Journey in Life: 09/25/13

Wednesday, September 25, 2013

Khi Vương quốc Anh thử kết án các nhà kinh tế vì tội 'gây hoang mang dư luận'

William Beveridge, Hiệu trưởng trường London School of Economics, đã tổ chức một phiên tòa giả luận tội các nhà kinh tế vào tháng Sáu năm 1933. Nguồn: Getty Images.

Giáo sư Philip Scranton mới có bài ở Bloomberg, kể về việc tháng Sáu năm 1933, William Beveridge, Hiệu trưởng trường London School of Economics, đã tổ chức một phiên tòa giả luận tội các nhà kinh tế để giúp ích cho Quỹ Y tế của Vua Edward (King Edward's Hospital Fund).

Với tình trạng thế giới sa lầy trong cuộc Đại Khủng hoảng, các thủ tục tố tụng (proceedings) nửa nghiêm trang nửa hoạt kê (seriocomic) đã làm sáng tỏ (illuminate) sự lo lắng cực kì dữ dội và sâu sắc của công chúng đối với vai trò của các nhà kinh tế trong việc định hình chính sách của chính phủ.

Tạp chí The Economist viết: 'Chưa có bao giờ như vào lúc này khi các chuyên gia kinh tế thường xuyên được hỏi lời khuyên nhưng lại hiếm khi được áp dụng như vậy'.

Bốn học giả nổi tiếng, bao gồm cả Beveridge, bị buộc tội 'âm mưu gây hoang mang dư luận' (spreading mental fog). Bộ trưởng Nông nghiệp Walter Elliot chủ tọa, và Robert Boothby, thành viên Quốc hội, chỉ huy việc truy tố.

Trong khi ba người trong số họ không nhận là có tội, Beveridge thay vào đó đã đưa một tờ ghi chú tới quan tòa nói rằng ông đã 'lơ đãng để lại giọng nói của mình ở đâu đó trong tòa nhà, có lẽ là trong thư viện'. Khi đã 'lấy lại' giọng, ông nói, ông 'không có tội, nhưng không tội lỗi như những người khác'.

Công tố viên trình bày lập luận của mình:
Vụ án tôi phải đưa ra trước các bạn ngày hôm nay không phải là một vụ án bình thường. ... Những bị cáo trước mặt các bạn không phải là người bình thường, họ là các nhà kinh tế. ... Và như Walter Bagehot nói từ lâu, 'Không ai thực sự cảm thấy hối tiếc khi một nhà kinh tế chết'.

Lời buộc tội tôi trình bày trước các bạn ngày hôm nay đó là một nỗ lực nguy hiểm có chủ ý được phối hợp đồng bộ để phá hoại chính phủ chúng ta bằng cách làm hoang mang, chỉ trích (fustigate) và nghiền nhão (reduce to pulp) bộ óc các nhà lãnh đạo đất nước. Boothby truy tố các nhà kinh tế vì tội họ rất 'khó hiểu'. Tệ hơn nữa, ông nói, các nhà kinh tế đã tỏ ra là sai, mâu thuẫn với nhau và thay đổi lập luận của họ. Ông đặc biệt tấn công 'băng đảng tự gọi là J.M. Keynes' vì những ý kiến trái ngược của họ, mà ông cho rằng đã gần như làm cho Bộ trưởng Nông nghiệp phát điên.

John Maynard Keynes, nhà kinh tế nổi bật nhất của nước Anh, cũng "nổi tiếng" vì (hay) thay đổi ý kiến của mình khi hoàn cảnh thay đổi. Các nhà kinh tế trong những năm 1930 không đồng ý với nhau và, cũng như Keynes, không đồng ý với cả chính họ về các nguyên nhân và biện pháp khắc phục, cuộc Đại Khủng hoảng.

Một bị cáo yêu cầu cần định nghĩa từ 'âm mưu'.

Boothby nói: 'Âm mưu' có nghĩa là đồng ý làm bất cứ điều gì mà Chính phủ có thể không thích.

Bị cáo: 'Ông đã từng biết bất kỳ hai nhà kinh tế nào đồng ý bất cứ điều gì - cho dù chính phủ có thích hay không, chưa?'

Boothby: 'Tôi thề, chưa bao giờ!'

Bị cáo: 'Vì vậy, tôi tự bào chữa rằng bản cáo trạng là tồi và vụ án nên bị hủy bỏ'.

Boothby: 'Mỗi nhà kinh tế bản thân đã là một âm mưu hoặc tồi tệ hơn. Thường là tồi tệ hơn rất nhiều'.

Sau nhiều hành động ngớ ngẩn (tomfoolery) ngẫu hứng (improvised), Beveridge gọi 10 sinh viên mặc áo như những người làm chứng. Các sinh viên này trả lời câu hỏi, 'đầu óc em giờ ra sao?' bằng một bài hát:

Though I listen to lectures from morning to night, (dù tôi nghe giảng từ sáng đến tối)
My mind remains perfectly clear (đầu óc tôi vẫn hoàn toàn minh mẫn)
Of theories wrong and theories right, (về các học thuyết đúng và sai)
Of medians and weights (về trung vị và tỷ trọng)
And the function of States, (về vai trò của Nhà nước)
Of the law of Sea-carriage,
And Triobrand marriage,
Of returns that decrease, (về lợi tức giảm dần)
And trade routes to Greece-- (và con đường thương mại tới Hy Lạp)
And just when and how democracy died. (và đó là khi nền dân chủ đã chết như thế nào)
Yes -- my mind remains perfectly clear (và, đầu óc tôi vẫn hoàn toàn minh mẫn)
For whatever I hear (vì những gì tôi nghe)
Comes in at this ear (vào tai này)
And goes out on the opposite side. (lại ra tai khác)

Thẩm phán kết luận rằng phần biện hộ của luật sư bào chữa (defense's case) là không đúng sự thật và việc khởi tố là không cần thiết. Các nhà kinh tế sau đó lại tiếp tục ủng hộ thương mại tự do và (cũng vẫn) bị phớt lờ bởi Quốc hội.

Sơn Phạm
Bloomberg


"Cook someone’s goose" nghĩa là gì?

Photo courtesy Jason Samson.

'Cook someone’s goose' có một từ mới là goose nghĩa là con ngỗng. Người Mỹ dùng thành ngữ này khi muốn nói phá hoại một người nào, hay làm hỏng kế hoạch của người đó.

Ví dụ
Brad’s girlfriend should have told him that she was out with another guy last weekend. When he found out (biết được chuyện này), he was more than jealous (ghen tuông). He was furious (hết sức tức giận). Not only did he break up (đoạn tuyệt) with her, but he also sent an e-mail to all of their friends about what she’d done. That cooked her goose. Her reputation (danh tiếng) was ruined.

Our plane is leaving in an hour. And here we are stuck in (bị mắc kẹt) some of the worst traffic we’ve ever seen. If we don’t make that flight, we’ll miss our connection (lỡ chuyến nối tiếp). Then our goose will be cooked (chương trình của chúng tôi bị hỏng hết)! We won’t get to the port in time to board (lên tàu) our cruise (du lịch). Our vacation plans will be ruined (tiêu tùng).

Huyền Trang
VOA