Journey in Life: 06/17/14

Tuesday, June 17, 2014

Vì sao tàu cao tốc Nhật Bản tốt như vậy?

Vẫn còn 3 cái ô, sân ga tàu cao tốc Shinkansen tại Kyoto, Nhật Bản, 9h20 sáng 6/8/2009.

Nhiều nước dường như rất sốt sắng phát triển đường sắt cao tốc. Ngày 4 tháng Sáu, trong bài phát biểu của Nữ hoàng tại phiên khai mạc Nghị viện Anh năm 2014-2015, Chính phủ Anh khẳng định quyết tâm xây dựng tuyến đường cao tốc HS2 gây tranh cãi. Nước Pháp cũng đang dần mở rộng các tuyến đường sắt cao tốc của mình (TGV), trong khi các nước khác như Tây Ban Nha và Trung Hoa đang nhanh chóng mở rộng mạng lưới đường sắt với những con tàu hiện đại (whizzy). Tàu cao tốc “viên đạn” (“bullet” train) của Nhật Bản thường được xem như một hình mẫu bởi những người ủng hộ phát triển đường sắt (rail booster) và các chính phủ, những người mong muốn xây được hệ thống đường sắt mới toanh (shiny) của chính họ. Vậy Nhật Bản đã trở thành nước dẫn đầu thế giới về tàu cao tốc như nào?

Những con tàu là biểu tượng của sự hiện đại ở Nhật Bản. Trong suốt cuộc cải cách Minh Trị vào cuối thế kỉ 19, khi Nhật Bản hiện đại hóa với tốc độ chóng mặt (break-neck), công nghệ cao thời bấy giờ là những đầu máy xe lửa (locomotive). Theo chuyên gia đường sắt Christian Wolmar, trước năm 1930, tuyến đường sắt chính đầu tiên nối Tokyo với các thành phố như Nagoya, Kyoto, Osaka và Kobe đã rất đông đúc. Tuyến đường sắt cao tốc đầu tiên Shinkansen (tân cán tuyến) đã giảm 2 giờ đồng hồ thời gian di chuyển giữa Tokyo và Osaka (từ 6 tiếng xuống còn 4 tiếng) khi tuyến đường này được khánh thành năm 1964. Điều này khiến cho việc đi tàu rất cạnh tranh so với đường hàng không, ngành mà Nhật Bản đã phải chủ động hạn chế (eschew) sau Chiến tranh Thế giới thứ II để ngăn ngừa nỗi lo ngại về việc tái vũ trang (rearmament). Địa lý cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của hệ thống đường sắt: hầu hết dân số 128 triệu người của Nhật Bản tập trung ở một số vùng dân cư đông đúc trên toàn quốc. Bằng cách kết nối những vùng dân cư này – khoảng 40 triệu người sống ở Tokyo và các tỉnh lân cận (Greater Tokyo) với 20 triệu người sống ở các thành phố Osaka, Kobe và Kyoto – đường sắt góp phần làm thay đổi lề lối làm việc vì người ta có thể đi lại giữa Tokyo và Osaka nội trong ngày. Nhiều người sử dụng đường sắt là những người giàu có và sẵn sàng trả giá cao cho vé một chuyến tàu cao tốc. Ngành đường sắt đã chuyên chở hơn 100 triệu hành khách trong vòng 3 năm và hơn một tỷ hành khách tính tới năm 1976. Ngày nay có khoảng 143 triệu người đi lại bằng đường sắt hằng năm.

