Journey in Life: 12/17/16

Saturday, December 17, 2016

Mỹ, Nga và cánh hữu mới

Vladimir Putin carrying his buddy Donald Trump. Photo courtesy DonkeyHotey.

Những người Nga theo chủ nghĩa phi tự do yêu thích Donald Trump nhưng chưa chắc được Trump đối lại tương tự.

Alexander Dugin, nhà triết học Nga về tôn giáo và địa chính trị được xem là "bộ não của [Vladimir] Putin" hoàn toàn vui mừng với kết quả cuộc bầu cử Mỹ. Trên trang web của vị lãnh đạo chủ nghĩa chống Mỹ này, có một bài viết bày tỏ niềm hân hoan với lập luận rằng không còn cần phải coi Mỹ như một kẻ thù, vì người tốt đã chiến thắng ở đó: bài viết gợi ý mạnh mẽ các bước tiếp theo sẽ là để đảm bảo thắng lợi hơn nữa cho các lực lượng phi tự do ở châu Âu, bắt đầu với ứng cử viên tổng thống Pháp Marine Le Pen.

"Chủ nghĩa chống Mỹ đã kết thúc. Không phải vì điều đó là sai, mà hoàn toàn ngược lại: vì người dân Mỹ chính họ đã bắt đầu cuộc cách mạng chống lại chính xác các khía cạnh của Mỹ mà chúng ta căm ghét .... Vì vậy, [giờ đây] chúng ta hãy vét sạch Vũng lầy châu Âu ...Vậy cấu trúc của Vũng lầy đó là gì? Trước hết, Vũng lầy này là một ý thức hệ, là Chủ nghĩa tự do. Chúng ta cần một Phiên tòa Nuremburg cho Chủ nghĩa tự do, tư tưởng chính trị chuyên chế cuối cùng"

Ông Dugin là ai? Nhà tư tưởng địa chính trị "Á-Âu" với giấc mơ về một vùng đế chế lớn Slav-Turk dưới sự chỉ huy của Moscow, đã chứng kiến ảnh hưởng của mình tăng cao trong những tháng đầu của cuộc xung đột ở miền đông Ukraine trong năm 2014. Cùng với một số nhân vật theo chủ nghĩa dân tộc của Chính thống giáo ở Nga, ông đã hỗ trợ tinh thần cho các nhà lãnh đạo của cuộc nổi loạn được Nga hậu thuẫn chống lại chính phủ của Ukraine. Ông Dugin đôi khi miêu tả cương lĩnh của mình như là chủ nghĩa Á-Âu Chính thống, nhưng ông không mấy quan tâm nhiều tới thần học Kitô giáo: mà chú ý hơn tới Chính thống giáo và đó là dấu hiệu khác biệt so với phương Tây. Một trong số những nhà tư tưởng ông thừa nhận về tầm ảnh hưởng là Julius Evola, một người dẫn dắt tinh thần theo phe cực hữu ở Ý; ông này cũng dựa vào hệ triết học tôn giáo "chủ nghĩa truyền thống" cho rằng sự khôn ngoan nằm trong nhiều tín ngưỡng phức tạp cổ xưa và coi thường thế tục hiện đại.

Một điều dễ thấy rằng Tổng thống đắc cử của Mỹ không dành quá nhiều thời gian quan tâm tới các triết gia Nga, nhưng người thân cận của ông chắc chắn là biết về Dugin. Đó là người quản lý chiến dịch của ông Trump, Stephen Bannon. Trả lời câu hỏi tại một cuộc họp vào năm 2014, ông Bannon giải trình về đường lối lãnh đạo của Nga, nguồn gốc tinh thần của họ và về lý do vì sao một số người phương Tây có thể thấy những nguồn gốc ấy đáng bỏ công tìm hiểu. Ông Bannon đã nói thành lời suy nghĩ của mình thay vì văn bản mạch lạc như sau:

Vladimir Putin, khi bạn thực sự xem xét một số nền tảng niềm tin của ông ta ngày hôm nay, rất nhiều phần đến từ điều tôi gọi là Chủ nghĩa Á-Âu; ông ta có một cố vấn nghe theo những người như Julius Evola và các tác giả của thế kỷ 20 ủng hộ phong trào chủ nghĩa truyền thống mà cuối cùng dẫn đến chủ nghĩa phát xít ở Ý ... Chúng tôi, những người phương Tây theo Do Thái –Kitô giáo, thực sự phải nhìn vào những gì Putin đang nói từ gốc gác chủ nghĩa truyền thống, đặc biệt là trong vấn đề nó hỗ trợ cho nền tảng của chủ nghĩa dân tộc ...

