Journey in Life: 01/23/15

Friday, January 23, 2015

Kín miệng


thấy ảnh này, hay, nhớ lại lời bạn mềnh:
giờ, không phải là "thắng không kiêu, bại không nản"
mà là... "thắng không ai biết, bại không ai hay", he he :D

"Be (like) chalk and cheese" nghĩa là gì?

Dùng tạm iPhone 6+ vì Samsung Galaxy Note 4 bị hỏng. Photo courtesy Noodles and Beef.

'Be (like) chalk and cheese' có từ chalk là phấn và cheese là pho mát -> như phấn và pho mát, nghĩa là (hai người/vật) hoàn toàn khác nhau.

Ví dụ
I don't have anything in common with my brother. We're like chalk and cheese.
What is the first thing that comes to your mind when you think of sports and mathematics? Most likely, chalk and cheese, right?

"When I was Leader of the Opposition, the first regional city I came to was the city of Cairns and it is chalk and cheese about where Cairns was four years ago and where it is today. "That's because of a strong team who are about the economy and jobs."

The solution, Sinha said, is to tweak compounds (hợp chất) and create a substitute (chất thay thế) that is structurally (cấu trúc) as distinct (khác biệt) from morphine as chalk and cheese but at the same time clings to the specific brain receptors (cơ quan nhận cảm) for effective non-addictive pain therapy.

...This is a bit of a chalk and cheese affair. It’s long been established that while Samsung and much of the Android smartphone space loves to cram the latest multi-core processors (usually Qualcomm) into devices, Apple takes a very different approach. The iPhone giant sticks to its guns with its own processor hardware, the most recent of which is the A8 chip, and these haven’t yet strayed outside dual-core territory with relatively low clock speeds (1.4GHz).

Khuấy lên màn sương mù

Harry Truman - 33rd President. Photo courtesy edwarddallas.

Nếu bạn không thể thuyết phục họ thì hãy làm cho họ phải lưỡng lự.
~ Harry Truman

Bài trước: Kim cương và nước

Kim cương và nước

Adam Smith.* Photo courtesy Duncan.

Không có gì hữu ích bằng nước; nhưng nó hầu như chẳng thể dùng để mua được gì; và gần như thứ gì cũng có thể dùng để mua nó. Ngược lại, kim cương có rất ít giá trị sử dụng; nhưng để đổi được nó thì phải có một số lượng rất lớn các hàng hóa khác.
~ Adam Smith - Của cải của các dân tộc, 1776

Bài trước: Chuẩn bị sẵn sàng

* Statue of the Scottish economist on the Royal Mile, Edinburgh. Smith wrote 'The Wealth of Nations' back in the 18th century, but the bronze statue, by Alexander Stoddart, has only been here since 2008.

Chuẩn bị sẵn sàng

Abraham Lincoln Memorial. Photo courtesy Gage Skidmore.

Khi tôi chuẩn bị để sẵn sàng đấu lý với một người, tôi thường bỏ ra một phần ba thời gian để nghĩ về bản thân và những gì tôi định nói, với hai phần ba thời gian còn lại là nghĩ về người kia và những gì anh ta định nói.
~ Abraham Lincoln


Tạo ra sự phức tạp

Những sơ đồ định giá phức tạp tạo ra một màn sương làm lu mờ đi giá trị thực chất. Trên quan điểm của người bán, điều này đôi khi là có lợi. Hệ thống giải trí của Nintendo ban đầu được bán ra với giá chỉ 100 USD. Mức giá đó thoạt nhìn thì rất rẻ. Tuy nhiên, các phụ huynh dần nhận thấy rằng một khi họ đã bỏ một đồng vào đó, họ sẽ phải bỏ tiếp 10 đồng nữa. Mua chiếc máy mới chỉ là sự bắt đầu. Sau đó sẽ là các băng trò chơi. Trung bình mỗi gia đình mua từ 8 đến 9 băng trò chơi cho mỗi chiếc máy, với giá từ 50-60 USD một băng. Chi phí cho cả vòng đời chiếc máy là vào khoảng 550 USD. Nếu như các phụ huynh biết được số tiền này ngay từ đầu, có lẽ họ đã tìm cách ngăn cản con cái khi chúng đòi mua máy của Nintendo.

