Journey in Life: 03/19/17

Sunday, March 19, 2017

Sự lôi cuốn lâu đời của sân khấu truyền thống Nhật Bản

Amazing Onnagata. Photo courtesy federica intorcia.

Hơi thở mới cho hình thức nghệ thuật lâu đời

Sự tây hóa của Nhật Bản chỉ là trên bề mặt. Minh chứng về mặt âm nhạc cho điều này chính là sự háo hức của người Nhật khi họ định kỳ từ bỏ con người công nghệ cao để tới đắm mình trong trong những nhà hát lâu đời. Hình thức nghệ thuật nổi tiếng nhất là Kabuki, trình diễn nhiều cảnh bạo lực, máu me và cảnh quan hệ kích động giữa những người nam giả nữ (tất cả các diễn viên đều là nam giới). Nhưng người Nhật cũng yêu thích sự bó buộc đầy tinh tế của nhà hát kịch Noh, và vẻ đẹp thanh nhã thánh thiện của nhạc Gagaku, hầu như không thay đổi trong 1.000 năm qua. Mỗi hình thức này đều đã được UNESCO công nhận là đại diện "di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại", để cả thế giới có thể thực sự chú ý đến.

Gagaku, nghĩa đen là "nhã nhạc", khởi đầu là âm nhạc cho yến tiệc xuất phát từ Trung Quốc đời Đường. Về sau loại âm nhạc này mới được sử dụng trong chùa chiền, đền thờ Shinto và trong triều đình Nhật Bản. Mặc dù đoàn nhạc gia đình hoàng gia giờ đây chỉ công diễn đôi lần mỗi năm, nhiều đoàn nhạc khác vẫn đang mang loại âm nhạc này đi xa hơn.

Biểu diễn ở sân khấu chật kín khách tại Nhà hát Quốc gia Tokyo là một trong các đoàn nhạc kể trên: đoàn nhạc Reigakusha, đứng đầu là ông Sukeyasu Shiba, ông lão tám mươi tuổi hoạt bát. Trong tấm áo dài lụa kiểu cổ, các nhạc công bất động trên sân khấu như những quân cờ. Rồi âm nhạc dần dần nổi lên với tốc độ rất chậm rãi. Một tiếng sáo cao vút ngân lên theo sau là vài nhịp ngắt quãng trầm ngâm của đàn koto; âm thanh chậm rãi của đàn môi sho—gồm 17 ống tre gắn với nhau theo chiều dọc như các thạch nhũ bằng băng—được tôn thêm bởi ba tiếng vang rền của trống taiko to lớn. “Ma” là từ trong tiếng Nhật có nghĩa là "không gian ở giữa"—trong âm thanh đó là điều người phương Tây chỉ coi là quãng lặng. Trong nhạc lý của Reigakusha, quãng lặng nói lên rất nhiều điều.

Reigakusha cũng chơi bản nhạc mới của ông Shiba trong đó các thanh âm truyền thống được pha với âm nhạc phương Tây, thêm chút chất jazz, nhưng tinh tế đến mức thế giới âm thanh Gagaku vẫn được giữ nguyên vẹn. Trả lời phỏng vấn sau đó, ông giải thích rằng ông không chỉ làm sống lại những nốt nhạc bị lãng quên, mà ông còn mở rộng đối tượng khán giả. "Cho tới nay, Gagaku đã được tấu lên cho thần thánh, Đức Phật và các vị hoàng đế. Bây giờ tôi muốn cả trẻ em thưởng thức, vì vậy chúng tôi tới các trường học biểu diễn, và đẩy nhanh tiết tấu." Việc nhại các bài hát vô nghĩa được ưa thích theo kiểu Gagaku hài hước được các nghệ sĩ của ông gần đây đăng trên mạng Internet có thể giúp lan truyền loại hình này, nhưng ông Shiba thừa nhận rằng Gagaku vẫn là sở thích của thiểu số.