Vào năm 1987, ngành đường sắt quốc gia Nhật Bản thực hiện chia tách và tư nhân hóa thành 7 công ty kinh doanh. Công ty Đường Sắt Đông Nhật Bản (JR East) là công ty có số hành khách đông nhất. Công ty này không cần bất kỳ sự hỗ trợ trực tiếp nào từ chính phủ Nhật Bản, không như công ty TGV ở Pháp được chính phủ nước này trợ cấp rất nhiều. Một trong những nguyên nhân của sự hiệu quả này là công ty JR East sở hữu tất cả cơ sở hạ tầng dọc trục đường sắt – các nhà ga, toa xe và đầu kéo (rolling stock) và cả đường ray – nghĩa là cần ít hơn các nhóm quản lý và không lặp lại công việc của nhau. (Ngược lại so với Anh, quyền sở hữu các đường ray và tàu lại tách biệt). Tuy nhiên, ngành đường sắt ở Nhật Bản phát triển còn do hệ thống quy hoạch khuyến khích việc phát triển các dịch vụ thương mại và nhà ở dọc theo các tuyến đường sắt. Công ty JR East sở hữu các khu đất xung quanh các tuyến đường sắt và đã tận dụng lợi thế này; gần 1/3 doanh thu của công ty này xuất phát từ các trung tâm mua sắm, các cao ốc văn phòng, căn hộ và những thứ tương tự như vậy. Số tiền này được tái đầu tư vào hệ thống. Tại Anh, nơi quy hoạch và vận tải hiếm khi được làm đúng, thật khó để tạo ra một sự phát triển thành công về thương mại. Thực tế, hầu hết các kế hoạch cho khu vực xung quanh các nhà ga của tuyến đường HS2 còn chưa rõ ràng và một vài trạm dừng dọc tuyến đường HS1 vẫn chưa được phát triển hoàn thiện dù tuyến đường này xây dựng xong đã nhiều năm.

Khả năng xây dựng các khu vực phát triển rộng lớn dọc tuyến đường sắt cao tốc là một sự hỗ trợ tốt cho ngành đường sắt cao tốc Nhật và cho phép áp đặt mức giá vé cao. (Koichi Tanaka, nhà khoa học được giải Nobel năm 2002 nói ông sẽ dùng tiền thưởng để mua một vé tàu tuyến Shinkasen, khiến mọi người cười ồ). Mặc dù vậy, 71% doanh thu bán vé của công ty JR East lại tới từ các chuyến tàu truyền thống với tốc độ chậm hơn. Các quốc gia đang sốt sắng xây dựng những tuyến đường sắt cao tốc mới có lẽ nên cân nhắc việc đầu tư vào hệ thống đường sắt hiện có của mình.

Tuấn Minh
The Economist

Shinkansen – Niềm tự hào của châu Á trong ngành công nghiệp đường sắt thế giới (Phần III)

Vì sao có quá nhiều quân phục ngụy trang trong quân lực Mỹ đến vậy?

Snow patrol. Photo courtesy The U.S. Army.

Quân phục chiến đấu của Quân đội Mỹ sẽ sớm có mẫu ngụy trang (camouflage) mới. Trang tin về quân sự Military.com gần đây đăng tin quân đội sẽ mặc một loại họa tiết gọi là Scorpion (Bọ cạp) đã có trong biên chế từ năm 2002. Điều này chấm dứt giai đoạn dài sử dụng mẫu ngụy trang ‘toàn năng’ tốn kém (universal camouflage pattern – UCP) vốn được thiết kế để phù hợp ở bất kỳ địa hình nào nhưng lại bị chính các binh sĩ phàn nàn là chẳng phù hợp bất kỳ đâu. Mẫu ngụy trang lỗi này khiến quân đội mất tới hàng triệu đôla để chế tạo và ít nhất 5 tỉ đôla để áp dụng cho quân phục và trang thiết bị. Thay thế tất cả số đó có thể tốn thêm 4 tỉ đôla nữa trong vòng năm năm theo tính toán của Văn phòng Kiểm toán Chính phủ Liên bang Mỹ (Government Accountability Office – GAO). Vì sao quân đội lại ‘ném tiền xuống sông’ cho các mẫu ngụy trang như vậy?