Microsoft Window 95 lúc đầu được bán với giá 85 USD. Đây có phải là một món hời thực không? Đúng như vậy, tuy nhiên không quá rẻ như người ta tưởng. Chẳng mấy chốc mọi người nhận ra rằng có những chi phí ngầm đi kèm theo đó. Để có thể chạy được Window 95, họ phải mua thêm bộ nhớ (360 USD), ổ đĩa cứng lớn hơn (200 USD) và bộ vi xử lý mạnh hơn (300 USD). Ngoài ra còn chi phí mua phần mềm chưa kể đến. Tổng cộng 90% chi phí ở đây đã bị "giấu nhẹm".

Thông thường người mua sẽ cảm thấy rất bất bình nếu người bán tăng giá khi họ thấy nhu cầu khó đáp ứng. Đó là lý do tại sao đôi khi người bán tìm cách giấu đi việc tăng giá trong một màn sương mù. Trong các thị trấn có trường học thường hay xảy ra tình trạng thiếu phòng khách sạn vào dịp cuối tuần. Thay vì tăng giá, một số khách sạn chỉ bán trọn gói phòng nghỉ 4 ngày. Các phụ huynh đến thị trấn thăm con để xem chúng học hành ra sao có thể chỉ cần phòng khách sạn cho  một đêm nhưng họ lại phải mua thêm ba đêm nữa. Tác động ròng không khác gì so với việc tăng giá phòng thêm 300 USD nhưng rõ ràng là các phụ huynh đã không nghĩ theo cách như vậy, có lẽ bởi vì dù sao họ cũng có quyền lựa chọn ở lại thêm vài đêm nữa. Ở Geneva, những người tham gia hội nghị Telecom 95 cũng thấy chuyện tương tự diễn ra theo một thái cực mới. Để đáp lại hàng loạt các yêu cầu thuê phòng, khách sạn Noah nằm ở một vị trí lý tưởng, đưa ra mức giá tương đối hợp lý cho các phòng là 350 USD một đêm. Tuy nhiên, điều kiện là phải thuê tối thiểu 40 ngày. Thật là không thể tin được! Một chuyên gia về thương lượng kể lại: "Tôi đã cố gắng thương lượng và giảm được số ngày tối thiểu xuống chỉ còn 26 ngày." Không phải là kém, nhưng thực tế hội nghị chỉ kéo dài có 10 ngày.

Bạn có thể hình dung rằng các khách sạn thực ra không tung quá nhiều hỏa mù với chiến thuật này. Sau hết thì đó cũng chỉ là tăng giá trong một số tình huống hãn hữu. Mặc dù vậy, dù chỉ chút ít sương khói cũng tốt hơn nhiều là để không như vậy cho người khác nhìn xuyên thấu tất cả. Sau sự tàn phá của cơn bão Andrew năm 1992, Georgia-Pacific đã tăng giá những thứ đồ tàng của mình ở Florida. Georgia-Pacific rõ ràng là đã kiếm lợi từ bất hạnh của những người khác. Kết quả là công ty rơi vào một cơn bão do chính họ tạo ra. Có những lời chỉ trích rất mạnh từ phía người dân và thậm chí có cả một cuộc điều tra được tiến hành bởi Văn phòng Luật sư Florida. Đáng lẽ Georgia-Pacific chỉ nên tăng giá chút ít và để đổi lại, tìm cách có được hợp đồng dài hạn với khách hàng, kiểu như tôi sẽ bán cho anh vào lúc khan hiếm nếu như anh đồng ý mua của tôi lúc dư thừa. Như vậy, có lẽ sự lợi dụng để kiếm lời sẽ đỡ trắng trợn hơn.

Các cách định giá phức tạp khiến những người mua rất khó đi khảo giá. Đây không chỉ là vấn đề của người mua mà còn của những đối thủ mới đang muốn nhảy vào thị trường. Nếu như người mua không thể phân biệt các giá được gộp vào như thế nào thì làm sao họ có cơ sở để đổi sang mua của người khác? Bởi vì họ không thể, cho nên trong hầu hết các trường hợp, họ cũng không làm như vậy.