Cố vấn được nói đến ở trên rõ ràng là ông Dugin. Nhưng điều đó không có nghĩa là ông Bannon, vốn có thể là người lập dị, là một người ủng hộ nhà triết học Nga hay ý tưởng quân sự của ông ta. Vào thời điểm khi ông Bannon phụ trách vấn đề này, dịch vụ tin tức cánh hữu Breitbart thực hiện đưa tin về chính sách của Nga tại Ukraine, và vai trò của ông Dugin, vốn khá mạnh mẽ và thể hiện rõ ràng. Bài báo xuất bản trong tháng 6 năm 2014 đề cập đến "sự từ chối trách nhiệm bất chấp đạo lý của Putin" cho các hành động của đồng minh của mình ở Crimea, và cũng lưu ý rằng "chế độ Putin tiếp tục từ chối một cách không hợp lý bất kỳ trách nhiệm nào" về việc đã kích động chiến tranh ở miền đông Ukraine. Dưới tiêu đề dí dỏm "Rasputin của Putin," bài báo nói thêm rằng động lực đằng sau các chính sách của ông Putin tại Ukraine là hệ tư tưởng của ông Dugin, một ý thức hệ cũng coi Mỹ như là một "Kẻ chống lại Thiên chúa" cần bị và sẽ bị tiêu diệt.

Ông Bannon, là người đã tìm kiếm ở trong và ngoài nước các đồng minh tiềm năng theo chủ nghĩa phi tự do, rõ ràng là quan tâm đến hiện tượng Dugin, nhưng điều đó không làm cho ông ta trở thành một người ủng hộ. Đây là một sự khác biệt đáng kể khác. Ông Bannon lên án chủ nghĩa nhân văn tự do và thế tục nhân danh thế giới phương Tây "Do Thái-Kitô giáo". Ngược lại, ông Dugin và hệ tư tưởng của ông xem các bộ phận của thế giới Hồi giáo như là một đồng minh tiềm năng chống lại con quỷ chủ nghĩa tự do-nhân văn; và điều này, đến lượt nó, tác động đến ông Putin, người đã từng nói rằng theo quan điểm của "một số nhà tư tưởng" thì Chính thống giáo Nga đứng gần với Hồi giáo hơn là Kitô giáo phương Tây. Vì vậy, tầm nhìn Dugin không phải quá thiên về Do Thái-Kitô giáo như Hồi giáo-Chính thống giáo-Kitô giáo, với sức hấp dẫn qua nhiều thời kỳ đối với ngoại giáo Nga.

Mặt khác, tất cả những cái tên kể trên, dù có bất kỳ sự khác biệt nào, đều muốn ở trong đội tiên phong của một cuộc chiến chống lại kẻ thù chung xác định, bao gồm cả chủ nghĩa thế tục, chủ nghĩa đa văn hóa, chủ nghĩa quân bình và hiện đại.

Quỳnh Anh
The Economist

Lưu chuyển vốn: Cái tốt, cái chưa tốt và cái tệ hại

Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài được hoan nghênh, nhưng quá nhiều trong ngắn hạn sẽ là mầm mống rắc rối.

Sân bay Shannon nằm trên bờ biển phía tây Ireland đã là một cửa ngõ nối châu Âu với Mỹ từ những năm 1940. Sân bay này được xây dựng trên cửa sông Shannon bắt nguồn từ Foynes, một thị trấn nhỏ từng là trạm tiếp nhiên liệu cho thủy phi cơ và máy bay dân dụng trên hành trình vượt Đại Tây Dương trong những năm chiến tranh. Tại đây, người đầu bếp người địa phương Joe Sheridan đã sáng tạo ra món cà phê Ireland khi cho thêm whisky vào tách cà phê nóng phục vụ các hành khách đang run lên vì lạnh trên những chiếc thủy phi cơ của hãng Pan Am. Năm 1947, Brendan O'Regan -- một nhà quản lý cung cấp thực phẩm cho các sự kiện -- đã khai trương cửa hàng miễn thuế đầu tiên trên thế giới tại sân bay Shannon, cho phép hành khách quá cảnh mua hàng miễn thuế.