Nhạc công được đào tạo bài bản của ông kiếm sống bằng việc dạy piano và violin, và bằng cách làm nhà sư trong các đền, chùa. Nhưng ông tin rằng tương lai của loại nhạc này sẽ tươi sáng như trong quá khứ. Là bậc thầy chơi sáo ryuteki, ông mỉm cười nhớ lại quá khứ của mình: "Cha tôi chơi ryuteki trong đoàn nhạc hoàng gia, cũng như ông nội tôi, cũng như cha ông đời trước, và cứ như vậy qua tám thế kỷ."

Trong khi đó, trên các sân khấu nhỏ bằng gỗ khắp Nhật Bản, kịch Noh vẫn đang được biểu diễn như 600 năm trước đây trên hòn đảo lưu đày Sado. Tại Nhà hát kịch Noh Quốc gia ở Tokyo, buổi diễn kịch ma quái đưa khán giả vào một thế giới thậm chí còn tinh tế hơn nhiều so với Gagaku. Các diễn viên phục sức lộng lẫy tạo hình như pho tượng—với những khoảnh khắc diễn xuất xuất thần—và giọng nói buồn thảm kèm theo tiếng sáo và trống, tạo nên cảm giác của một giấc mơ.

Người hâm mộ loại hình nghệ thuật này ở phương Tây gồm W.B. Yeats, nhà thơ Ireland, và Peter Brook, giám đốc nhà hát. Một trong số tín đồ người Nhật của loại hình này là ông Toshio Hosokawa, nhà soạn nhạc đã kết hợp sự nghiệp tiên phong thành công ở châu Âu và sự tuân thủ trung thành với cội nguồn Nhật Bản. Kịch Noh, ông nói, đã cuốn hút ông bằng khả năng thanh tẩy qua cách tiếp xúc với thế giới tinh thần, và thông qua sự phụ thuộc vào sức mạnh của sự im lặng, qua diễn xuất những cử chỉ nghi thức của các nhạc công và diễn viên trước một tiếng trống hoặc một lần vung kiếm. "Âm nhạc của tôi là thư pháp vẽ trên tấm vải của không gian và thời gian", ông Hosokawa nói. "Chuyển động lặng lẽ trong không khí—như khi người chơi trống thực hiện các cử chỉ—cũng sống động chẳng kém gì âm thanh. Và chuyển động như vậy ẩn chứa trong âm nhạc của tôi."

Có phải tất cả điều này nghe quá tinh tế tới mức khó chịu? Khán giả Nhật Bản thế kỷ 17 chắc chắn đã nghĩ như vậy, và kết quả là Noh bị đánh bật khỏi sân khấu chính bởi loại hình Kabuki điên cuồng và sặc sỡ, vốn trái ngược hẳn với Noh. Thay vì các biểu cảm khắc khổ của Noh, Kabuki hấp dẫn bởi vẻ táo bạo đối với tầng lớp thương gia—và cả samurai, bất chấp việc các võ sĩ bị cấm tham dự các buổi biểu diễn có cảnh tượng hư hỏng của loại hình này.

Các vở hài kịch và bi kịch thế kỷ 18 được khán giả đổ xô đến xem tại nhà hát Kabuki-za ở Tokyo đại diện cho một loại nghệ thuật rực rỡ về biên đạo và mạnh mẽ về thể chất, với những câu chuyện về tình yêu và cái chết vẫn cộng hưởng mạnh mẽ đối với khán giả thế kỷ 21. Có một điểm chung của tất cả loại hình nghệ thuật này với sân khấu Broadway và West End ở London, đó là sự phấn khích, đặc biệt là khi một trong những ngôi sao Kabuki-za huyền thoại xuất hiện trên sân khấu, vốn chính là nét tinh túy của Nhật Bản. Ở đây, bạn cũng thấy được tinh thần của nền văn hóa cổ xưa vẫn hừng hực— phía sau bề mặt hiện đại.

Quỳnh Anh
The Economist

"Die in the last ditch" nghĩa là gì?

