Journey in Life: 01/14/13

Monday, January 14, 2013

Bài học của Joseph Woodland dành cho các nhà phát minh


Bản vẽ từ hồ sơ bằng sáng chế mã vạch nguyên thủy của Woodland và Silver, Văn phòng Bằng sáng chế Mỹ năm 1949. Nguồn: http://www.google.com/patents/US2612994. bởi Edward Tenner

Tờ The New York Times hiếm khi tôn vinh (honors) một nhà phát minh bằng một cáo phó (obituary) ở trang nhất. Nhưng vừa rồi báo đã dành một bài viết cho N. Joseph Woodland, người đã nhận bằng sáng chế mã vạch vào năm 1952 cho các nguyên tắc ông đã phát triển với Bernard Silver - bạn cùng lớp đại học của ông.

Sáng kiến (epiphany) của Woodland đã tới khi ông ngồi trên một bãi biển, rê ngón tay trên cát, suy ngẫm các cách để mã hóa dữ liệu về sản phẩm (sau khi được biết mong ước của một vị chủ tịch của một công ty buôn bán đồ ăn là làm sao để có thể tự động kiểm tra toàn bộ quy trình). Ông nhận ra rằng ông có thể áp dụng mã Morse, mà ông đã học được khi còn là một hướng đạo sinh (Boy Scout), một cách trực quan - theo một loạt các dòng kẻ với chiều rộng khác nhau mà có thể được đọc bởi một máy quét.

Phát minh sau đó đã được áp dụng mà bạn có thể thấy ở hầu hết các sản phẩm khi đi mua hàng, nhưng câu chuyện về việc phát minh này làm thế nào đã trở thành một thành công đáng kinh ngạc như vậy mang lại một số bài học ngược với lẽ thường (counterintuitive) về phát minh.

Đầu tiên là, đôi khi lấy tiền mặt luôn lại là điều khôn ngoan. Woodland và Silver đã chia sẻ số tiền trị giá chỉ có 15.000 USD cho bằng sáng chế, một giá quá rẻ (pittance) nếu xét đến tổng giá trị số tiền tiết kiệm được mà phát minh sau này mang lại cho nền kinh tế. Tuy nhiên, các máy quét đầu tiên có thể đọc mã vạch, và do đó có thể thương mại hóa phát minh của họ, đã không được áp dụng cho tới tận năm 1974, rất lâu sau khi bằng sáng chế của họ đã hết hạn. Trong thời gian đó, Woodland gia nhập đội ngũ nhân viên của International Business Machines Corp (IBM). Ông hy vọng IBM sẽ mua sáng chế và biến nó thành một sản phẩm có thể tiêu thụ được, nhưng IBM đã không làm như vậy. (Năm 1952, Woodland và Silver đã bán bằng sáng chế cho Philco, sau đó Philco lại bán nó cho RCA.) Hầu hết các bằng sáng chế không tạo ra nguồn thu nhập nào cả, và rất ít bằng sáng chế có thể sánh với một công việc chuyên nghiệp ổn định với một kế hoạch nghỉ hưu tại một công ty hàng đầu thế giới.

Quá hiện đại
Thứ hai là, mặc dù Woodland tiếp tục phát triển các hệ thống mã hóa tại IBM, không một ý tưởng nào trong số đó là mang tính đột phá (transformative) so với ý tưởng mã vạch ban đầu của ông. Hệ quả tất yếu (corollary) là dù một ý tưởng nguyên thủy xuất sắc thế nào đi nữa, đôi khi nó quá hiện đại mà những phần còn thiếu của một phiên bản thử nghiệm thành công phải mất hàng thập kỷ sau mới xuất hiện. Giày với đế chứa đầy không khí (air-filled soles) đã được cấp bằng sáng chế từ năm 1882, nhưng phải mất một thế kỷ và 150 bằng sáng chế sau đó, Nike mới có thể giới thiệu một mẫu giầy không bị xì hơi (deflate) như mẫu ban đầu đó. Ý tưởng nguyên thủy về máy fax có từ năm 1843 như các giáo sư kỹ thuật và tác giả Henry Petroski đã chỉ ra.

Nó cũng có thể là điều may (blessing) khi các nhà phát minh không thể lường trước được những bước đột phá bổ sung cần thiết để làm cho các ý tưởng của họ trở thành hiện thực. Ngược lại họ có thể bị nản chí. Trong trường hợp với bằng sáng chế này, máy quét mã vạch phụ thuộc vào sự phát minh ra laser, mà đã không xuất hiện cho tới tận những năm 1960. Máy in laser, cần thiết để tạo ra các mã vạch tùy chỉnh, đã không xuất hiện cho tới những năm 1980. Mạch điện tử cũng cần phải được thu nhỏ trước khi quét (mã) có thể được áp dụng vào ngành bán lẻ và các bối cảnh phi công nghiệp khác.

Phần mềm cũng xuất hiện chậm (lagged) hơn. Các thuật toán Luhn, phát hiện những lỗi phổ biến nhất của đọc điện tử (electronic reading) và human transcription, đã không được cấp bằng sáng chế cho đến năm 1960. Các mã sản phẩm của sách và tạp chí được kiểm tra bằng các thuật toán Verhoeff tiên tiến hơn, được giới thiệu vào năm 1969. Sự phát triển này là cần thiết cho một sáng tạo mới nổi tiếng, Amazon.com. Jeff Bezos, người sáng lập Amazon, đã chọn sách là loại sản phẩm đầu tiên của mình vào năm 1994, do - Số sách tiêu chuẩn quốc tế ISBN (International Standard Book Number) có thể được thực hiện bằng mã vạch - sách đã trở thành loại sản phẩm được mã hóa lớn nhất trên thế giới.