Trước năm 2002, gần như tất cả quân nhân Mỹ chỉ có hai lựa chọn họa tiết ngụy trang: màu xanh và màu be (beige-ish). Nhưng chi phí quốc phòng vốn rất hào phóng đã tăng phi mã sau vụ tấn công 11 tháng Chín năm 2001 khiến hàng loạt dự án đắt đỏ được bung ra. Giờ đây, mỗi đơn vị tác chiến trong lực lượng vũ trang đều có ít nhất một họa tiết ngụy trang, thậm chí còn hơn. Nhiều năm liền cải tiến (one-upsmanship) quân phục ngụy trang đã tiêu tốn của Bộ Quốc phòng hơn 12 triệu đôla tiền nghiên cứu và phát triển cùng vài tỉ đôla tiền ứng dụng cho quân phục và trang thiết bị. “Khách quan mà nói mọi người mặc cùng một loại quân phục sẽ tốt hơn,” Timothy O’Neill – trung tá (lieutenant-colonel) về hưu, chuyên gia về ngụy trang nhận xét. “Nhưng lính thủy đánh bộ (marine) thì không muốn mình trông giống bộ binh (army), bộ binh cũng không muốn trông giống lính thủy đánh bộ và chẳng ai muốn mình trông giống hải quân (navy) cả”. Riêng việc quản lý dự trữ và cung cấp đủ loại quân phục như thế đã tốn của quân đội nhiều triệu đôla. Tệ hơn thế, con số này còn chưa bao gồm thiệt hại rất lớn của việc trang bị cho toàn lực lượng một mẫu ngụy trang kém hiệu quả khi quân đội chọn UCP vào năm 2004.

Không ai giải thích được vì sao mẫu ngụy trang vô dụng này lại được chọn. UCP chưa bao giờ lọt vào vòng cuối trong những cuộc thử nghiệm kéo dài nhiều năm, vì thế nhiều người đoán rằng một quan chức cấp cao đã chọn nó vào giờ chót vì hình thức hào nhoáng. Nhưng cánh lính chiến nhận ra sai lầm này ngay lập tức và nhanh chóng phàn nàn về việc quân phục biến họ thành mục tiêu. Quân đội trang bị cho binh lính ở Afghanistan một loại ngụy trang tốt hơn gọi là MultiCam vào năm 2010 (chi hơn 38,8 triệu đôla để thay thế trang bị trong năm 2010 và 2011), và bắt đầu các thử nghiệm tốn kém cho một họa tiết mới. Nhưng những lời phàn nàn của binh lính đã cảnh báo Quốc hội về vấn đề sai lầm trong quy trình lựa chọn quân phục. GAO xác nhận có những nghi vấn trong năm 2012 với một bản báo cáo gây chấn động. Quốc hội đã chỉ đạo Bộ Quốc phòng phải hạn chế chi tiêu cho quân phục, Đạo luật Cấp phép Quốc phòng (Defence Authorisation Act) năm 2014 khiến không đơn vị nào có thể giới thiệu một loại quân phục mới trừ khi nó được chuẩn thuận bởi mọi người. Nhưng đạo luật này cũng không thể ngăn một đơn vị đưa vào sử dụng (dust off) một họa tiết cũ như quân đội rõ ràng đang có kế hoạch sử dụng lại Bọ cạp, vốn được phát triển lần đầu từ năm 2002.