An Afghan National Policeman looking out for insurgents. Photo courtesy ResoluteSupportMedia.

'Die in the last ditch' = hy sinh trong chiến hào cuối cùng -> nghĩa là chiến đấu đến cùng (to fight till death).

Ví dụ
The rebels (kẻ phiến loạn) are completely on their own, and their only options are surrender (đầu hàng) or die in the last ditch.

So Southerners flocked to visit the inmates (bạn chung tù) — and to declare their willingness to “die in the last ditch” for the Cause.

Many MPs see an engaging and loyal companion, someone who would die in the last ditch, or karaoke booth, for the party and movement he loves.

Illinois Democrats are, however, selective constitutionalists: They will die in the last ditch defending the constitution’s provision that says no government pension can be “diminished or impaired.”

Phạm Hạnh

Hàn Quốc và Nhật Bản có thể bất hòa, nhưng Busan và Fukuoka vẫn giữ được mối quan hệ tốt đẹp

Busan to Fukuoka Hydrofoil. Photo courtesy Jeremy Thompson.

Có lịch sử chung, thường xuyên trao đổi thương mại và tranh cãi vặt về những bức tượng bị đánh cắp

Trong hàng thế kỷ, wako, những tên cướp biển đê tiện của Nhật Bản, vẫn lẩn lút trong vô số vịnh nhỏ quanh đảo Tsushima, khoảng giữa quần đảo Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên, và thường xuyên cướp phá vùng bờ biển của Hàn Quốc. Năm 1592 tướng Toyotomi Hideyoshi và 200.000 quân bắt đầu cuộc chiến xâm lược Imjin dài bảy năm xuất phát từ đảo Tsushima, cập bến Busan - bờ biển phía nam Hàn Quốc. Nhiều thế kỷ trước gốm sueki, hình thức đồ gốm mới, được truyền từ Hàn Quốc đến Nhật Bản qua Tsushima.

Ngày nay hầu như chỉ có những người có thì giờ rảnh rỗi đi chuyến phà kéo dài một giờ từ Busan đến Tsushima: ngư dân, khách bộ hành đường dài và những thiếu niên đi chơi trong ngày. Tuy nhiên, mỗi năm một lần, một phái đoàn Hàn Quốc ăn vận trang phục đầy màu sắc của phái viên thế kỷ 17 đi phà sang bên kia. Họ tái hiện chuyến đi sứ Joseon tongsinsa (Thông tín sứ), nghĩa là "chia sẻ thiện ý từ Joseon" (tên cổ của Hàn Quốc), nhiệm vụ bắt nguồn từ sau chiến tranh Imjin để tái khẳng định quan hệ hữu nghị giữa vua Hàn Quốc và shogun (tướng quân) Nhật Bản.

Các phái viên đi theo tuyến đường 2.000 km, từ Hanyang, tên cũ của Seoul, đến Edo, Tokyo ngày nay, qua Busan và Tsushima. Các sứ thần mang theo chiếu thư về tình hữu nghị, và rất nhiều tác phẩm nghệ thuật rực rỡ của Hàn Quốc. Qua hơn hai thế kỷ, hơn chục chuyến đi như vậy đã đưa các nhà thơ, họa sĩ, diễn viên nhào lộn và cả nhà thư pháp từ Hàn Quốc sang Nhật Bản; khi khởi hành từ Busan, họ đã có khoảng 400 nghệ sĩ trong đoàn. Khoảng 1.800 người nữa tham gia từ phía Nhật Bản. Dân làng xếp hàng trên đường phố để chào đón họ, chờ đợi cả đêm để nhận được một bài thơ hoặc một bức tranh vẽ.