... Nhìn chung, các cách thức định giá phức tạp thường nhằm che đậy các mức giá cao. Nhưng cũng đôi khi, người bán làm cho mọi việc trở nên phức tạp hơn nhằm mục đích che giấu cả mức giá thấp chứ không phải chỉ mức giá cao. Họ sẵn sàng bán sản phẩm của mình với giá rất thấp, nhưng họ giấu điều đó để tránh tạo ra một cảm nhận về chất lượng thấp. Cho đến gần đây, phần mềm trình bày Powerpoint của Microsoft vẫn chỉ chiếm vị trí thứ hai, đứng cách xa so với phần mềm Harvard Graphics. Thậm chí sau khi Microsoft cải thiện sản phẩm của mình đến mức vượt trội đối thủ cạnh tranh, mọi người vẫn lần lữa trong việc chuyển sang sử dụng nó. Để thúc đẩy việc bán hàng, Microsoft có thể thử giám giá phần mềm Powerpoint, nhưng mọi người có thể sẽ không tin rằng một phần mềm được giảm giá lại tốt hơn phần mềm Harvard Graphics có giá 290 USD. Do vậy, Microsoft duy trì giá công bố cho Powerpoint ở mức cao, 339 USD, nhưng đưa phần mềm này cùng với các phần mềm khác thông dụng hơn là Word và Excel vào trong bộ phần mềm dành cho văn phòng Office của mình. Khi các khách hàng nghĩ rằng họ có được phần mềm với giá 339 USD như một phần thưởng khuyến mãi, họ đã rất háo hức dùng thử nó. Ngày nay, Powerpoint rõ ràng đang đóng vai trò số một trong các phần mềm trình bày (presentation).

P. 396-401 - Game Theory

Quan hệ kinh doanh giống như quan hệ hôn nhân?!

Nếu kinh doanh không phải là chiến tranh, cũng chẳng phải hòa bình, thì đó là gì? Câu trả lời là nó đồng thời là cả hai: vừa chiến tranh, vừa hòa bình. Nhưng một lần có một người tham gia trong một cuộc hội thảo do chúng tôi tổ chức đã trả lời: "Đó là một cuộc hôn nhân." Anh ta có lý của mình. Luôn luôn có các yếu tố cạnh tranh và hợp tác trong mỗi mối quan hệ, dù đó là quan hệ kinh doanh hay cá nhân. Các kinh nghiệm của chúng tôi ở lĩnh vực này giúp chúng tôi hiểu lĩnh vực kia rõ hơn. Trong mối quan hệ kinh doanh, cũng giống như quan hệ vợ chồng, có những suy nghĩ tốt nhất là không nên nói ra.

P. 388 - Game Theory

Luật Vận động chi phí sai lầm như thế nào?

Kể từ năm 1971, các thành viên Quốc hội đã nhận thấy rằng họ có thể tiết kiệm thời gian huy động tài chính nếu họ tìm ra cách giảm bớt chi phí cho vận động tranh cử. Mà mục đặc biệt tốn kém trong chiến dịch tranh cử chính là truyền hình trực tiếp. Do vậy, Quốc hội đã thông qua Luật Vận động chi phí lấy của các ứng cử viên ra tranh cử bằng với mức thấp nhất mà họ lấy của các công ty thương mại. Các chính trị gia đã tự bỏ phiếu để giành được quy chế MFC cho chính mình trong viêc mua thời gian phát sóng.

Luật trên đã không gây được ảnh hưởng như mong đợi. Biết được điều đó nên trong các năm bầu cử, các chính trị gia mua rất nhiều thời lượng phát sóng và các đài truyền hình thì muốn thu được càng nhiều càng tốt từ các cuộc vận động tranh cử trực tiếp đó. Do vậy, khi gần đến kỳ bầu cử, đài truyền hình sẽ làm như thế nào nếu một công ty thương mại, chẳng hạn như Procter&Gamble đến để đàm phán về mức phí cho quảng cáo trên truyền hình? Đài truyền hình sẽ trở nên rất cứng rắn về giá cả. Nếu họ nhượng bộ về giá cho P&G, thậm chí chỉ là để lấp đầy phần thời lượng còn trống thì cũng là rất tốn kém, bởi vì bất kỳ một ưu đãi giá nào được trao cho P&G cũng kéo theo việc các chính trị gia khác sẽ được hưởng cùng mức ưu đãi đó cho các buổi truyền hình của mình. Khi đó, đài truyền hình sẽ thiệt hơn bởi vì mức giá chung cho các chính trị gia thấp đi không thể bù đắp bởi đủ một hợp đồng thêm vào của P&G. Kết quả là: P&G sẽ không nhận được bất kỳ ưu đãi nào về giá.