Lựa chọn này đặt dấu chấm hết cho cuộc tìm kiếm một họa tiết tốt hơn kéo dài nhiều năm và tiêu tốn nhiều triệu đôla. Nhưng ngay từ lúc này đã có những nghi ngờ rằng quân đội đang phạm phải một sai lầm khác. Cả Bọ cạp và MultiCam đều được chế tạo bởi Crye Precision, một nhà sản xuất ở Brooklyn, trong khi nhiều người đã tin rằng quân đội sẽ tiếp tục sử dụng MultiCam vì nó có kết quả thử nghiệm tốt và đã chứng minh được hiệu quả ở Afghanistan. Nhưng các cuộc thương lượng với Crye Precision để tăng cường hợp tác đã đổ vỡ vì lí do chi phí đầu năm nay. (Tuy quân đội đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, nhà sản xuất mới là người sở hữu bản quyền trí tuệ của họa tiết ngụy trang). Bọ cạp không có kết quả thử nghiệm tốt bằng nhưng giấy phép của nó được cho là rẻ hơn. Điều đáng nói là Bộ Quốc phòng không có một bộ phận phụ trách phát triển và cung cấp những loại quân phục tốt nhất có thể cho tất cả binh lính Mỹ. Đó là lý do người lính trên chiến trường thường được phục trang khác nhau mà chẳng biết chắc loại nào giúp họ ngụy trang (blend in) tốt nhất.

Đăng Duy
The Economist

"Turn the page" nghĩa là gì?

Digital books are becoming popular but for some nothing beats the feel of paper. Photo courtesy Antho_ooony.

'To turn the page' nghĩa là thoát khỏi một tình huống khó khăn và chuyển sang giai đoạn mới trong cuộc đời. Cụm từ này thường được dùng trong tiếng Anh Mỹ (cuộc đời sang trang).

Ví dụ
Joan cried a lot during her divorce. When it was over, she decided to turn the page and start partying again.
The president told the nation the war was over and asked them to turn the page and work for the reconstruction of the country.

Xin lưu ý
Xin đừng nhầm với cụm từ 'to be on the same page' có nghĩa là nghĩ giống nhau.

The team leader organised a meeting as soon as he started in the new post. He wanted to make sure everybody was on the same page.

Thực tế thú vị:
Theo trang web guinnessworldrecords.com, cuốn sách lớn nhất có kích cỡ 5m x 8,06m, nặng khoảng 1.500kg và có 429 trang. Cuốn sách này được công bố bởi Mshahed International Group tại Dubai, UAE, vào ngày 27 Tháng Hai năm 2012.

BBC

Vì sao thế giới luôn nể suy nghĩ và nhân cách của người Nhật

-----
Nhân chuyện hôm qua đi Vĩnh Phúc từ thị xã Hà nội gặp 1 chiếc Innova di chuyển cùng chiều phía trước mặt bình tĩnh kéo cửa kính xuống ném 1 chiếc vỏ hộp sữa Vinamilk/THE true milk ra ngoài rồi bình tĩnh kéo cửa kính lên.

Nhân chuyện cách đây một thời gian đi xe khách cao cấp từ thị xã Hà Nội - Hải Phòng, nhà xe phát túi nôn cho khách xong dặn, nôn xong thì nhớ vứt ra ngoài.

Nhân chuyện sáng hôm trước đi làm gặp 1 cặp vợ chồng chở nhau đi làm, chị vợ ngồi sau ung dung vừa ăn lạc luộc và dải vỏ lạc dài suốt quãng đường.

Nhân chuyện hưởng ứng giờ Trái đất để tụ tập nhau lại để... xả rác.

Nhân chuyện tối qua đưa 2G đi ăn kem mà đắng lòng gặp cảnh vợ đứng trông xe cho chồng cầm chim đái tháo vỉa hè ở công viên Bách Thảo.

Nhân chuyện bị 1 anh bận đồ vét là căng đét cả cành đòi đánh vì chửi anh í nhổ nước bọt văng có mấy tia nước thơm vào mặt.

Nói chung là cứ đến trưa kiểu gì cũng đói.
-----
Kết thúc trận đấu:
- Toàn bộ đội tuyển cúi đầu xin lỗi người hâm mộ trên khán đài khi để thua đáng tiếc.
- Các cổ động viên nán lại dọn sạch rác trên khán đài (khu vực CĐV Nhật ngồi).
Đó là lý do vì sao, thế giới luôn nể suy nghĩ và nhân cách của người Nhật.



