Journey in Life: 12/27/12

Thursday, December 27, 2012

Các bà nội trợ hãy tránh mệt mỏi để được trẻ mãi

Phương pháp để giúp cho những người thắc mắc, lo lắng và cực chí có cơ hội thổ lộ tâm tình đã được áp dụng trong lớp Thần kinh học thực hành tại bệnh viện Boston:

1. Đừng bới móc tính xấu của người

Lẽ cố nhiên, chồng bà chẳng phải là người hoàn hảo. Nếu ông ta là một ông thánh, thì chắc chắn đã chẳng cưới bà. Phải không, quý bà? Một trong những bệnh nhân theo lớp nói trên, một người đàn bà bản tính bất mãn, nét mặt cau có, giật mình khi nghe thấy người ta hỏi: "Nói dại chẳng may chồng bà qua đời trong ngày hôm nay, bà sẽ làm gì?" Bà ta hoảng hồn và ngay hôm đó thiết lập bản thống kê những đức tính của đức lang quân. Trớ trêu hơn nữa là bản thống kê này lại rất dài. Tại sao bạn lại không bắt chước bà ấy?... Có thể bạn sẽ tự nhủ rằng "Chồng mình thế mà khá đáo để."

2. Hãy săn sóc đến người láng giềng

Hãy tỏ ra thành thật yêu quý những người sống quanh ta. Có bà kia, tính nóng như lửa, cau có như người có bệnh và làm phách vô song, nên chẳng có lấy một người bạn. Viên giám đốc lớp học khuyên bà tưởng tượng chuyện đời của người đầu tiên bà gặp khi ra về. Ngồi trên xe điện, bà ta bắt đầu tưởng tượng thêu dệt trong óc những khung cảnh về đời tư của một vài hành khách cùng đi chuyến xe với bà. Bà cố tưởng tượng những thống khổ trong đời tư của những người đó. Rồi tự nhiên, bà lân la trò chuyện với người nọ người kia, với anh đồ tể, người bán hàng tạp hóa, viên cảnh binh đứng đầu phố. Đến nay bà vui vẻ, hăng hái, duyên dáng và mất hết những sự bực dọc xưa.

3. Trước khi đi ngủ, hãy lập chương trình làm việc hôm sau

Người ta nhận thấy trong số những người theo học lớp này, có nhiều bà nội trợ mải săn sóc việc nhà đến nỗi trông bơ phờ mệt mỏi. Các bà thấy chẳng bao giờ hết việc cả và lúc nào cũng lo lắng chạy thi với kim đồng hồ. Đối với những bà ấy, người ta khuyên mỗi tối nên thảo một chương trình cho ngày mai. Kết quả là đến nay, các bà làm được nhiều việc hơn mà lại ít mệt hơn. Các bà cảm thấy khoan khoái nhẹ nhàng. Hơn nữa, lại có thì giờ để nghỉ ngơi và dạo phố. (Phụ nữ nào cũng vậy, phải thu xếp sao cho mỗi ngày có được vài phút để thoa ít phấn.)

4. Sau cùng nên tránh mệt nhọc và bực dọc

Bạn nên nghỉ ngơi. Không làm gì cho bạn chóng già bằng sự bực tức và sự mệt nhọc. Nó sẽ chôn vùi cái sắc đẹp kiều diễm của bạn.

Tiện nhất là muốn nghỉ lúc nào cũng được, tùy ý, và có thể nằm nghỉ ngay trên sàn nhà. Một sàn gỗ cứng còn làm khoan khoái hơn là đệm có lò xo. Quả vậy, sàn cứng làm cho xương sống bớt mỏi.

Đây là một vài phương pháp thực hành có thể áp dụng ở nhà. Bạn hãy thử nghiệm trong một tuần, sẽ thấy tâm thần nhẹ nhàng và sắc đẹp tươi tắn như thế nào.

1) Khi thấy mệt, nên nằm sấp xuống sàn và cố vươn người ra cho thật dài. Lăn người từ chân tường này đến chân tường kia càng hay. Làm như vậy hai lần mỗi ngày.

2) Nhắm mắt lại, nhẩm thầm: "Mặt trời sáng trong, vạn vật tươi thắm, dịu dàng, ta cũng hòa theo nhịp sống thần tiên của vũ trụ."

3) Nếu chưa thể nằm nghỉ vì nồi cơm chưa chín hay canh chưa sôi, bạn có thể chọn một chiếc ghế tựa lưng bằng gỗ và thẳng. Bạn hãy ngồi thẳng tắp trên ghế như một pho tượng Ai Cập hai bàn tay úp xuống hai đùi.