Một kết quả của luật này là các mạng truyền thông rốt cuộc đã kiếm được nhiều tiền hơn cả trước kia. Họ đã lợi dụng thực tế là các chính trị gia được hưởng quy chế MFC để từ chối không ưu đãi về giá cho tất cả các khách hàng khác. Còn đối với các khách hàng này - như P&G và các công ty khác - thì luật này chính là một loại thuế ngầm. Trên thực tế, các chính trị gia đã đánh thuế vào chính bản thân mình. Thậm chí ngay cả khi họ có được mức giá tốt nhất thì điều kiện về giá tốt nhất cũng đã dẫn đến kết quả là các mạng lưới truyền thông đánh phí cao hơn đối với tất cả những người khác. Như vậy, giá tốt nhất khi đó có thể còn cao hơn mức giá đáng lẽ họ sẽ phải trả nếu như không có điều khoản nói trên. Việc thông qua luật thực tế đã làm thiệt hại nhiều hơn cho chính các chính trị gia thông qua nó.

Đây không phải là lần duy nhất Quốc hội Mỹ đã tự bắn vào chân mình.

P. 291 - Game Theory

Chuyển hướng cạnh tranh

Nhà sử học Stephen Goddard kể về câu chuyện xe hơi đã thay thế các xe điện chạy trên đường ray như thế nào. Trong giai đoạn ban đầu của xe hơi, vào những năm 1920 và 1930, Detroit đã rất khó khăn khi muốn nhảy vào thị trường đô thị. Ở các vùng ngoại ô và nông thôn, xe con và xe bus đã chiếm ưu thế nhưng trong trung tâm thành phố thì xe điện chạy đường ray vẫn là một đối thủ cạnh tranh hiệu quả với xe hơi. Trước hết, đi xe điện rẻ hơn và rất tiện lợi. Hơn nữa, tàu điện thường đỗ ở những chỗ là đường của xe hơi và các đường ray của tàu điện thường nằm chính giữa đường xe hơi, do vậy cản trở hoạt động của xe hơi.

GM cùng với Firestone, Mack Trucks, Phillips Petroleum và Standard Oil đã quyết định phải giành được quyền kiểm soát. Họ quay sang đề nghị Roy Fitzgerald và bốn anh em khác của ông lập ra một công ty lấy tên là Range Rapid Transit Co. Nhiệm vụ của công ty này là đi khắp đất nước để mua lại quyền điều hành các tàu điện địa phương rồi đóng cửa chúng. Dĩ nhiên việc này được thực hiện một cách tế nhị hơn là nói ra. Ở một loạt các thành phố kể từ Montgomery, Alabama đến Los Angeles, anh em Fitzgerald đều mua lại các đại lý đặc quyền kinh doanh xe điện, gỡ các đường dây tải điện, bóc các đường ray, làm lại mặt đường và dồn đống các toa tàu điện. Fitzgerald thỏa thuận với các thành phố là họ sẽ thay thế các tàu điện bằng xe bus. Tất nhiên đây mới chỉ là bước trung gian để đưa người dân đến gần với xe hơi hơn mà thôi.

Mặc dù rất có hiệu quả nhưng chiến lược này là bất hợp pháp một cách nghiêm trọng. Đó là sự vi phạm trắng trợn điều khoản Sherman. Tòa án đã tuyên phạt GM và các công ty tòng phạm, mỗi công ty 5.000 USD. Còn Roy Fitzgerald bị phạt tượng trưng 1 USD.

P. 188 - Game Theory

Cạnh tranh trong cùng một mái nhà

Các công ty lớn tự cho phép mình xa xỉ bằng cách tạo ra các đối thủ cạnh tranh ngay bên dưới mái che của mình. P&G nổi tiếng vì đã khuyến khích các giám đốc sản phẩm riêng rẽ của mình cạnh tranh với nhau. Các nhãn hiệu dầu gội đầu Head&Shoulder, Pantene, Pert, Prell và Vidan Sassoon đều là các nhãn hiệu của P&G trên cùng một thị trường. Cũng như vậy đối với xà phòng giặt Tide và Bold, hay xà phòng bánh Ivory và Safeguard. Mỗi một nhãn hiệu đều được quản lý riêng rẽ như một doanh nghiệp riêng lẻ với các chương trình quảng cáo, định giá và chiến lược hoàn toàn độc lập. Chính cạnh tranh trong nội bộ giữa các nhãn hiệu đã khiến cho tất cả đều trở nên rất năng động.