Ngày nay, hai chính phủ còn cách mối giao lưu thân mật như vậy cả chặng đường dài. Tại vùng biển phía đông bắc Tsushima, hai bên tranh chấp một cụm đá (Hàn Quốc gọi là Dokdo và người Nhật Bản gọi là Takeshima), và tranh cãi về lịch sử. Nhật Bản thôn tính Hàn Quốc vào năm 1910 và bóc lột không thương tiếc cho đến năm 1945; nhiều người Hàn Quốc cảm thấy Nhật Bản đã làm quá ít để chuộc lỗi cho những hành động thực dân tàn bạo.

Một trong những sự việc đau đớn nhất cho người Hàn Quốc là việc bắt ép hàng chục ngàn phụ nữ vào nhà thổ của quân đội Nhật Bản. Các nhóm dân sự Hàn Quốc đã dựng một bức tượng bằng đồng hình ảnh "người phụ nữ giải khuây" bên ngoài đại sứ quán Nhật Bản tại Seoul vào năm 2011, như một lời mắng nhiếc hàng ngày đến các nhà ngoại giao bên trong. Tháng 12, một bức tượng tương tự đã được dựng lên bên ngoài lãnh sự quán Nhật Bản tại Busan. Trong một cơn giận dữ, chính phủ Nhật Bản, vốn cho rằng họ đã giải quyết vấn đề này bằng cách đồng ý bồi thường cho những phụ nữ giải khuây còn sống sót hồi năm 2015, đã triệu hồi Đại sứ của Nhật tại Seoul cũng như Lãnh sự tại Busan. Cả hai người này vẫn chưa trở lại vị trí của họ.

Tranh cãi cũng đe dọa phá vỡ trao đổi kéo dài nhiều thế kỷ giữa Busan và thành phố chị em tại Nhật Bản, Fukuoka, nằm cách khoảng 200 km qua eo biển Tsushima. Cả hai thành phố gần gũi với nhau hơn là hai thủ đô. Trong những năm 1960, người dân Busan dễ bắt được tín hiệu truyền hình Nhật Bản hơn là sóng truyền hình từ Seoul. Máy Karaoke, ngày nay là món đồ phổ biến ở cả hai quốc gia, lần đầu tiên đến Hàn Quốc qua Busan, hồi những năm 1980.

Năm ngoái ghi nhận kỷ lục 1,2 triệu người Hàn Quốc đi du lịch bằng phà đến Kyushu, hòn đảo có thủ phủ là thành phố Fukuoka để mua sắm, thưởng thức ẩm thực và tắm onsen (suối nước nóng). Các chuyến bay giữa Busan và Fukuoka đã tăng gấp đôi kể từ năm 2010, lên đến tám chuyến khứ hồi một ngày. Akihiko Fukushima quận trưởng Fukuoka nói Busan là geta-baki de iku: nghĩa là đủ gần để đi dép lê sang thăm, giống như đi dạo quanh thăm hàng xóm.

Trao đổi giữa hai bên vẫn khá sôi nổi, bất chấp chuyến thăm năm 2012 của ông Lee Myung-bak, tổng thống Hàn Quốc vào thời điểm đó, đến Dokdo, khiến quan hệ ngoại giao rơi vào tình trạng bế tắc. Năm đó sự kiện Fukuoka Asia Collection, show diễn thời trang thường niên, mời các nhà thiết kế từ Busan, và hiện nay vẫn vậy (Busan cũng đáp lễ bằng một sự kiện tương đương). Các tổ chức của cả hai bên đã cùng làm việc trên một hồ sơ chung về tài liệu lịch sử ghi lại những chuyến Joseon tongsinsa cho UNESCO. Các nhà báo của Nhật báo Busan DailyNishinippon Shimbun ở Fukuoka vẫn tham gia vào chương trình trao đổi—một việc rất đáng chú ý ở các quốc gia có phương tiện truyền thông thường xuyên đi theo chủ nghĩa dân tộc.