Đây là địa phận thường xuyên nhận vốn ở Ireland, và hơn bất kỳ quốc gia nào, Ireland đã được thay da đổi thịt nhờ dòng vốn từ khắp các nơi khác đổ về. Trong những năm 1980, tưởng chừng như định mệnh của Ireland vĩnh viễn là nước chậm tiến của Tây Âu: "nước nghèo nhất trong những nước giàu", như kết quả trong một cuộc khảo sát của tờ The Economist. Nhưng trong vòng một thập kỷ, Ireland đã lột xác trở thành con hổ vùng Celtic, như sự đáp trả bất ngờ của châu Âu trước sự bùng nổ kinh tế ở khu vực Đông Nam Á.

Trọng tâm của sự thay đổi này diễn ra vào năm 1992 khi các công ty Mỹ tìm kiếm chỗ đứng ở Liên minh châu Âu trước sự hình thành một thị trường hàng hóa chung và bị thu hút bởi lực lượng lao động nói tiếng Anh được đào tạo bài bản nơi đây. Chính quyền mời gọi họ bằng trợ cấp và mức thuế doanh nghiệp thấp. Tập đoàn Intel chuyên sản xuất chip điện tử đã bắt đầu sản xuất tại Dublin từ năm 1990. Nhiều công ty lớn khác đã tiếp bước họ. Năm 1994, hãng sản xuất thiết bị y tế Boston Scientific đã mở cửa hàng tại Galway, chỉ cách sân bay Shannon một giờ lái xe. Từ đó khu vực này trở thành nơi quần tụ của các công ty công nghệ y tế và dược phẩm.

Một ví dụ điển hình
Nhờ có dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài như vậy, Ireland đã từ nước nghèo nhất trong những nước giàu trở thành một trong những nước giàu nhất. Đây là ví dụ điển hình về lợi ích của các dòng vốn. Nhưng Ireland cũng là một tấm gương về những tác dụng phụ tàn khốc của việc lưu chuyển vốn. Khi nước này giàu lên, các nước khác phản đối mức thuế doanh nghiệp thấp của nước này, vì cho rằng đây chỉ đơn thuần là một công cụ để giúp các công ty toàn cầu thu lời ở Ireland và nộp thuế ít hơn.

Tầm quan trọng của vấn đề được nêu bật vào tháng 7 khi cơ quan thống kê của Ireland cho biết GDP của nước này đã tăng 26% trong năm 2015. Tuy nhiên, con số này không thể hiện nhiều về sức khỏe của nền kinh tế Ireland. Đầu tiên, nó đã bị thổi phồng bởi biện pháp "đảo nghịch thuế", trong đó một công ty nhỏ của Ireland sáp nhập với một công ty lớn từ nước ngoài và công ty mới sáp nhập được đăng ký tại Ireland và hưởng lợi từ thuế suất thấp. Năm ngoái số lượng giao dịch loại này đạt cao điểm trước khi Mỹ ra tay kìm chế. Thứ hai, số liệu GDP đã bị ngành công nghiệp cho thuê máy bay bóp méo. Hai ông trùm cho thuê máy bay lớn nhất thế giới đều do sân bay Shannon quản lý, dù rất nhiều trong số 4.000 máy bay được đăng ký sẽ không bao giờ hạ cánh ở đó.

Nhưng đáng chú ý nhất phải kể đến thiệt hại do các dòng vốn ngắn hạn gây ra cho Ireland. Sau sự kiện đồng euro ra đời vào năm 1999, những người có điều kiện mua nhà đã bị mức lãi suất thấp không thể cưỡng lại được ở Frankfurt thu hút. Các ngân hàng Ireland đã vay mượn rất nhiều từ thị trường đồng euro liên ngân hàng để tiếp thêm vào bong bóng bất động sản và để tích trữ tài sản ở ngoài Ireland. Vào thời kỳ đỉnh cao, hoạt động vay vốn ngân hàng của khu vực tư nhân tăng gần 30% một năm trong giai đoạn 2004-2006. Khi bong bóng vỡ, đất nước rơi vào suy thoái và phải cần tới sự giải cứu của IMF. Thương tích còn đó Theo số liệu ban đầu từ chương trình điều tra dân số năm nay, có gần 10% căn hộ ở Ireland bị bỏ hoang. Một trong những khu vực bị ảnh hưởng tồi tệ nhất là miền tây Ireland, xung quanh bờ biển gần Shannon. Bất động sản ma và những nhà nghỉ giá rẻ là tàn dư từ cơn bùng nổ của ngành xây dựng vào năm 2007 khi cứ 8 công nhân thì có 1 người làm trong ngành này.