P. 184 - Game Theory

Giá trị của liên minh

Đừng mua Bảo hiểm y tế mà thiếu chúng tôi. Tháng 5 năm 1995, American Express, IBM, ITT, Marriott, Merril Lynch, Nabisco, Pfizer và Sears cùng với hai công ty lớn khác không muốn nêu tên ở đây đã lập ra một liên minh mua hàng để mua sản phẩm bảo hiểm y tế cho nhân viên của mình. Kết quả cuối cùng là 600.000 nhân viên và các thành viên gia đình của họ đã cùng mua bảo hiểm y tế ở một nơi với tổng giá trị lên đến trên 1 tỷ USD.

American Express đã chứng tỏ rằng liên minh mua hàng là rất có lợi. Năm 1994, cùng với sự tham gia của Merril Lynch và Macy's, American Express đã thử nghiệm ý tưởng này tại California, Florida, Texas, New York City và Atlanta. Kết quả là họ đã giảm được 7% tổng chi phí để mua bảo hiểm. Ngược lại các công ty ngoài liên minh phải chịu mức bảo hiểm y tế còn tăng thêm 7%.

Tham gia vào liên minh mua hàng mang lại một lợi ích hiển nhiên từ quy mô. Những người bán bảo hiểm y tế hiểu rằng họ không thể cho phép mình đánh mất cơ hội lớn là làm việc với cả liên minh, do vậy họ rất năng nổ trong đấu giá.

Tuy nhiên, đó chưa phải đã hết. Còn có một nguồn sức mạnh thứ hai - thậm chí còn quan trọng hơn nữa. American Express và các đối tác trong liên minh đã thu hút được tới trên 100 nhà cung cấp tham gia vào trò chơi. Kết quả là không một nhà cung cấp nào có giá trị gia tăng đáng kể và điều này đặt liên minh vào một vị trí hết sức có lợi.

Con số trên 100 nhà cung cấp tham gia đấu giá là rất nhiều, nhiều hơn bất kỳ một thành viên riêng rẽ nào trong liên minh có thể thu hút. American Express có thể kéo được 5, thậm chí 10 nhà cung cấp bảo hiểm y tế - nhưng còn xa mới đến được 100. Quy mô của American Express không đủ để bù đắp lại chi phí và thời gian và những nỗ lực bỏ ra để tham gia đấu giá. Cơ hội để thắng đơn giản là quá nhỏ. Nhưng để giành được 1 tỷ USD từ hợp đồng với liên minh thì một cơ hội rất nhỏ cũng đã là quá đủ. Đó chính là lý do cả trăm công ty đều thấy đáng để tham gia vào trò chơi này.

Ngay cả khi American Express có thể thu hút được hàng trăm công ty tham gia đấu giá cho mình, họ cũng không thể đánh giá được một cách công bằng tất cả các chào giá đơn giản bởi vì việc này quá tốn kém. Còn liên minh thì có thể cùng chia sẻ chi phí để đánh giá cả trăm bộ hồ sơ khác nhau. Vòng lựa chọn cuối cùng sẽ là vòng hết sức tổng hợp. Một ban giám khảo sẽ phỏng vấn tất cả các đại diện trên các kế hoạch được trình lên về các thủ tục trong những trường hợp khó giải quyết trong y tế. Mỗi ứng viên phải cung cấp 25 sơ đồ về thủ tục cho các trường hợp phức tạp, chẳng hạn như nhập viện lại với cùng tình trạng hay chết đột ngột.

P. 169 - Game Theory

Bạn có thật sự được uống bia miễn phí?

Tổ chức một cuộc vui cũng không khác lắm so với bắt đầu xây dựng một mạng liên lạc. Không ai muốn đến một quán đêm vắng khách, do vậy các quán này thường bắt đầu bằng việc cho vào cửa miễn phí và thậm chí đồ uống miễn phí vào đầu buổi chiều để khởi động và thu hút khách mới. Các quán đêm trả tiền cho một số người chơi để đổi lại những người còn lại sẽ trả tiền cho họ.

