

Hoàng Đạo
Bùn lầy nước đọng, 1939

“Chó nhảy bàn độc” nghĩa là gì?

Độc giả: Thành ngữ "Chó nhảy bàn độc" có nghĩa là gì? Có người nói "bàn độc" là chiếc bàn một chân đặt trước bàn thờ trên đó có thức ăn để cúng quải. Con chó vốn ham ăn nên trong những ngày cúng giỗ, người ta thường xua đuổi vì sợ nó ăn hỗn. Vì vậy mà khi nhảy được lên bàn độc thì nó mặc sức làm mưa làm gió. Nếu đúng như thế thì chiếc bàn độc là nét đặc thù về phong tục tập quán của vùng nào?

An Chi: Chúng tôi không tin rằng bàn độc là cái bàn một chân (kê trước bàn thờ trên đó có đặt thức ăn để cúng kiếng). Theo chúng tôi, đây chỉ là lối giải thích bằng từ nguyên dân gian cho rằng độc là một, là duy nhất (nên mới suy ra rằng đó là cái bàn "một chân"). Xuất phát điểm của từ nguyên dân gian trong trường hợp này có thể là từ tổ độc trác có nghĩa là (ngồi ở bàn) ăn một mình, đối với đồng trác là (ngồi) ăn chung. Có thể người ta đã hiểu sai độc trác thành cái bàn một chân (độc: một; trác: bàn) rồi chuyển cái nghĩa bị hiểu sai này sang cho từ tổ danh từ bàn độc trong tiếng Việt chăng".

Nhưng Đại Nam quốc âm tự vi của Huình-Tịnh Paulus Của lại giảng rằng bàn độc là "ghế lễ lớn có bốn chân xếp, cũng là bàn dọn ăn". Vậy chữ độc ở đây không có nghĩa là một. Chẳng những thế, chính tả của nó cũng đã bị viết sai vì cách viết đúng phải là đọc. Chứng thực cho cách viết đúng này là các mục từ "bàn đạoc" (cột 22) và "bàn đọc" (cột 226) trong Từ điển An Nam - Bồ Đào Nha - La Tinh của A. de Rhodes mà tác giả đã giảng là bàn thờ hoặc nơi cầu nguyện. Quyển từ điển này đã phân biệt rõ ràng hai vần oc và ôc: chữ đọc được viết là đạoc (X. cột 22) hoặc đăọc (X cột 205-206) còn chữ độc thì được viết là đọuc (X cột 220). Vậy đây là bàn đọc chứ không phải "bàn độc" vẫn biết rằng đọc chẳng qua cũng chỉ là một biến thể ngữ âm của độc, có nghĩa là xướng lên thành tiếng thành lời những điều đã được viết sẵn, in sẵn.

Và bàn đọc chính là bàn tụng (hiện nay nhiều người vẫn còn dùng hai tiếng này), tức là cái bàn mà người ta đặt trước đầu quan tài, trên đó có bày hoa quả, trà rượu, lư hương, chân đèn... áp đầu quan tài có khung treo hình Phật, nơi nhà sư (hoặc thầy cúng) đặt lễ khí để gõ mõ tụng kinh mà cầu siêu cho người chết. Trong quá trình chuyển nghĩa của từ tổ đang xét, nghĩa gốc của nó lu mờ dần và mất đi. Bàn đọc đã được hiểu thành bàn cúng nói chung rồi với nghĩa này nó lại chuyển nghĩa thêm một lần nữa để chỉ cái bàn thờ (cái bàn cúng không nhất thiết là bàn thờ). Đây chính là nghĩa hiện hành được cho trong từ điển.