Những dòng vốn tự do lẽ ra phải là điều tốt đẹp. Giống như tự do thương mại toàn cầu, các thị trường vốn toàn cầu cho ta những cơ hội rộng mở hơn. Cơ hội nhiều hơn và tốt hơn giúp người ta giàu hơn. Nguồn vốn toàn cầu hóa đã phá vỡ sự ràng buộc giữa nguồn tiền dự trữ trong nước và nguồn tiền có từ đầu tư, tạo cơ hội cho các nước nghèo với nguồn tiết kiệm eo hẹp có nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng GDP. Với các nền kinh tế đang phát triển, lưu chuyển vốn là đường băng dẫn đến các công nghệ tân tiến, quy trình quản lý chuyên nghiệp và mạng lưới kinh doanh mới. Nó cũng cho phép các nhà đầu tư có thể “bỏ phiếu bằng chân”, khuyến khích các chính phủ phải theo đuổi những chính sách điều tiết tiền tệ và tài khóa thận trọng.

Trong suốt một thời gian dài, kinh tế học tự do phản đối bất kỳ hạn chế nào đối với tài chính xuyên quốc gia . Một chuỗi các cuộc khủng hoảng trong ngành tài chính, bắt đầu ở Mỹ Latinh vào những năm 1980 và tiếp tục với cuộc khủng hoảng Đông Á năm 1997-1998, khiến ta phải suy nghĩ lại. Thay vì thiết lập được kỷ luật, việc tiếp cận được nguồn vốn nước ngoài dường như khiến các nước rơi vào mớ bòng bong lớn hơn . Trong tranh luận về những ưu và khuyết điểm khi hàng hóa hoặc con người được di chuyển tự do, các học giả hiện nay đều đồng ý rằng tự do hóa dòng vốn đôi khi lợi bất cập hại. Các chính trị gia thỉnh thoảng có thể rầu rĩ vì sự thay đổi như chong chóng của các nhà đầu tư quốc tế, nhưng trong hầu hết trường hợp, tự do lưu chuyển vốn không phải là tâm điểm chỉ trích của công chúng như cách người ta vẫn làm với tự do thương mại và tự do di cư.

Có rất nhiều bằng chứng cho thấy hậu quả khi dòng vốn ngắn hạn ào ạt quét qua. Trong một bài báo được công bố hồi đầu năm nay, Atish Ghosh, Jonathan Ostry và Mahvash Qureshi của Quỹ Tiền tệ quốc tế, đã xác định 152 giai đoạn "cao trào" (giai đoạn các dòng vốn lớn dâng lên bất thường) từ năm 1980 đến năm 2014 ở 53 thị trường mới nổi. Một phần năm số giai đoạn “cao trào” đó kéo theo các cuộc khủng hoảng ngân hàng và tiền tệ. Những cao trào dễ kết thúc trong nước mắt nhất là những cao trào chủ yếu nhờ cho vay ngân hàng xuyên quốc gia; trong khi đó những món vay từ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ít khả năng gây họa hơn. Cuộc khủng hoảng đồng euro nói chung, và vụ phá sản ngân hàng ngoạn mục của Ireland nói riêng, đã chỉ ra rằng hội chứng này không chỉ xảy ra ở các nước đang phát triển.

Các thị trường vốn gặp những sai lầm khác với các thị trường hàng hoá. Cổ phiếu, trái phiếu và các tài sản có thể thay đổi giá trị đến chóng mặt. Khi vốn di chuyển qua biên giới, những thay đổi này dao động càng lớn bởi khoảng cách, sự không thông thuộc luật lệ và rủi ro từ tỷ giá hối đoái. Còn rất nhiều khả năng khác dẫn đến sai sót, và các cuộc khủng hoảng kinh tế sau đó thường xảy ra trên quy mô lớn hơn. Các công ty nước ngoài có thể xây dựng hoặc mua văn phòng, nhà xưởng và cơ sở hạ tầng, nhưng khi người nước ngoài mua trái phiếu hoặc cổ phiếu, lợi ích họ nhận được thường không rõ ràng, và những đầu tư kiểu này có xu hướng không ổn định. Hệ thống tài chính của những nước đang phát triển chưa thực sự được trang bị đầy đủ để tối ưu hóa dòng vốn này, chứ chưa nói đến khả năng xử lý khi bị thoái vốn bất ngờ. Họ thường dùng các khoản vay ngắn hạn từ nước ngoài để trả các khoản vay dài hạn trong nước. Sự chênh lệch này càng rõ rệt hơn khi phải vay bằng ngoại tệ. Và những nước buộc phải duy trì dòng tiền nóng sẽ thường mắc "căn bệnh Hà Lan" (Dutch disease), một trạng thái đẩy đồng nội tệ cao hơn giá trị hợp lý, khiến các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước không thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Sàng lọc các dòng vốn
Hạn chế các dòng vốn ngoại trừ đầu tư trực tiếp nước ngoài có lẽ là một ý tưởng hay. Năm 2012, Quỹ Tiền tệ quốc tế thừa nhận rằng, trong trường hợp quy mô của dòng vốn vào gây rủi ro cho sự ổn định của nền tài chính và chính sách tiền tệ hay tài khóa thông thường không thể đáp ứng một cách hiệu quả thì kiểm soát vốn tạm thời và có mục tiêu là biện pháp cuối cùng. Nhưng cần làm gì để để ngăn chặn dòng vốn xấu và giữ lại được những dòng vốn tốt?