4) Kế đó, từ từ duỗi thẳng những ngón chân, rồi để cho chũng dãn gân ra. Sau, duỗi bắp chân, rồi tuần tự đến những bắp thịt khác trong thân thể. Đoạn để cho đầu tự nhiên gập xuống, quay đi quay lại ít lần, như một quả bóng.

5) Trấn tĩnh tâm thần bằng cách hít và thở nhiều không khí, thong thả và đều đều.

6) Nên nghĩ đến những nét nhăn trên mặt của bạn và tìm cách làm cho chúng tiêu đi. Hãy làm cho những đường nhăn trên trán hay ở góc miệng dãn ra mỗi ngày hai lần. Cứ như thế, các bạn chẳng cần phải đến mỹ viện để người ta thoa bóp mặt nữa. Và biết đâu, vì bạn thấy trong người thư thái trở lại, những nét nhăn ấy chẳng biến mất lúc nào không hay?
P 302 - How to stop worrying and start living

Mười bài học của Einstein về cuộc sống

























enjoythemasti

"Come to the rescue" nghĩa là gì?


Nếu một người nào đó 'comes to the rescue' thì có nghĩa là họ đột nhiên xuất hiện và cứu, giúp ai đó (khỏi nguy hiểm). Cụm từ này cũng thường được dùng nói tới những tình huống xấu hơn là những trường hợp thực sự hiểm nghèo.

Ví dụ
I left my passport at home and only realised on my way to the airport. Fortunately my friend came to the rescue and drove to the airport with it.
She locked herself out of the house. Her neighbour came to the rescue with a spare set of keys.

Xin lưu ý
Xin đừng nhầm với a rescue party - một nhóm cứu trợ, những người đi giúp ai đó, những người ở trong tình huống nguy hiểm hay đi tìm người mất tích.

The rescue party reached the stranded mountaineer after he spent five days lost on the peak.

Thực tế thú vị:
Niagara Falls - Thác Niagara - gồm ba thác nước và ở nằm ngay trên đường biên giới giữa Canada và Hoa Kỳ. Thác nước lớn nhất là Horseshoe Fall nằm bên phía Canada. Hai thác kia mang tên American Falls và Bridal Veil Falls. Gộp lại cả ba thác nước này có tốc độ dòng chảy cao nhất thế giới.

Transform_Dec 27


Our language has wisely sensed the two sides of being alone. It has created the word "loneliness" to express the pain of being alone. And it has created the word "solitude" to express the glory of being alone.
- Paul Tillich

Assignment: Today, be for a while in the glory of solitude.

Paul Johannes Tillich (August 20, 1886 – October 22, 1965) was a German-American Christian existentialist philosopher and theologian. Tillich is widely regarded as one of the most influential theologians of the 20th century. Among the general public, he is best known for his works The Courage to Be (1952) and Dynamics of Faith (1957), which introduced issues of theology and modern culture to a general readership. Theologically, he is best known for his major three-volume work Systematic Theology (1951–63), in which he developed his "method of correlation", an approach of exploring the symbols of Christian revelation as answers to the problems of human existence raised by contemporary existential philosophical analysis...

Cái chết của Socrates

Nguyễn Đình Đăng
(tổng hợp và dịch)



Jacques-Louis David

Cái chết của Socrates (1787)
sơn dầu, 129.5 x 196.2 cm, Metropolitan Museum of Art, New York

Đó là tên bức hoạ do danh hoạ Pháp thuộc trường phái Tân Cổ điển (Neoclassicism) Jacques-Louis David vẽ năm 1787, tức 2 năm trước khi nổ ra Cách mạng Pháp 1789.

Bức tranh mô tả những phút cuối cùng của triết gia vĩ đại Cổ Hy Lạp Socrates (469 – 399 tr. CN) – một trong những người đặt nền móng cho toàn bộ triết học phương Tây. Socrates bị buộc tội reo rắc nghi ngờ các thần linh mà chính thể Athens thời đó tôn thờ, kêu gọi nhân dân tôn thờ các thần linh ngoại lai, và làm hư hỏng thanh thiếu niên. Ông bị tòa án Athens kết án tử hình bằng cách phải tự uống thuốc độc chết.

Trong bức tranh Socrates vừa nói vừa giơ tay trái chỉ lên trời như khẳng định sự trung thành với các lý tưởng của mình (*), trong khi đưa tay phải với lấy chén thuốc độc như dửng dưng trước cái chết. Đám môn đệ và nô lệ vây quanh ông đều than khóc thương tiếc, chỉ trừ có hai môn đệ là Plato – mặc áo choàng trắng ngồi cúi đầu ở cuối giường, và Crito – mặc áo choàng nâu, đặt tay lên đùi trái của Socrates, là còn tự chủ. Bằng tương phản giữa ánh sáng và bóng tối, giữa cử chỉ mạnh mẽ của Socrates và sự mềm yếu tinh thần của đám người vây quanh, David đã nâng tác phẩm từ nội dung tử vì đạo lên thành sự ca tụng phẩm chất cao thượng và sự bình tĩnh khi giáp mặt cái chết.

