Journey in Life: 03/23/15

Monday, March 23, 2015

Singapore giành được độc lập như thế nào?

Photo courtesy Leonid Yaitskiy.

Những lời ai điếu từ khắp nơi đang dành cho Lee Kuan Yew, Thủ tướng đầu tiên của Singapore, người mới qua đời sáng sớm ngày 23 tháng 3 (giờ Singapore). Nhưng tầm vóc vĩ đại của ông Lee trái ngược với sự kỳ quặc của thành phố đảo quốc này, cách cực nam của Malaysia bởi một eo biển hẹp, mà ông đã góp phần xây dựng. Chỉ 48km tại điểm rộng nhất, nước này chỉ hơn một nửa không gian năm quận của New York một chút; với 5,5 triệu dân nó thưa dân cư hơn nhiều. Tính trên đầu người, Singapore giàu hơn nhiều so với các nước láng giềng trong khu vực, và là nước duy nhất ở Đông Nam Á, trong đó công dân gốc Hoa chiếm đa số. Điều này xảy ra như thế nào?

Lịch sử hiện đại của Singapore bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ mười chín, khi Stamford Raffles, nhà quản lý của Anh có trụ sở ở Java, chọn hòn đảo này để phát triển thành một trạm mậu dịch của Công ty Đông Ấn. Nó là một trong ba thành phố mà sau này hình thành thuộc địa của Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland giàu có được biết đến như là Straits Settlements - Khu định cư Eo biển (hai thành phố khác là Melaka - cách không xa Kuala Lumpur - và Penang, một hòn đảo ngoài khơi bờ biển phía tây bắc của Malaysia). Các thống đốc thuộc địa của Singapore khuyến khích người lao động nhập cư từ các thuộc địa của Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland ở Nam Á; họ cũng chào đón các thương nhân và người lao động gốc Hoa di cư từ Trung Hoa đại lục và trên toàn Đông Nam Á, và những người cuối cùng hình thành nhóm sắc dân lớn nhất của hòn đảo này.

Năm 1959, Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland dành cho Singapore một mức độ tự trị lớn. Ông Lee, lãnh đạo của Đảng Nhân Dân Hành Động, trở thành thủ tướng sau chiến thắng bầu cử vang dội. Nhà lãnh đạo mới của Singapore nghĩ rằng các lợi ích của hòn đảo sẽ được đáp ứng tốt nhất bằng cách hợp nhất với Liên bang Malaya lân cận, một kết hợp các vương quốc Hồi giáo mà mới rũ bỏ sự cai trị của Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Singapore gia nhập liên bang vào năm 1963, mà từ đó về sau được gọi là Malaysia. Nhưng sự sắp xếp này chẳng được bao lâu. Các chính trị gia Singapore tức giận với những quy định ghi trong hiến pháp của Malaysia dành cho đa số sắc dân Malay của liên bang nhiều ưu đãi đặc biệt. Các lãnh đạo Malaysia, về phần mình, cảm thấy rằng đa số người dân chủ yếu gốc Hoa của Singapore đe dọa di sản Malay của đất nước họ, và lo sợ nhà nước mới sẽ bòn rút hết sự thịnh vượng từ đất liền. Những căng thẳng có lẽ là nguyên nhân của những cuộc bạo loạn sắc tộc ở Singapore trong năm 1964, khiến hàng chục người chết. Tháng 8 năm 1965, quốc hội Malaysia bỏ phiếu trục xuất Singapore khỏi liên bang. Ông Lee tuyên bố hòn đảo độc lập, với những giọt nước mắt, chứ không phải niềm vui.