Đánh thuế “nhập cảnh” (hay còn gọi là thuế Tobin) (entry/Tobin tax) tương xứng với quy mô các dòng vốn vào và thu thuế tại thời điểm diễn ra giao dịch hoán đổi ngoại tệ là một cách. Các dòng vốn vào ngắn hạn sẽ bị đánh thuế nặng hơn. Cho đến gần đây người ta mới tin rằng kiểu sàng lọc như vậy không có mấy ảnh hưởng tới các dòng vốn vào. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây của Marcos Chamon từ Quỹ Tiền tệ quốc tế, và Márcio Garcia từ trường đại học PUC-Rio, cho rằng biện pháp này có thể có hiệu quả hơn chúng ta từng nghĩ.

Các tác giả nhìn vào kinh nghiệm của Brazil, trong tháng 10 năm 2009 họ áp mức thuế đầu vào 2% lên các danh mục đầu tư. Đây là cách ngăn đồng nội tệ, đồng real, tiếp tục tăng giá. Mức thuế nhanh chóng được nâng lên 4% và ngay sau đó là 6% . Lúc đầu các biện pháp dường như không hiệu quả, nhưng tình hình thay đổi vào giữa năm 2011 khi chính phủ bổ sung một loại thuế đánh vào giá trị danh nghĩa (notional) của các giao dịch phái sinh. Messrs Chamon và Garcia ước tính tới 10% trong sự giảm giá đồng real sau đó, thực tế là do can thiệp.

Khi đồng real mất giá vào năm 2012, Brazil bắt đầu dỡ bỏ kiểm soát vốn. Nhưng nếu dòng tiền nóng là mối đe dọa thường trực, thì luôn duy trì các biện pháp điều tiết không phải tốt hơn hay sao? Michael Klein của Đại học Tufts, phân biệt biện pháp kiểu "cổng kiểm soát" dùng để điều tiết dòng vốn theo từng giai đoạn nhất định, và kiểu "tường bảo vệ", dùng để kiểm soát lâu dài nhiều loại tài sản. Trong một nghiên cứu trên 44 quốc gia từ năm 1995 đến năm 2010, ông kết luận rằng biện pháp cổng kiểm soát không kiềm chế được tỷ giá hối đoái, thúc đẩy tăng trưởng GDP hoặc ngăn rủi ro tài chính ngày càng cao. Nhưng kiểm soát vốn lâu dài (biện pháp tường bảo vệ) có thể làm được.

Mười nước dùng "tường bảo vệ" trong nghiên cứu, bao gồm cả Trung Quốc, tính trung bình có mức tăng nợ tư nhân trong GDP chậm hơn và mức tăng tỷ lệ cho vay yếu hơn so với 34 quốc gia khác. Mười nước này cũng có vẻ ít gặp hiện tượng tăng vốn bất thường. Điều này cho thấy các tường bảo vệ là biện pháp hiệu quả. Nhưng về tổng thể, các nước có tường hào chặt chẽ lại nghèo hơn các quốc gia biết dùng cửa linh hoạt. Và khi Klein kiểm tra GDP bình quân đầu người, thì gần như không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa hai nhóm quốc gia này. Không biện pháp kiểm soát vốn nào có hiệu quả lớn.