Vậy "chó nhảy (hoặc ngồi) bàn đọc" là chó nhảy (hoặc ngồi) bàn thờ. Thành ngữ này đã được Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ giảng như sau: "Vắng nhà hoặc cơn loạn-ly, trật-tự đảo-lộn, ai muốn làm chi thì làm". Chúng tôi thì lại cho rằng đây không phải là chuyện xảy ra khi chủ vắng nhà, cũng chẳng phải chuyện xảy ra trong cơn loạn ly. Đây, theo chúng tôi, là thảm cảnh dở khóc dở cười xảy ra trong cơn lũ lụt: không những người phải chạy lụt, mà chó cũng phải chạy... nên mới nhảy lên bàn thờ mà ngồi. Đây chẳng qua là một trường hợp hoàn toàn bất khả kháng và chẳng qua cũng chỉ là một kiểu thích nghi với hoàn cảnh mà thôi. Có điều là kiểu thích nghi này quá hỗn láo. Hiền hơn nhiều là kiểu thích nghi - cũng để chạy lụt - mà Nguyễn Đình Chiểu đã nói đến trong câu thứ 6 của bài thơ "Nước lụt": "Lổm xổm (hoặc lóc ngóc) giường cao thấy chó ngồi".

Còn trong câu thành ngữ đang xét thì người ta muốn điển hình hóa nên mới đem cái bàn đọc ra mà nói để tăng tính bi kịch cho hoàn cảnh. Ngày nay câu này không còn được hiểu theo nghĩa gốc của nó nữa nên mới được dùng để ám chỉ những kẻ tài hèn sức mọn mà lại có địa vị cao sang (X. chẳng hạn: Nguyễn Lân, Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Hà Nội, 1989, tr.57 hoặc Nguyễn Như ý (chủ biên), Từ điển thành ngữ Việt Nam, Hà Nội, 1993, tr. 148).

Kỹ năng giao tiếp

Viện Carnegie phát hiện thấy việc đào tạo kỹ thuật hay trí thông minh chỉ quyết định 15% khả năng thành công trong công việc hay quản lý, còn 85% còn lại phụ thuộc vào những yếu tố tính cách hay quan hệ thành công với mọi người. Một nghiên cứu của Đại học Harvard cũng phát hiện thấy rằng cứ có một người mất việc vì không đủ năng lực thì có đến hai người mất việc vì quan hệ không suôn sẻ với mọi người. P. 101

Đừng bao giờ chỉ trích người khác hoặc than thở về những vấn đề của bạn. Mọi người chỉ muốn nói về hai điều mà thôi: bản thân họ và những vấn đề của họ. Nếu bạn lắng nghe mọi người nói về vấn đề của họ, họ sẽ nghĩ rằng bạn là người khôn ngoan và biết cảm thông. Hãy nhớ rằng: cảm giác của những người khác về bạn thường bị ảnh hưởng bởi cách mà bạn khiến họ cảm giác như thế nào đối với chính bản thân họ. Nếu bạn có thể khiến cho người khác có những cảm giác tốt lành, bạn sẽ có nhiều cơ may trở thành một người rất đáng yêu trong mắt họ. P. 105

Một nghiên cứu khác ước tính có đến 93% tác động từ thông điệp của bạn phụ thuộc vào những yếu tố không bằng lời nói. Những yếu tố này bao gồm sắc mặt, chuyển động của cơ thể, giọng nói và sự ngăn cách không gian giữa các cá thể. P. 108

Đồng tử mắt là một trong những bộ phận nhạy cảm và phức tạp nhất trong cơ thể của chúng ta. Đồng tử phản ứng với ánh sáng nhưng đồng thời cũng phản ứng với những tình cảm của chúng ta và để lộ rất nhiều cảm xúc khác nhau. Khi một người có cảm xúc bị khuấy động, muốn quan tâm hoặc muốn đón nhận, đồng tử của người đó giãn rộng. Sở dĩ đồng tử giãn ra bởi vì mắt muốn tiếp nhận thêm ánh sáng và thêm thông tin. Trong giao tiếp, việc có thể thấy được đồng tử của nhau quan trọng đến mức mà chúng ta thường tỏ ra ngờ vực người nào đeo kính râm. Dù có ý thức hay trong tiềm thức, chúng ta đều cho rằng đeo kính là để che giấu đôi mắt của mình vì sợ rằng ánh mắt sẽ để lộ sự thật. P. 110