Mối đe dọa từ bức tượng thần
Năm 2013 một trường hợp cá biệt ở địa phương đe dọa kết thúc vĩnh viễn các buổi liên hoan cuồng nhiệt trên Tsushima để tôn vinh các chuyến tongsinsa. Năm trước đó vài tên trộm Hàn Quốc đã đánh cắp một bức tượng nhỏ có từ thế kỷ 14, được cho là làm tại Hàn Quốc, từ ngôi chùa Kannonji nhỏ bé trên đảo. Cảnh sát Hàn Quốc tìm được nó ngay sau đó. Thế nhưng, tòa án địa phương ngăn cản trao trả bức tượng về Tsushima, với lý do có thể bức tượng đã bị cướp hàng thế kỷ trước do bọn wako từ một ngôi chùa Hàn Quốc mà nay bỗng nhiên họ đòi trả lại. Người dân trên đảo tức giận nói với đoàn Hàn Quốc tham dự lễ hội rằng họ chẳng cần phải tới nữa. Nhưng người Nhật vẫn tiếp tục tự tổ chức các lễ tưởng niệm; một trong những người tham gia là Akie Abe, đệ nhất phu nhân Nhật Bản, bà tuyên bố có một tủ lạnh đặc biệt chỉ để kimchi, món cải thảo muối vốn là món ăn dân tộc của Hàn Quốc. Và năm 2014, khi các du khách đến từ Busan đòi trao trả bức tượng, Tsushima lại cho phép lễ hội tiến hành, bất chấp sự phản đối từ những người phe chủ nghĩa dân tộc Nhật Bản.

Năm ngoái, bảo tàng Bokchon tại Busan tổ chức kỷ niệm hai thập kỷ trao đổi các món đồ tạo tác với bảo tàng ở Fukuoka, hoàn toàn miễn phí. Một người phụ trách cho biết trao đổi như vậy sẽ không thể thực hiện nếu không có tình bạn cá nhân và tin tưởng lẫn nhau. Sekko Tanaka, vị trụ trì đã nghỉ hưu của đền Kannonji, cho hay ông cảm thấy bị tòa án "phản bội". Tuy nhiên, ông đón chào du khách Hàn Quốc đến nhà khách của ngôi đền.

Các nhà ngoại giao Nhật Bản nói rằng họ coi sự trao đổi ấy là thước đo chính xác về thái độ của công chúng đối với Hàn Quốc hơn là những bài báo gay gắt và biểu tình ồn ào của các nhóm theo chủ nghĩa dân tộc có tổ chức. Cư dân đảo Tsushima, không giống những người Nhật Bản khác, dùng từ chingu, từ vay mượn tiếng Hàn Quốc, để chỉ người bạn thân. Du khách Hàn Quốc thích thú khi biết, vào những ngày trời quang đãng, đứng từ đảo Tsushima họ có thể thấy được đường bờ biển của Busan; chỉ có vài kẻ phá đám cho rằng những hình ảnh ấy trên thực tế chỉ là ảo ảnh.

Quỳnh Anh
The Economist

Sir Philip Sidney tử thương

The Fatal Wounding of Sir Philip Sidney by Benjamin West

Bài trước: Trận Bosworth

By Benjamin West - Transferred from en.wikipedia to Commons by Ntetos using CommonsHelper., Public Domain, Link

Trận Bosworth

Một phần của Chiến tranh Hoa Hồng
Trận Bosworth, của James William Edmund Doyle (1826-1905)

King Richard III at Bosworth Field. This engraving was published in: Doyle, James William Edmund (1864) "Richard III" in A Chronicle of England: B.C. 55 – A.D. 1485, Luân Đôn: Longman, Green, Longman, Roberts & Green, pp. p. 453 Retrieved on 12 tháng 11 năm 2010.


Đánh bại Armada Tây Ban Nha

Đánh bại Armada Tây Ban Nha (1588), tranh của Philippe-Jacques de Loutherbourg (1796).


Bởi Philipp Jakob Loutherbourg conKhông rõ, Phạm vi công cộng, Liên kết

Chân dung Elizabeth I lúc nước Anh đánh bại Hạm đội Tây Ban Nha

Chân dung Elizabeth I lúc nước Anh đánh bại Hạm đội Tây Ban Nha (Armada), năm 1588 (minh họa phía sau); bàn tay nữ hoàng đặt trên quả địa cầu biểu trưng sức mạnh toàn cầu của nước Anh.