Các báo và tạp chí cũng thường bao cấp cho một số khách hàng của mình. Đó là vì họ có hai loại khách hàng: người đọc và những người quảng cáo. Số người đọc càng lớn thì các nhà quảng cáo càng sẵn lòng trả cao hơn. Để khuyến khích tăng ấn bản báo chí, các nhà xuất bản thường bán chúng với giá thấp hơn cả chi phí sản xuất. Doanh thu tăng từ hoạt động quảng cáo thừa đủ để bù đắp cho chi phí bao cấp người đọc. Nhiều nhà xuất bản thậm chí sẵn sàng phát không các tờ báo của mình hoặc cho họ thêm tiền, miễn sao họ có đọc tờ báo đó. Vấn đề là ở chỗ nếu giá xuống quá thấp thì việc đặt báo không chứng tỏ bất cứ sự ham thích hay quan tâm nào và những người quảng cáo lo ngại rằng các ấn phẩm sẽ bị vứt đi mà không được đọc đến.

P. 165 - Game Theory

Bài trước: Ngọt ngào cay đắng

Ngọt ngào cay đắng

Aspartame là một loại chất ngọt đậm đặc ít calo, nó nổi tiếng nhất với nhãn hiệu NutraSweet của hãng Monsanto. Đây là chìa khóa cho thành công vang dội của các nhãn hiệu đồ uống của Pepsi và Coca Cola dành cho những người muốn giảm cân trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Đối với những người đang tìm cách giảm bớt lượng calo hàng ngày thì đây quả là một thứ thần dược:

Nguyên lý của văn hóa phương Tây nói rằng: "Không có sự mãn nguyện nào mà không phải trả giá."


Còn chúng tôi nói rằng bạn vẫn có thể có những bữa ăn thỏa thích.



Bob Shapiro - Tổng Giám đốc NutraSweet


Bữa ăn mà Bob Shapiro nói đến ở đây là bữa ăn không có thêm calo - đấy là ý nghĩa thực của lời quảng cáo "ăn thỏa thích". Chứ còn về tiền thì NutraSweet đã lãi đến trên nửa triệu đôla vào năm 1985. Doanh nghiệp này có mức lợi nhuận gộp lên đến 70%. Mức lợi nhuận hấp dẫn như vậy dễ khuyến khích các công ty khác tham gia vào thị trường, tuy nhiên NutraSweet được bảo vệ bởi bản quyền đăng ký. Chuyện gì sẽ xảy ra khi thời hạn của bản quyền này kết thúc?

Chất ngọt đậm đặc đã có một lịch sử dài đầy thăng trầm. Vào thời đế quốc La Mã, nước bưởi ép được đun sôi trong các chảo chì để sản xuất ra một loại sản phẩm có tên là sapa, một chất ngọt dùng ở mọi chỗ, từ làm gia vị trong thức ăn đến thuốc uống tránh thai. Rất không may là chì trong sapa đã biến nó thành một chất độc, thậm chí gây chết người. Chất cyclamate được phát minh ra vào những năm 1960, nhưng sau đó, đên năm 1970 đã bị FDA (Ủy ban Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm) cấm bởi vì các nghiên cứu cho thấy chất này có liên quan đến bệnh ung thư. Ở Mỹ, chất duy nhất có thể dùng tương tự như aspartame là đường saccharin, một dẫn xuất từ dầu mỏ được tìm ra từ năm 1879. Năm 1977, FDA đã định cấm saccharin vì cho rằng nó cũng gây ra ung thư. Tuy nhiên, điều này đã gây ra sự phản đối mạnh mẽ từ phía những người dân đến nỗi Quốc hội phải can thiệp và cuối cùng sacchrin vẫn tồn tại trên thị trường. Nhưng ngoài vấn đề về an toàn thực phẩm, một số người cho rằng saccharin nếm có vị kim loại hơi đắng trong miệng.

Aspartame được tìm ra một cách tình cờ. Năm 1965, một nhà nghiên cứu khoa học tên là James Schlatter thuộc công ty G.D.Sealer&Co, tìm cách phát triển một loại thuốc chữa loét dạ dày. Trong khi làm thí nghiệm với các chất acid L-aspartic và L-phenylalanine, Schlatter đã nhận thấy có vị ngọt khi tình cờ liếm phải ngón tay. Chính ông là người đã đặt tên cho chất này về sau là aspartame, là kết hợp của các acid amin nói trên. Chất này có lượng calo đúng bằng đường cùng khối lượng nhưng lại ngọt gấp 180 lần so với đường...