Phát hiện này khiến người ta lúng túng. Về nguyên tắc, sự linh hoạt của các “cổng” biến nó trở thành công cụ kiểm soát vốn tốt hơn so với “bức tường” thứ có thể ngăn chặn ngay cả dòng vốn tốt. Cách kiểm soát vốn lý tưởng nhất là thắt chặt kiểm soát khi luồng vốn vào gia tăng. Nhưng biện pháp cổng kiểm soát có thể không có hiệu quả vì những lý do rất thực tế. Mức thuế cần thiết để chống lại cơn lũ của các dòng vốn vào có thể cao bất thường. Và cơ chế cổng kiểm soát giúp vốn dễ dàng thâm nhập hơn tường bảo vệ, vì những nước đã áp dụng tường bảo vệ trong thời gian dài sẽ biết cách dùng dòng vốn hiệu quả. Ví dụ, Trung Quốc có thể kiểm soát tỷ giá hối đoái danh nghĩa trong nước nhờ vào cơ chế bảo vệ mà nước này áp đặt.

Có thể thấy phối hợp cả hai cách trên là biện pháp tốt nhất. Nhưng không phải ai cũng tin vào câu chuyện của Brazil. Mức thuế đưa ra phải đủ cao và được áp dụng rộng rãi mới có tác dụng rõ rệt. Điều này khiến chúng ta khó mà chỉ đánh thuế này lên các dòng vốn "xấu"; và vì giám sát chặt chẽ hơn ở một khu vực có thể dễ dàng khiến hoạt động vi phạm dịch chuyển sang khu vực khác, thuế Tobin có thể chỉ làm chuyển hướng các dòng vốn hơn là ngăn chặn chúng hoàn toàn. Theo một nghiên cứu của Kristin Forbes, hiện là thành viên Ủy ban chính sách tiền tệ Ngân hàng trung ương Anh, và nhiều ý kiến khác, thuế Tobin ở Brazil đã khuyến khích nguồn vốn góp và trái phiếu từ thị trường mới nổi ồ ạt đổ sang các nước khác có hàng hóa phong phú.

Các nhà quan sát lâu năm nhớ lại rằng trước khi xảy ra câu chuyện của Brazil, Chile đã là một ví dụ điển hình của việc kiểm soát vốn khôn ngoan. Trong những năm 1990, dòng vốn vào Chile phải gửi không lãi suất một khoản tiền bằng 30% giá trị khoản đầu tư. Nhờ đó ngân hàng trung ương Chile đã tránh được các biện pháp kiểm soát có tính can thiệp trực tiếp vào thị trường tiền tệ (bán peso để dự trữ bằng nhiều hình thức khi dòng vốn vào rất mạnh), đây là một chính sách mẫu mực về tính chặt chẽ. Chính sách này giúp nền kinh tế ngăn nguy cơ mắc căn bệnh Hà Lan, nhưng không hề ngăn chặn các dòng tiền vào. Nếu mối lo ngại lớn nhất là quá nhiều vốn cho vay dựa trên tài sản, thì chính sách an toàn vĩ mô có lẽ sẽ phù hợp hơn. Đây là một biện pháp hữu ích để hạn chế lượng tiền mà các ngân hàng có thể cho vay theo tỷ lệ giá trị của tài sản.

Một vấn đề khó khăn
Các nhà kinh tế ở Ireland đã từng chỉ ra sự khác biệt của hai giai đoạn, một là khi nền kinh tế phát triển bùng nổ đưa đất nước trở thành con hổ vùng Celtic nhờ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, và hai là giai đoạn "bong bóng" kinh tế, lạm phát do lãi suất thấp và vốn ngắn hạn. Nhưng ngày nay đầu tư trực tiếp nước ngoài không còn mang đến những nhà máy mới, cơ sở nghiên cứu hoặc tòa nhà văn phòng, với số công việc mới nhiều tương ứng mà nó đã chuyển tiền thành các tài sản vô hình phục vụ mục đích giảm thuế doanh nghiệp.

Ireland là một trong những quốc gia hàng đầu trên thế giới về đầu tư trực
Photo credit: The Economist.
tiếp nước ngoài so với GDP (xem biểu đồ). Phần lớn các nước khác trong danh sách cũng là những nước nhỏ có thuế doanh nghiệp thấp. Luxembourg, là một ví dụ, chỉ chiếm 0,07% GDP của thế giới nhưng chiếm tới 10% trữ lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu. Nói chung cạnh tranh là điều tốt, nhưng nhận định đó không đúng với thuế.

Các công ty đa quốc gia có thể tránh thuế vì thực tế có quá ít những nguyên tắc thống nhất về nghĩa vụ thuế xuyên quốc gia. Người Mỹ đánh thuế thu nhập toàn cầu của một công ty dựa trên cơ sở “đăng ký kinh doanh” của công ty đó (nơi đặt trụ sở chính), không phân biệt nơi thu được lợi nhuận. Châu Âu lại áp dụng cách đánh thuế trên lợi nhuận thu được ở nước sở tại. Trên thực tế hai biện pháp này thường được sử dụng kết hợp. "Anh có thể khích hai nước tranh cãi nhau về mức thuế [để thu hút doanh nghiệp đầu tư] rồi chẳng cần cư trú ở nước nào cả," một chuyên gia trong ngành cho biết.