Trong bối cảnh ý đồ cải cách thuế của các Bộ trưởng Tài chính không được Hội đồng Nhân sĩ ủng hộ, và sau đó Hội đồng Nhân sĩ bị vua Louis XIV giải thể, David đã đưa một thông điệp khá rõ trong bức tranh như muốn khiển trách đa số nhu nhược. Trong đêm trước cuộc cách mạng Pháp, bức hoạ của David còn có tác dụng đánh thức tinh thần trách nhiệm, bổn phận với quốc gia, chống lại một chính thể bất công.

Thomas Jefferson – tác giả của Tuyên ngôn độc lập (1776) và tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ (1801 – 1809) – đã có mặt tại buổi ra mắt bức tranh này tại Salon và đã hết sức ngưỡng mộ bức hoạ. Còn danh hoạ Anh Sir Joshua Reynolds đã so sánh bức họa này với bức bích hoạ khổng lồ Sistine của Michelangelo và Stanze của Raphael. Reynolds đã nhiều lần tới Salon để ngắm đi ngắm lại, và sau khi ngắm tới lần thứ 10 ông tuyên bố đây là bức hoạ "hoàn hảo về mọi phương diện".


Michelangelo

Sự sáng tạo ra Adam
trích đoạn từ bích họa Sistine (1508 – 1512), Vatican


Raphael

Trường phái Athens (1510 – 1511)
500 x 770 cm, bích họa, Vatican
Tại tòa án Athens năm 399 tr. CN, thay vì chọn luật sư bào chữa, Socrates đã tự biện hộ. Lời tự biện (Apology) của Socrates đã được các môn đệ của ông là Plato và Xenophon ghi lại. Bản của Plato được coi là chi tiết và đầy đủ nhất. Dưới đây là bản tác giả Nguyễn Đình Đăng  dịch vài đoạn hay nhất từ lời tự biện của Socrates theo Plato.


John Collier (1850 – 1934)

Bà đồng Pythia tại đền thờ Apollo ở Delphi


Socrates

Bảo tàng Louvre

2) Sau khi bị toà tuyên án tử hình, Socrates nói:
Chúng ta hãy tư duy theo một cách khác để thấy thật có lý hy vọng rằng chết là tốt, bởi một trong hai lý do sau đây – hoặc chết là trạng thái của hư vô và hoàn toàn mất hết ý thức, hoặc, như người ta thường nói, chết là sự thay đổi và di trú của linh hồn từ thế giới này tới một thế giới khác. Bây giờ nếu các vị cho rằng đó là mất hết ý thức, nhưng nếu chỉ là một giấc ngủ không bị đến cả các giấc mơ quấy nhiễu, thì chết sẽ là một cái lợi không thể tả được. 

Bởi nếu một người phải chọn ra cái đêm mà giấc ngủ của mình không bị đến cả mộng mị quấy nhiễu và đem nó so sánh với những ngày và đêm khác trong cuộc đời mình, và sau đó phải nói cho chúng ta biết có bao nhiêu ngày và đêm trong đời của anh ta tốt hơn cái đêm không mộng mị đó, thì tôi cho rằng, bất kỳ người nào, ngay cả bậc đế vương vĩ đại cũng không tìm ra nhiều ngày và đêm như vậy, chứ chưa nói một người bình thường. Nếu bản chất của chết là như thế, thì tôi cho rằng chết là được lợi bởi sự vĩnh hằng chỉ còn là một đêm duy nhất. 

Nhưng nếu chết là cuộc du hành tới một nơi khác, nơi cư ngụ của tất cả những người đã chết, như người ta vẫn nói, thì thưa các thân hữu và quý toà, hỏi còn cái tốt nào hơn thế? Nếu thực sự khi người du hành tới thế giới bên kia, anh ta được giải thoát khỏi các vị giáo sư luật của thế giới này, và tìm được các thẩm phán đích thực được cho là đang phán xét tại thế giới bên kia, như Minos và Rhadamanthus, Aeacus và Triptolemus, và các người con khác của Thượng Đế, những người từng rất công minh lúc sinh thời, thì cuộc du hành đó thật đáng làm. Có gì mà người ta không cho, khi có thể nói chuyện với Orpheus, Musaeus, Hesiod và Homer? 