The portrait was made to commemorate the defeat of the Spanish Armada (depicted in the background). Elizabeth I's international power is reflected by the hand resting on the globe.

Bài trước: Chiến tranh Hoa Hồng

Bởi Formerly attributed to George Gowerhttp://www.luminarium.org/renlit/elizarmada.jpg, Phạm vi công cộng, Liên kết

Chiến tranh Hoa Hồng

Một cảnh trong hồi một, vở kịch Henry VI trong đó những người ủng hộ hai gia đình York và Lancaster chọn cho mình cành hồng đỏ hoặc trắng.

The Scene in the Temple Garden from Henry VI, Part 1

Thời gian 1455 – 1485
Địa điểm Vương quốc Anh, Wales, Calais
Kết quả Những thắng lợi ban đầu của phe York dẫn tới hơi 20 năm cai trị của dòng họ này
Chiến thắng cuối cùng của phe Lancaster
Sự thành lập Vương triều Tudor


Bởi Painter: John Pettie (1839–1893), Royal Academy (R A); engravers: Frederick (1810–78) and Alfred Heath (1812–96)[2] – This image comes from the Google-hosted LIFE Photo Archive where it is available under the filename b9505191d3c09ce9.This tag does not indicate the copyright status of the attached work. A normal copyright tag is still required. See the copyright section in the template documentation for more information.Earliest known publication of this engraving is in The Art Journal, 1874 (36:132). The painting, of which Pettie had produced a previous version, was exhibited in 1871 at the Royal Academy Exhibition.[1], Phạm vi công cộng, Liên kết

William của Orange cập bến Torbay

Prince of Orange Landing at Torbay, engraving by William Miller after J M W Turner (Rawlinson 739), published in The Art Journal 1852 (New Series Volume IV). George Virtue, London, 1852.

Cách mạng Vinh quang
Địa điểm Đảo Anh
Thời gian 1688–1689[nb 1]
Tên gọi khác Cách mạng năm 1688, Chiến tranh Kế vị Anh, Cách mạng không đổ máu
Tham gia Xã hội Anh
Kết quả Vua James II bị lật đổ, hai vua William và Mary lên nối ngôi
Chiến tranh Jacobite tại Scotland
Chiến tranh Williamite tại Ireland
Chiến tranh với Pháp; nước Anh tham chiến trong Đại Liên minh
Luật về các quyền ra đời ở nước Anh


Bởi William Miller – engraving, Phạm vi công cộng, Liên kết

Cờ miền Nam tung bay tại đồn Sumter sau trận chiến

Cờ miền Nam tung bay tại đồn Sumter sau trận chiến.

Alma A. Pelot – Bob Zeller, The Blue and Gray in Black and White: A History of Civil War Photography. Westport, Conn.: Praeger, 2005, p. 42. (Interior of Fort Sumter.—Stereoscopic Views of the Ruins Inside.), Chronicles of the American Civil War, April 16, 2005, retrieved May 11, 2008.

Confederate flag flying over Fort Sumter -- photo from 1861. Image is a detail from a stereoscopic photograph taken by Alma A. Pelot on the morning of April 15, 1861.

Bài trước: Trận đồn Sumter

Bởi Alma A. Pelot – Bob Zeller, The Blue and Gray in Black and White: A History of Civil War Photography. Westport, Conn.: Praeger, 2005, p. 42. (Interior of Fort Sumter.—Stereoscopic Views of the Ruins Inside.), Chronicles of the American Civil War, April 16, 2005, retrieved May 11, 2008., Phạm vi công cộng, Liên kết

Trận đồn Sumter

Bombardment of Fort Sumter, 1861.
Tranh của Currier & Ives (1837–1885).