Toàn cầu hóa và tầm quan trọng ngày càng tăng của tài sản vô hình, như bằng sáng chế, đã biến các khái niệm về trụ sở kinh doanh và nguồn thu nhập không còn mấy hữu ích. Các chuỗi cung ứng hiện nay phức tạp đến mức khó có thể truy nguồn gốc của lợi nhuận để áp thuế. Ví dụ, nếu giá trị của một công ty dược chủ yếu nằm ở các bằng sáng chế, thì công ty đó có thể di chuyển đến một thiên đường thuế và hưởng thuế suất thấp mà không cần di chuyển các cơ sở sản xuất.

Tăng đầu tư ra nước ngoài để tránh thuế doanh nghiệp có thể khiến lưu chuyển vốn trở thành tâm điểm chỉ trích của công chúng.

Những người theo chủ nghĩa thuần túy cho rằng, vì xét cho cùng tất cả các loại thuế đều đánh vào cá nhân, việc chạy khắp thế giới theo các công ty trốn thuế sẽ chẳng có tác dụng gì; cách tốt hơn là xóa bỏ thuế doanh nghiệp và thay vào đó là tăng thuế bán hàng. Có hai quan điểm phản đối chính sách này. Thứ nhất, vì lý do vốn sở hữu, người ta sẽ muốn đánh thuế các cổ đông chứ không phải người tiêu dùng. Thứ hai, thuế doanh nghiệp là loại thuế tạo nên phần lớn doanh thu của các nước nghèo mà giàu tài nguyên, nơi có rất ít lao động thuộc biên chế chính thức và ở đây rất dễ trốn thuế bán hàng.

Áp dụng một hệ thống đặc biệt về thuế tài nguyên và thuế đất đánh vào các công ty khai thác mỏ có thể là một cách để đối phó với tình trạng này. Chuyên gia về thuế Michael Devereux tại trường Kinh doanh Said của Oxford, dự đoán rằng về lâu về dài cạnh tranh về áp thuế và tránh thuế sẽ làm xói mòn nền tảng thuế doanh nghiệp ở các nước giàu. Ông đề xuất một loại thuế giá trị gia tăng có khấu trừ phí lao động và các chi phí đầu vào khác. Thuế đó sẽ giống như thuế đánh vào lợi nhuận siêu ngạch (excess profits), hay "đặc lợi" (rents).

Một nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài đích thực sẽ mang lại lợi ích thuần túy (unalloyed benefit). Nhưng việc tăng đầu tư ra nước ngoài để tránh thuế doanh nghiệp cũng có tiềm năng khiến việc luân chuyển vốn trở thành mục tiêu chỉ trích của công chúng, như luân chuyển tự do thương mại và di cư. Vụ kiện Apple của Liên minh châu Âu có thể chỉ là sự khởi đầu. Nhiều người nhìn nhận các công ty toàn cầu không bị kiểm soát và việc giải điều tiết là yếu tố trợ giúp cho thông lệ doanh nghiệp tồi tệ nhất này. Tuy nhiên, những căn bệnh khác của nền kinh tế như thu nhập thực tế thấp, nhân công bất bình đẳng và không lưu động có lẽ một phần là do sự thất bại trong tự do hóa thị trường hàng hóa hơn nữa.

Phương Anh
The Economist

Các vùng quê của châu Âu: Không phải luôn ở trong cụm công nghiệp

Photo courtesy Lluis Satorre Gonzalez.

Sức hấp dẫn khi đặt nhà máy sản xuất ở vùng nông thôn.

Bờ biển phía Đại Tây Dương của Ireland là vùng quê xa xôi chuyên nuôi cừu. Hành trình đến Tuam, một thị trấn khiêm tốn chỉ có 9.550 cư dân, quang cảnh chủ yếu là cây xanh, đồi thấp, những bức tường đá và sương mù. Tuy nhiên, vị trí không mấy quen thuộc này lại có bộ mặt công nghiệp công nghệ cao. Cách xa trục đường chính của Tuam là một loạt các nhà xưởng với khoảng 400 kỹ sư phần mềm, các nhà nghiên cứu và chuyên gia trí tuệ nhân tạo, đến ra từ 35 quốc gia. Kế bên là một nhà máy sản xuất với khoảng 650 công nhân đang tạo ra bảng mạch, camera và cảm biến cho xe ô tô không người lái.