Ha, nếu đúng như thế, thì hãy cho tôi chết rồi lại chết nữa. Tôi cũng sẽ được lợi và hứng thú cực kỳ nếu ở đó được gặp và nói chuyện với Palamedes, và Ajax con trai của Telamon, cùng bất kỳ người anh hùng nào của thời cổ đại phải chịu chết vì bị phán xử bất công; và tôi cho rằng sẽ rất sướng khi được so sánh những nỗi đau khổ của mình với những nối đau của họ. Nhưng trên hết, tôi sẽ có thể tiếp tục của truy tìm các hiểu biết đúng và sai; cũng như trong cuộc đời này, ở cả thế giới bên kia cũng vậy, tôi sẽ tìm ra ai thông tuệ, ai không thông tuệ nhưng lại tỏ vẻ thông tuệ. Thưa quý tòa, có gì mà người ta không cho, để có thể sát hạch thủ lĩnh cuộc chinh chiến Trojan, hoặc Odysseus hoặc Sisyphus hoặc vô số các nam nữ khác! Thật là một niềm sung sướng vô hạn khi được thảo luận với họ và đặt nhiều câu hỏi cho họ! Ở thế giới bên kia người ta không bắt một người phải chết chỉ vì nêu các câu hỏi, chắc chắn là không. Bởi lẽ, ngoài được hạnh phúc hơn chúng ta, họ là bất tử, nếu những gì người ta nói là đúng.

Vậy nên, hỡi quý toà, hãy vui về cái chết, và hãy hiểu cho rõ rằng, không có gì xấu có thể xảy ra với một người lương thiện, kể cả trong cuộc sống cũng như sau khi chết. Thượng Đế không bỏ qua người đó và sự nghiệp của y, cũng như cái kết thúc đang cận kề của tôi không phải vô cớ mà đã xảy ra. Nhưng tôi thấy rõ đã tới lúc tôi nên chết và thoát khỏi phiền toái thì hơn; vậy nên bà đồng đã không phản ứng gì. Vì thế tôi cũng không oán giận những người đã kết án tôi, những người đã buộc tội tôi; họ chẳng làm gì hại tôi cả mặc dù họ chẳng hề có ý làm điều tốt cho tôi; và vì thế tôi có thể nhẹ nhàng khiển trách họ.

3) Trong đoạn cuối cùng Socrates nói về các con của ông như sau:
Hỡi các thân hữu của tôi, khi các con tôi trưởng thành, tôi muốn yêu cầu các bạn trừng phạt chúng và sách nhiễu chúng, như tôi đã từng sách nhiễu các bạn, nếu như chúng tỏ ra chăm lo tới sự giàu sang hay bất cứ thứ gì hơn là chăm lo đức hạnh; hoặc nếu chúng tỏ vẻ là cái gì đó trong khi chúng thực sự không ra gì cả, thì hãy quở trách chúng như tôi đã từng quở trách các bạn vì đã không chăm lo tới điều đáng ra mình phải chăm lo, và cho rằng mình là một cái gì đó trong khi mình thực sự chẳng là cái gì cả. Nếu các bạn làm như vậy thì cả tôi và các con tôi sẽ nhận được công lý từ tay các bạn.

Đã tới giờ lên đường, và chúng ta đường ai người đó đi – tôi chết, còn quý vị sống. Đường nào tốt hơn thì chỉ có Thượng Đế mới biết.
3/12/2012

Chú giải:
(*) David mượn chi tiết này từ hình tượng Plato trong bích hoạ "Trường phái Athens" của Raphael, trong đó hai nhân vật trung tâm là Plato (trái) đại diện cho triết học duy tâm, tay chỉ lên trời, và Aristotle (phải) đại diện cho triết học duy vật, lòng bàn tay đưa ra phía trước úp xuống phía mặt đất:


Plato (trái) và Aristotle (phải)

trong bích hoạ "Trường phái Athens" của Raphael
Đến lượt Raphael cũng mượn chi tiết ngón tay chỉ trời từ tông đồ Thomas trong "Bữa tối cuối cùng" (1495 – 1498) của Leonardo Da Vinci. (Còn Plato chính là chân dung Leonardo.) Trong bức bích họa này, thánh Thomas là người bên trái trong cụm 3 tông đồ ngồi ngay bên trái Jesus:


Leonardo Da Vinci

Bữa tối cuối cùng (1495 – 1498)
Tu viện Santa Maria delle Grazie, Milan


Thánh Thomas chỉ tay lên trời

Trích đoạn từ "Bữa tối cuối cùng" của Leonardo Da Vinci

Đọc thêm bài gốc ở đây, để biết rõ thêm về giải thích của Socrates    về các hoạt động của mình.