This is Japan! Everything will be returned

Tác giả: Spartacus (blog Phalanxist)
11/6/2014
-----
Tượng Nữ thần Tự do ở Odaiba, Nhật Bản, 3h42 chiều 4/9/2009.

Cuối năm rồi, tôi có chuyến công tác đến Nhật. Đoàn gồm 01 “advisor” người Nhật đang làm việc tại văn phòng Việt Nam và 04 “manager” người Việt bao gồm cả tôi. Theo lịch trình, nhóm sẽ bay từ Sài Gòn đến Tokyo và sau đó di chuyển qua nhiều địa phương xuống phía Nam – những nơi mà Công ty chúng ta đặt nhà máy.

Lệ thường, theo văn hóa kinh doanh theo kiểu Nhật, khi đi thăm lẫn nhau, chúng tôi thường mang theo những món quà nhỏ đặc trưng của địa phương để tặng đồng nghiệp. Cả nhóm quyết định mang theo cà phê Trung Nguyên để tặng các đồng nghiệp Nhật Bản. Đến Tokyo, cả nhóm lên tàu điện từ sân bay Haneda để về khách sạn ở khu trung tâm Tokyo. Hệ thống tàu điện ở Nhật xứng danh là một trong những biểu tượng của đất nước Nhật Bản.

Xuống tàu ở Tokyo Station về đến khách sạn thì cả nhóm mới sực nhớ là để quên túi quà đựng cà phê mang theo từ Sài Gòn ở trên tàu điện. Đang rầu rĩ thì anh đồng nghiệp người Nhật – Ikawa-san nói: “Do not worry! This is Japan! Everything will be back!”. Bạn có biết mỗi ngày có bao nhiêu lượt người Nhật sử dụng tàu điện không? Hàng triệu, hàng nhiều triệu người sử dụng phương tiện giao thông này mỗi ngày. Mình không tin rằng cái túi nhỏ đấy của bọn mình có cơ hội “be back” như lời Ikawa-san nói.

Nói là làm, anh Ikawa lập tức gọi điện thoại đến J.R (công ty đường sắt Nhật Bản): “Moshi!Moshi! Chúng tôi đón tàu điện từ Haneda về Tokyo, chuyến tàu số….bla…bla…bla”.
Ừ.,thì là.,nghe vậy thôi chứ chúng tôi chả hy vọng gì mấy.

Sau đó, tranh thủ thời gian rỗi ngày Chủ nhật, tôi và mấy anh trong đoàn đi thăm một số nơi. Cuối giờ chiều, chúng tôi trở về khách sạn. Tắm rửa xong chuẩn bị đi ăn tối thì có điện thoại.

Ah.,điện thoại từ JR.
Họ thông báo rằng: “Chúng tôi đã tìm thấy túi cà phê của các bạn. Hiện chúng tôi đang giữ ở trạm Yokohama. Xin lỗi nhưng chúng tôi không có đủ người để có thể mang đến khách sạn cho các bạn. Các bạn vui lòng đến trạm Yokohama để nhận lại nhé. Thật sự làm phiền các bạn.

Sumimasen., sumimasen., sumimasen., domo sumimasen…”

“THIS IS JAPAN! EVERYTHING WILL BE RETURNED”.

Ikawa-san vừa cười vui vẻ vừa nhắc lại.
Và chúng tôi lặp lại lời của anh: “This is Japan! This is really Japan!”.

Hai tháng sau. Ikawa-san bị móc ví ngay tại trung tâm thành phố Sài Gòn.
Chúng tôi không thể làm gì cho anh.