Bất chấp sự ra đời khác thường của nó - và có lẽ chính vì lí do này - Singapore đã trở nên vô cùng thành công. Bằng cách đầu tư vào cảng biển, giờ đây là một trong những cảng bận rộn nhất thế giới, chính phủ đã tận dụng được vị trí chiến lược của Singapore ở lối vào eo biển Malacca. Để bù đắp cho sự thiếu hụt các tài nguyên thiên nhiên khác, nước này mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài, từ đó mang đến các kỹ năng và nhiều người giàu có (hiện nay khoảng 30% trong số 5,5 triệu cư dân của Singapore là theo giấy phép làm việc tạm thời). Nhưng kích thước và vị trí của Singapore cũng dẫn đến sự hoang tưởng: chính phủ nước này vẫn duy trì chế độ quân dịch bắt buộc và gần đây yêu cầu hầm trú ẩn tránh bom sẽ phải được xây dựng ở nhiều ngôi nhà mới. Những người theo chủ nghĩa tự do dân sự than phiền rằng chính phủ của họ đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trả giá bằng tự do chính trị. Và với tất cả sự thịnh vượng của mình, các công dân "dấu chấm đỏ nhỏ bé" vẫn lo ngại rằng đất nước họ đang bị các nước khác bỏ qua. Trong khi các nhà quan sát trên toàn thế giới tranh luận về di sản của ông Lee, Singapore tỏ ra khó chịu khi rất ít người có thể thấy nó trên bản đồ.

Thành Đạt
The Economist

Lý Quang Diệu qua đời ở tuổi 91

by Trần Gia Hồng Ân, shared from danchimviet.
-----
Lý Quang Diệu 1958

Lý Quang Diệu, người đã biến Singapore từ một cảng nhỏ thành một quốc gia giàu có trên thế giới. 

Ông làm thủ tướng Singapore 31 năm liên tục cho đến khi tự rút lui khỏi chính trường năm 1990, nhưng vẫn phục vụ cho chính phủ đến năm 2011, vừa qua đời vào lúc 3:18, thứ Hai, ngày 23 tháng Ba năm 2015, tại Bệnh viện Tổng quát Singapore.

Ông sinh ngày 16 tháng Chín năm 1923, tại Singapore, thế hệ thứ ba trong một gia đình di cư từ Trung Hoa.

Ông tốt nghiệp nghành luật tại Đại học Cambridge, Anh, rồi trở thành luật sư. Năm 1954, ông thành lập Đảng Nhân dân Hành động (People's Action Party) và lãnh đạo đảng này trong bốn thập kỷ liên tục sau đó.

Năm 1959, đảng của ông giành được quyền lãnh đạo Singapore, tách ra khỏi Malaysia, trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1965. Ông gọi thời gian này là khoảnh khắc của đớn đau, nhiều cuộc xung đột sắc tộc đã xảy ra, nhưng ông thề xây dựng một quốc gia đa sắc tộc, đa văn hóa, đa tôn giáo.

Singapore chỉ là thành phố cảng không có một nguồn tài nguyên, nằm bên cạnh Malaysia khổng lồ. Ông đã tìm mọi cách đưa thành phố này vượt lên Malaysia về mọi mặt, khoa học, giáo dục, công nghệ, xã hội và quốc phòng.

Ông khôn ngoan chọn tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức khi lập quốc, mặc dù Trung Hoa đã làm mọi cách lôi kéo, mua chuộc để ông chọn tiếng Hoa. Ông thấy tiếng Hoa không thể giúp Singapore hội nhập nhanh vào cộng đồng công nghệ cao của thế giới.

Công việc đầu tiên ông bắt tay khi trở thành thủ tướng là một cuộc đầu tư lớn, toàn diện vào hệ thống giáo dục bằng Anh ngữ, loại bỏ tiếng Hoa ra khỏi hệ thống giáo dục chính.

Công việc tiếp theo là ông hướng tới Hoa Kỳ. Quả thực, trong suốt ba thập kỷ, đầu tư của Mỹ cùng với tiếng Anh, và sự lao động kiên cường của người dân Singapore đã biến thành phố cảng này thành một công xưởng lớn của thế giới. Giờ đây, Singapore là trung tâm lọc dầu, thương mại, và tài chính toàn cầu...
Photo credti: edmwimg.

Vì sao giá dầu đang giảm?

Sanford, Texas. Photo courtesy Charles Henry.

Giá dầu đã giảm hơn 40% kể từ tháng Sáu, khi nó ở mức 115 USD một thùng. Hiện nó ở mức dưới 70 USD một thùng. Điều này xuất hiện sau gần năm năm ổn định. Tại một cuộc họp ở Vienna ngày 27 tháng 11, Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), kiểm soát gần 40% thị trường thế giới, đã không đạt được thỏa thuận về việc hạn chế sản xuất, khiến giá giảm mạnh. Cũng bị tác động mạnh là những nước xuất khẩu dầu mỏ như Nga (nơi đồng rúp đã ở mức thấp kỷ lục), Nigeria, Iran và Venezuela. Vì sao giá dầu đang giảm?