Phạm vi công cộng, Liên kết

Nhật Bản đầu hàng

Ngoại trưởng Nhật Bản Mamoru Shigemitsu ký văn kiện Nhật Bản đầu hàng trên tàu USS Missouri với sự giám sát của tướng Richard K. Sutherland, 2 tháng 9, 1945.

Japanese Foreign Minister Mamoru Shigemitsu signs the Instrument of Surrender on behalf of the Japanese Government, on board USS Missouri (BB-63), 2 September 1945. Lieutenant General Richard K. Sutherland, U.S. Army, watches from the opposite side of the table. Foreign Ministry representative Toshikazu Kase is assisting Mr. Shigemitsu.

Bởi Army Signal Corps – Naval Historical Center Photo # SC 213700, Phạm vi công cộng, Liên kết

Dụ ngôn Người làm công trong vườn nho

Người làm công trong vườn nho tranh gỗ của Jacob Willemszoon de Wet, thế kỷ 17.

"Vả, nước thiên đàng giống như người chủ nhà kia, tảng sáng đi ra để mướn người làm công cho vườn nho mình. Khi người chủ đã định giá với người làm công, mỗi ngày một đơ-ni-ê, thì sai họ vào vườn nho mình. Ước chừng giờ thứ ba, người chủ lại ra, thấy những kẻ khác rảnh việc đứng trong chợ, thì nói cùng họ rằng: Các ngươi hãy đi vào vườn nho ta, và ta sẽ trả tiền công phải cho. Họ liền đi. Ước chừng giờ thứ sáu và giờ thứ chín, người chủ lại ra, cũng làm như vậy. Ước chừng giờ thứ mười một, chủ ra, lại thấy những kẻ khác đứng trong chợ, thì hỏi rằng: Sao các ngươi đứng đây cả ngày không làm gì hết! Họ trả lời rằng: Vì không ai mướn chúng tôi. Người chủ nói với họ rằng: Các ngươi cũng hãy vào đi trong vườn nho ta.

Đến tối, chủ vườn nho nói với người giữ việc rằng: Hãy gọi những người làm công mà trả tiền công cho họ, khởi từ người rốt cho đến người đầu. Những người làm công mướn từ giờ thứ mười một đến, lãnh mỗi người một đơ-ni-ê. Rồi tới phiên những người đầu đến, tưởng lãnh được nhiều hơn; song họ cũng lãnh mỗi người một đơ-ni-ê. Khi lãnh rồi, lằm bằm cùng chủ nhà, mà rằng: Những người rốt ấy chỉ làm một giờ, mà chủ đãi cũng như chúng tôi, là kẻ đã chịu mệt nhọc cả ngày và giang nắng. Song chủ trả lời cho một người trong bọn họ rằng: Bạn ơi, ta không xử tệ với ngươi đâu; ngươi há chẳng định cùng ta một đơ-ni-ê sao? Hãy lấy của ngươi mà đi đi; ta muốn trả cho kẻ rốt này bằng như đã trả cho ngươi vậy. Ta há không có phép dùng của cải ta theo ý muốn ta sao? Hay là ngươi thấy ta ở tử tế mà lấy mắt ganh sao? Đó, những kẻ rốt sẽ nên đầu và kẻ đầu sẽ nên rốt là như vậy."
Phúc âm Matthew 20:1-15 (KTTV 1934)

Luận giải
Đơ-ni-ê là đồng tiền đúc bằng bạc được sử dụng trong thời Đế quốc La Mã. Giờ làm việc bắt đầu vào lúc 6 giờ sáng, như vậy giờ thứ mười một là khoảng 4 hoặc 5 giờ chiều. Người làm công đa phần là người nghèo nhận những công việc thời vụ trong mùa thu hoạch, họ cần tiền để đắp đổi qua ngày. 