P. 125 - Game Theory

Bài trước: Mất liên hệ

Mất liên hệ

EPSON PX-5V Blogger Meeting. Photo courtesy TAKA@P.P.R.S.

Vào năm 1989 thị trường Mỹ chia ra ba dòng máy in để bàn. Máy in kim nằm ở thị trường cấp thấp, máy in laser là dòng cao cấp, còn máy in phun mực nằm ở phần giữa. Các máy in kim chiếm tới 80% tổng số máy in để bàn bán ra, trong khi máy laser chiếm 15%, còn máy in phun chỉ chiếm 5%. Giá bán lẻ phổ biến đối với máy in kim là 550 USD, máy in phun là 650 USD trong khi máy in laser có giá đến 2.200 USD. Vào thời gian đó, Epson đang thống trị thị trường máy in kim trong khi HP (Hewlett Packard) dẫn đầu thị trường dành cho máy laser và máy in phun.

Khi xem xét từng thị trường riêng lẻ một cách độc lập với nhau, Epson cho rằng họ đã đi sai hướng. Bởi vì máy in laser có giá cao nhất và tỷ lệ lợi nhuận cũng là cao nhất, đồng thời thị trường của nó lại đang tăng trưởng nhanh chóng. Vì vậy, tháng 8 năm 1989, Epson đã tung ra thị trường một loại máy in laser mới với giá hết sức cạnh tranh là EPL-6000. Sản phẩm này không có gì nổi trội và lại không mang nhãn hiệu HP. Sau đó chỉ một tuần, HP cũng đưa ra thị trường chiếc máy in tương đương là LaserJet IIP nhưng có giá thấp hơn nhiều so với EPL-6000. Epson phản ứng lại bằng cách giảm giá của EPL-6000 và cuối cùng đã chiếm được 5% thị phần ngành kinh doanh máy in laser tính đến tháng 12 năm 1989.

Do cạnh tranh giá cả trong thị trường máy in laser hết sức khốc liệt nên các đối thủ khác trong cuộc chơi như Toshiba cũng buộc phải giảm giá các sản phẩm của mình. Điều này đã khiến lợi nhuận của Epson bị chững lại. Cạnh tranh giá cũng khiến cho HP bị ảnh hưởng nặng trong việc bán máy in phun. HP bắt đầu chương trình xúc tiến bán sản phẩm máy in phun một cách ráo riết nhằm ngăn chặn sự chênh lệch về giá giữa máy in phun và máy in laser đang ngày càng hẹp lại.

Epson khi đó mới nhận ra rằng hãng này đã đánh mất doanh số bán máy in kim bởi vì giá của máy in phun bây giờ đã giảm xuống gần bằng với máy in kim. Giá lại tiếp tục giảm trong thị trường máy in kim nhưng cũng không giảm được bao nhiêu. Kết quả là mảng kinh doanh cốt lõi của Epson đã bị thu hẹp chỉ còn một nửa.

Sai lầm của Epson là gì? Epson đã hiểu sai về phạm vi của trò chơi máy in. Do xem xét thị trường máy in laser mà không tính đến thị trường máy in kim nên Epson đã không nhận thấy rằng việc tham gia thị trường máy in laser bằng giá thấp có thể gây nguy hiểm cho hoạt động kinh doanh chính của mình là máy in kim. Có lẽ Epson đã cho rằng thị trường cao cấp của máy in laser không bao giờ có thể ăn vào doanh số của các loại máy in kim rẻ tiền. Epson đã quên mất mối liên hệ giữa thị trường máy in laser với thị trường máy in phun và giữa thị trường máy in phun với thị trường máy in kim.

Câu chuyện của hãng Epson cho thấy một động thái trong một trò chơi có thể tác động đến vận may của bạn trong các trò chơi khác. Các mối liên hệ giữa các trò chơi có thể gây tác động tầng đợt mà Epson đã không thấy trước được phản ứng dây chuyền mà chính họ là người khởi xướng. Nếu xét trong một phạm vi hẹp thì hành động của Epson có thể coi là hợp lý, tuy nhiên nếu nhìn rộng hơn thì không phải. Epson đã không nhìn ra được trò chơi lớn hơn. Epson cũng không thấy trước được phản ứng của các đối thủ cạnh tranh trước những hành động của họ. Nếu như Epson sáng suốt hơn, có lẽ họ đã chọn ngồi yên mà không làm gì cả.

P. 103 - Game Theory