Giá dầu được quyết định một phần bởi cung và cầu thực tế, và một phần bởi sự kỳ vọng. Nhu cầu năng lượng có liên quan chặt chẽ đến hoạt động kinh tế. Nó cũng tăng mạnh trong mùa đông ở Bắc bán cầu, và trong suốt mùa hè ở các nước có sử dụng điều hòa nhiệt độ. Nguồn cung có thể bị ảnh hưởng bởi thời tiết (ngăn cản tàu chở dầu bốc hàng) và rối loạn về địa chính trị. Nếu các nhà sản xuất nghĩ rằng giá ở mức cao, họ sẽ đầu tư, mà sau một độ trễ sẽ làm tăng nguồn cung. Tương tự như vậy, giá thấp dẫn đến đầu tư bị giảm. Quyết định của OPEC định hình kỳ vọng: nếu tổ chức này hạn chế mạnh nguồn cung, nó có thể khiến giá tăng. Ảrập Xêút sản xuất gần 10 triệu thùng một ngày - một phần ba tổng sản lượng của OPEC.

Bốn điều đang ảnh hưởng đến bối cảnh này. Nhu cầu thấp do hoạt động kinh tế yếu kém, hiệu quả tăng và sự chuyển đổi ngày càng mạnh từ dầu sang các nhiên liệu khác. Thứ hai, bất ổn ở Iraq và Libya - hai nước sản xuất dầu lớn với tổng gần 4 triệu thùng một ngày - đã không ảnh hưởng tới sản lượng của họ. Thị trường lạc quan (sanguine) hơn về rủi ro địa chính trị. Thứ ba, Mỹ đã trở thành nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới. Dù nước này không xuất khẩu dầu thô, nước này hiện nhập khẩu ít hơn nhiều, tạo ra rất nhiều nguồn cung dư thừa. Cuối cùng, người Ảrập và các đồng minh vùng Vịnh của họ đã quyết định không hy sinh thị phần của chính mình để khôi phục giá tăng trở lại. Họ có thể hạn chế mạnh sản xuất, nhưng các lợi ích chính sẽ đến những nước họ ghét cay ghét đắng như Iran và Nga. Ảrập Xêút có thể chịu đựng mức giá dầu thấp hơn khá dễ dàng. Nước này có 900 tỷ USD trong dự trữ ngoại hối. Giá thành sản xuất dầu của họ rất thấp (chỉ khoảng 5-6 USD một thùng) để khai thác khỏi mặt đất.

Tác động chính của giá dầu giảm là đối với những thành phần rủi ro nhất và dễ bị tổn thương nhất của ngành công nghiệp dầu mỏ. Đó là các frackers người Mỹ, những người đã vay mượn rất nhiều dựa trên kỳ vọng giá dầu tiếp tục tăng. Đó là các công ty dầu phương Tây với dự án có chi phí cao liên quan đến khoan nước sâu hay ở Bắc Cực, hoặc phải đối phó với các mỏ dầu mãn kỳ và ngày càng đắt đỏ như ở Bắc Hải. Nhưng bị tác động lớn nhất là ở những nước mà các chế độ phụ thuộc vào giá dầu cao để chi trả cho những cuộc phiêu lưu nước ngoài tốn kém và những chương trình xã hội đắt đỏ. Những nước này bao gồm Nga (vốn đã bị tác động bởi lệnh trừng phạt của phương Tây sau khi can thiệp ở Ukraine) và Iran (đang tài trợ để giữ chế độ Assad tồn tại ở Syria). Những người lạc quan cho rằng tổn thất kinh tế có thể khiến những nước này tuân theo trước áp lực quốc tế. Những người bi quan lo ngại rằng khi bị dồn đến bước đường cùng, họ có thể tấn công bất ngờ trong tuyệt vọng.

Thành Đạt
The Economist


Mark Juckerberg - xây dựng đế chế Facebook