Sự đụng chạm có thể khiến cho người được chạm vào có thái độ tích cực. Đụng chạm bao hàm cảm giác gần gũi, yêu mến, tương đồng, thư giãn và thân mật. Trong một nghiên cứu khoa học, những người quản lý thư viện thực hiện một trong hai điều sau đây khi họ đưa thẻ thư viện cho những sinh viên đại học trả sách: hoặc là họ không hề chạm vào sinh viên khi đưa thẻ, hoặc là họ chạm nhẹ khi đặt tay lên lòng bàn tay của sinh viên. Mọi kết quả đều cho thấy những sinh viên được đụng chạm có đánh giá tốt hơn về dịch vụ của thư viện so với những sinh viên không đụng chạm. Khi bồi bàn hỏi khách hàng về chất lượng phục vụ, nếu họ chạm vào cánh tay của khách hàng, họ dễ nhận được tiền boa và được khen ngời hơn là những bồi bàn không làm như vậy. Những bồi bàn hấp dẫn nếu chạm vào khách hàng thường nhận được những khoản tiền boa cao nhất. Sự đụng chạm cũng khiến cho khách hàng nán lại lâu hơn khi đi mua sắm ở một cửa hàng. Một nghiên cứu cho thấy nếu nhân viên bán hàng biết cách đụng chạm vào cơ thể khách hàng, khách hàng sẽ mua nhiều sản phẩm và nhận xét tốt hơn về cửa hàng.

Trong một ví dụ khác, người ta phát hiện thấy sự đụng chạm làm tăng số người tình nguyện viết bài, ký vào đơn thỉnh nguyện và trả lại tiền bị bỏ quên tại phòng điện thoại công cộng. Ông Jacob Hornik, Giáo sư trường đại học Syracuse, phát hiện rằng nếu đụng chạm vào cánh tay của khách hàng tại các hiệu sách, họ sẽ ở lại cửa hiệu lâu hơn (chính xác là 22,11 phút so với 13,56 phút), mua nhiều sách hơn (15,03 đôla so với 12,23 đôla) và đánh giá tốt hơn về cửa hiệu so với những khách hàng không có tiếp xúc gì với nhân viên. Hornik cũng phát hiện thấy rằng tại các siêu thị, những khách hàng được đụng chạm thường nếm thử và mua nhiều thức ăn hơn. P. 115
Maximum Influence

Sự nhất quán về tâm lý
Miếng mồi và cái công tắc
Bước một chân qua cửa
Sự hấp dẫn: Hiệu ứng hào quang
Sự tương đồng (thân quen)
Kỹ năng giao tiếp
Sức ép xã hội (Quy tắc Công nhận Xã hội)
Quy tắc khan hiếm
Ngôn từ - Đòn bẩy của ngôn ngữ
Tương phản để bổ sung
Kỳ vọng
Lôi cuốn đánh thức trí tò mò
Khen ngợi giải phóng tiềm năng
Tiêm chủng để phòng thủ

"Knight in shining armour" nghĩa là gì?

Vận động viên đua xe người Anh Sir Chris Hoy kỉ niệm giành huy chương vàng tại Thế vận hội London 2012. Ảnh: Sergey Ponomarev

Cụm từ 'A knight in shining armour' (hiệp sĩ trong bộ giáp sáng ngời) theo truyền thống là một người đàn ông giúp đỡ một người phụ nữ trong cơn hoạn nạn (in distress). Ngày nay nó cũng được dùng để miêu tả bất cứ ai thực hiện một hành động tử tế để giúp đỡ một người nào đó trong một tình huống khó khăn.

Ví dụ
David came to help me when my car broke down - he's my knight in shining armour.
Thank you for bringing me that coffee - you're my knight in shining armour!
I just cannot get this computer to work. I need a knight in shining armour to come and fix it for me.

Xin lưu ý
Từ 'knight' nói đến một người lính mặc áo giáp kim loại trên lưng ngựa. Nó có cách phát âm giống như từ 'night', có nghĩa là đêm (ngược lại với ngày).

During the dead of night, a knight rode into the castle to rescue the princess.

Thực tế thú vị:
Sir Chris Hoy đã trở thành vận động viên Olympic người Anh thành công nhất mọi thời đại trong tuần này, sau khi giành huy chương vàng ở môn đua xe đạp Keirin. Ông đã giành được 6 huy chương vàng Olympic trong suốt sự nghiệp của mình và đã được phong tước hiệp sĩ năm 2009 cho những cống hiến trong sự nghiệp thể thao.