Cựu Ước cũng khuyên dạy những người thuê mướn họ:
Không được ức hiếp người làm thuê nghèo khó và bần cùng, dù người đó là anh em mình hay là ngoại kiều tạm cư trong xứ và trong thành của anh em. Phải thanh toán tiền công cho người ấy mỗi ngày, trước khi mặt trời lặn, vì người ấy vốn nghèo khó chỉ còn biết trông chờ vào đó. Nếu không, người ấy sẽ kêu van Đức Giê-hô-va về anh em và anh em phải mắc tội.
– Phục truyền luật lệ ký 24: 14 – 15

Câu chuyện lấy bối cảnh trong cuộc sống hằng ngày nhưng ngụ ý về Vương quốc Thiên đàng. Vườn nho biểu trưng cho hội thánh, chủ vườn là Chúa. Những người làm công biểu trưng cho những người đáp lời kêu gọi của Chúa, thời gian trong ngày là đời người, và tiền công là sự sống vĩnh cửu. Sự kêu gọi đến với mỗi người vào những thời điểm khác nhau trong suốt cuộc đời. Một số đáp lời sớm, một số trễ hơn, và số khác chỉ đáp lời lúc cuối đời. Nhưng bất cứ ai chấp nhận lời mời đều sẽ được hưởng sự sống đời đời. Bởi vì con người được cứu rỗi bởi ân điển của Thiên Chúa, không phải bởi nỗ lực bản thân.

Thông điệp của dụ ngôn này thật rõ ràng. Trong khi chúng ta vẫn mặc định rằng người làm việc khó nhọc hơn xứng đáng với tiền công lớn hơn, thì người chủ vườn nho hành động ngược lại; do đó một số người xem đó là không công bằng. Nhưng chủ vườn bảo với họ rằng không ai bị xử tệ cả, bởi vì họ đã đồng ý với chủ vườn về số tiền họ sẽ nhận cho ngày làm việc của họ (một đơ-ni-ê cho một ngày công là tiền lương khá hậu hĩnh vào thời đó). Ông cũng bảo cho họ biết ông đang sử dụng tài sản của ông theo ý ông muốn. Luật lệ trên Vương quốc Thiên đàng là do Thiên Chúa thiết lập: sự cứu rỗi dành cho loài người hoàn toàn phụ thuộc vào ân điển của Ngài, không do công đức hoặc nỗ lực hoặc nếp sống khổ hạnh của bất cứ ai, bởi vì không ai có thể đáp ứng những chuẩn mực đạo đức của đấng chí thánh.

Ai là người làm công được nhận vào giờ thứ mười một? Có thể là những người tiếp nhận ân điển lúc lâm chung, cũng có thể là những kẻ bị rẻ rúng dưới mắt những tín đồ lâu năm luôn sốt sắng trong các bổn phận tôn giáo. Nhưng chớ vội vàng kết luận. Trong ý nghĩa sâu xa hơn, tất cả chúng ta đều là người làm công giờ thứ mười một, và chúng ta đều được Chúa mời vào vương quốc của ngài cách vinh dự. Vì vậy, không cần phải đoán định ai là người làm công giờ thứ mười một. Thông điệp của dụ ngôn là chúng ta được cứu rỗi chỉ bởi ân điển của Thiên Chúa, không bởi những gì chúng ta có.

Phản ứng của một vài người trong số những người làm công trong vườn nho đối với điều họ cho là bất công, biểu trưng cho sự tự mãn thuộc linh thường dễ nhận thấy trong vòng những tín hữu lâu năm. Họ tin rằng phần thưởng dành cho họ phải tương xứng với thời gian họ phụng sự Thiên Chúa. Đó là kết quả của cách suy nghĩ cho rằng sự cứu rỗi đến từ công đức, và đó là điều mà dụ ngôn này muốn bác bỏ.


Bởi Jacob de Wet (I) (fl. 1632–1675) – The Yorck Project: 10.000 Meisterwerke der Malerei. DVD-ROM, 2002. ISBN 3936122202. Distributed by DIRECTMEDIA Publishing GmbH., Phạm vi công cộng, Liên kết