Xin lỗi Ikawa-san!
Thành thật xin lỗi anh!
Và xin lỗi nước Nhật.
Chúng tôi không có gì để có thể chứng minh với các bạn.
————————————
Sài Gòn, 10/06/2014

*Note:
-Nhân đọc bài viết: “Người Nhật thật sự đánh giá thế nào về người Việt Nam?”
-Người Nhật chẳng đánh giá, chẳng nhận xét, chẳng quan tâm gì đến người Việt Nam đâu. Người Nhật có nhiều mối bận tâm của người Nhật và trong các mối bận tâm đó không có khoảng trống nào dành cho Việt Nam ngoại trừ ngài Thủ tướng Abe-san và một vài doanh nghiệp đang có quan hệ làm ăn với Việt Nam. Nhưng ngài Thủ tướng Abe-san và một vài doanh nghiệp không phải là nước Nhật. Mà nếu có quan tâm thì họ sẽ đặt lên bàn cân: được gì, mất gì. Không có bữa ăn trưa nào miễn phí. Người Nhật rất kiệm lời và không có thói quen nhận xét về người khác. Họ thuộc về một “level” cao hơn và khác hẳn với người Việt. Đừng tưởng tượng ra việc mình quan trọng và người khác thật sự đang nghĩ gì về mình. Chúng ta không xứng đáng để được thế giới quan tâm đến như vậy đâu. Và thế giới có nhiều chuyện để làm hơn là việc “đánh giá thế nào về người Việt Nam”.

Người Việt trong con mắt người Nhật

shared from FB Awake Phamtt
Shrimp Cracker's (ebi senbei) Factory. Photo courtesy Emran Kassim.

Một kỹ sư Nhật Bản khi về nước đã không ngại ngần nói với người công nhân Việt Nam: 'Người Việt các anh sẽ muôn đời khổ. Đấy là vì các anh chỉ biết nghĩ đến những cái lợi lộc nhỏ của cá nhân mà không biết nghĩ đến cái lợi lớn của chung'. Rồi viên kỹ sư minh hoạ: 'Một cái vít chúng tôi phải mang từ Nhật Bản sang giá 40.000đ mà rơi xuống đất thì công nhân Việt Nam các anh thản nhiên dẫm lên hoặc đá lăn đi mất vì nó ko phải của các anh. Nhưng các anh đánh rơi điếu thuốc lá đang hút dở giá 1.000đ thì các anh sẵn sàng nhặt lên và hút tiếp cho dù nó bị bẩn chỉ vì nó là của các anh. Hay như cuộn cáp điện chúng tôi nhập về giá 5tr/m, nhưng các anh cắt trộm bán được có vài trăm nghìn/m. Tất cả những việc làm đó mang lại chút lợi lộc cho các anh nhưng gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp vì chúng tôi phải nhập bổ sung hoc nhập thừa so với cần thiết'.

Còn lái xe của viên kỹ sư đó thì được nghe ông ấy tặng quà có giá trị và được nghe ông ấy “tâm sự” như sau: 'Tôi rất cảm ơn anh lái xe an toàn cho tôi suốt 5 năm qua. Vì anh là người bảo đảm mạng sống của tôi nên anh làm gì tôi cũng chiều nhưng anh đừng tưởng anh làm gì sai mà tôi không biết. Anh đưa đón tôi ra sân bay quãng đường chỉ hơn 30km anh khai là hơn 100km tôi cũng ký, anh khai tăng việc mua xăng, thay dầu tôi cũng ký là vì tôi cần anh vui vẻ lái xe để tôi được an toàn. Nhưng anh và các công nhân Việt Nam đừng tưởng là các anh vặt được người Nhật. Các anh nên biết rằng lẽ ra chúng tôi có thể trả lương cao hơn hoặc tăng lương nhiều hơn cho các anh. Nhưng đáng phải tăng lương cho các anh 500.000 thì chúng tôi chỉ tăng 200.000. Còn 300.000 chúng tôi phải giữ lại để chi trả bù đắp cho những trò vụn vặt hay phá hoại của các anh. Cuối cùng là tự các anh hại các anh thôi. Còn chúng tôi cũng chỉ là lấy của người Việt cho người Việt chứ chúng tôi không mất gì cả'.


Peace cannot be kept by force


the same also be true with inner peace.

Previous post: Why do people suffer?