Nhà xưởng ở Tuam thuộc Valeo, một công ty phụ tùng xe hơi của Pháp với giá trị thị trường khoảng 12 tỷ euro (tương đương 13,4 tỷ đô-la Mỹ), đã mang lại 500 triệu euro doanh thu trong năm ngoái từ việc sản xuất ra 100 triệu sản phẩm trên toàn thế giới. Ông Jacques Aschenbroich, giám đốc điều hành của công ty cho hay Tuam là "trung tâm nghiên cứu và phát triển lớn nhất của chúng tôi chuyên về máy quay 3600, với năng suất rất lớn." Tuam cũng đã trở thành nơi đặt nhà máy chính trên toàn cầu của Valeo, có nhiệm vụ giám sát nhà máy sản xuất cảm biến ở Hungary, Mexico và Trung Quốc.

Điều gì khiến các công ty của Pháp đặt hoạt động sản xuất ở một nơi rất xa các khách hàng như BMW, Range Rover và Google, cách xa cả thị trường lao động, và cách Dublin một quãng đường dài? Lịch sử chính là một câu trả lời: năm 2007, Valeo mua lại Connaught, một công ty địa phương thành công trong việc sản xuất máy quay cho xe ô tô, và mong muốn mở rộng ở đó hơn là di chuyển đi nơi khác. Fergus Moyles, người điều hành Tuam (và quản lý công ty cũ), cho biết không khó để thu hút nhân tài ở đây. Đại học Galway gần đó là một nguồn nhân tài đáng kể. Giá bất động sản ở mức thấp nên có sức hấp dẫn đối với các kỹ sư nước ngoài, ví dụ kỹ sư đến từ Ấn Độ, những người có ý định tiết kiệm khi ở Ireland. Giá đất thấp cũng giúp ích khi người ta muốn xây dựng cơ sở mới.

Xây dựng nhà xưởng ở một địa điểm xa xôi như Tuam đi ngược lại với suy nghĩ thông thường về lợi ích từ các cụm công nghiệp. Nhưng Valeo không phải là công ty duy nhất nhìn thấy lợi ích từ việc đặt cơ sở hoạt động ở các vị trí xa xôi. Turbomeca, đơn vị trực thăng động cơ của Safran, một công ty quốc phòng lớn của Pháp, có trụ sở tại Pyrenees trên biên giới Pháp-Tây Ban Nha. Vùng Bordes, chỉ với 2.700 cư dân, khiến Tuam trông giống như một thành phố lớn. Một lần nữa, lịch sử lại giải thích sự lựa chọn ban đầu về địa điểm: Turbomeca được thành lập trước chiến tranh, sau đó di chuyển đến một nơi xa xôi để tránh quân Đức xâm lược. Ở vùng nông thôn có nghĩa là các quan chức địa phương và nhân viên biết thông cảm và cực kỳ trung thành.

Đối với các công ty sản xuất cao cấp dựa trên công nhân có tay nghề cao, một vị trí có khí hậu dễ chịu, điều kiện nhà ở tốt, và các điều kiện hấp dẫn khác, như trường học cho các gia đình có con nhỏ, là điểm cộng rất lớn. Một ví dụ khác là Medtech, một công ty khởi nghiệp sản xuất robot phẫu thuật cho cột sống và não. Sản phẩm "Rosa" của công ty được sử dụng rộng rãi trong các bệnh viện của Mỹ và châu Âu. Người sáng lập công ty, Bertin Nahum, bắt đầu gây dựng công ty ở ngoại ô Montpellier, một thị trấn đẹp như tranh vẽ trên bờ biển Địa Trung Hải.

Chẳng phải ông Nahum sẽ có điều kiện tốt hơn khi đặt trụ sở ở cụm công nghiệp cùng các công ty công nghệ y tế khác, ví dụ như ở Grenoble, hoặc xung quanh Paris hay sao? "Tôi thích được ở đây hơn," ông cho biết, và vui vẻ nói về sự nhiệt tình ủng hộ của các thị trưởng địa phương và rằng việc thu hút nhân tài không gặp khó khăn nào cả. Robot của ông có thể được đưa tới bệnh viện dễ dàng từ sân bay Marseille. Với nhiều người, vùng ngoại ô vẫn hấp dẫn hơn nhiều so với ở trung tâm.

Phương Anh
The Economist