Thứ ba là, phát minh Woodland-Silver cũng cần điều có thể được gọi là nhà doanh nghiệp tiêu chuẩn hóa. Nếu đại đa số các nhà bán lẻ và nhà sản xuất không thể đồng ý với nhau về một định dạng chuẩn, nhiều mã khác nhau cho các nhà cung cấp khác nhau sẽ trở thành cơn ác mộng đóng gói bao bì. Vì vậy, Giám đốc điều hành siêu thị Boston - Alan Haberman đã tập hợp đại diện của các công ty hàng đầu lại với nhau để lựa chọn phiên bản cuối cùng của mã vạch, và được biết đến như là Mã sản phẩm chung (Universal Product Code).

Các sáng chế chính trị
Cuối cùng, sự ảnh hưởng của phát minh của Woodland vượt ra ngoài việc đơn thuần chỉ là cắt giảm chi phí, theo những cách bất ngờ. Các hiện vật, như nhà sử học công nghệ Langdon Winner gợi ý, có tính chính trị, và máy quét đã thay đổi hoàn toàn quan hệ quyền lực.

UPC bắt đầu như là một công cụ đơn giản dành cho kế toán và kiểm soát hàng tồn kho. Tuy nhiên, những nhà bán lẻ thông minh nhất (savviest), dẫn đầu là Wal-Mart Stores Inc., nhận ra rằng với sức mạnh máy tính ngày càng tăng, mã vạch có thể làm nhiều hơn thế. Các giám đốc điều hành bán lẻ có thể thu thập thông tin tuyệt vời hơn về giá cả và doanh thu, và thử nghiệm nhanh chóng và hiệu quả. Với kiến ​​thức này, và với quy mô sức mua của họ đã cung cấp đòn bẩy lớn, Wal-Mart có thể dựa vào các nhà bán lẻ với giá luôn thấp hơn, nâng cao tỷ suất lợi nhuận và mở rộng hơn nữa.

Trong thực tế, nhu cầu của Wal-Mart lớn đến mức buộc các công ty sản xuất có lợi nhuận ở Mỹ phải thuê sản xuất ngoài (outsource) cho các nhà máy nhân công rẻ tại châu Á. Các nhà kinh tế tự do và bảo thủ có thể không đồng ý về việc thay đổi này có lợi đối với nước Mỹ như nào, nhưng họ đồng ý rằng UPC và mức độ tập trung bán lẻ đã đảo lộn mối quan hệ lịch sử giữa các nhà sản xuất và người bán.

Các nhà phát minh, như các nhà khoa học và các nhà văn, thường ngạc nhiên một cách khó chịu bởi những hậu quả từ các ý tưởng của họ. Nhà phát minh chiếc ghế ngả (reclining chair) hiện đại, người Hungary tên là Anton Lorenz, chân thành tin rằng ghế ngả là các ghế mang lại sức khỏe, bảo vệ tim mạch chứ không phải là biểu tượng của cuộc sống ngồi nhàn mà chúng đã trở thành.

Sáng chế của Woodland chắc chắn đã nâng cao cuộc sống của riêng tôi, nhưng tôi cũng phải thú nhận dè dặt. Là một độc giả tại Thư viện công cộng New York, tôi được truyền cảm hứng từ bức tranh tuyệt vời của Asher Durand về tình bạn trong thiên nhiên "Kindred Spirits". Năm 2005, giám đốc điều hành thư viện bán đấu giá bức tranh để gây quỹ, chân thành mong đợi một nhà đầu tư (angel) nào đó sẽ mua nó cho Bảo tàng Nghệ thuật Thủ đô (Metropolitan Museum of Art), nơi nó sẽ tiếp tục được dành cho hàng triệu cư dân gần Hudson Valley chiêm ngưỡng. Tuy nhiên, thay vào đó, người thắng cuộc đấu giá là người thừa kế tập đoàn Wal-Mart - Alice Walton, người đã đưa nó trở thành trung tâm của Bảo tàng Crystal Bridges do bà thành lập ở Bentonville, Arkansas, với dân số chỉ có 35.300 và mất hơn hai giờ đồng hồ để bay từ thành phố lớn gần nhất.

Tất cả điều này xảy ra chỉ bởi một kỹ sư thành thạo (versed in) mã Morse lướt những ngón tay của mình trên cát biển hôm nào. Có lẽ bài học thật sự là hãy cẩn thận với những gì bạn mơ ước.

Edward Tenner là tác giả cuốn "Why Things Bite Back: Technology and the Revenge of Unintended Consequences" và "Our Own Devices: How Technology Remakes Humanity."

Sơn Phạm
Bloomberg

Mười điều thiện

I. Dẫn:

Con người ta bị trôi lăn trong luân hồi cũng vì tạo tác những nghiệp ác, những nghiệp ấy do từ hành động (thân), lời nói (khẩu), và tưởng nghĩ (ý) mà sanh ra; để diệt trừ những nghiệp ác, đức Phật có nói Kinh Mười Điều Thiện (Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh), nó là muôn gốc lành, sẽ được thân tướng tốt đẹp, ở cõi thanh tịnh trang nghiêm, thành tựu viên mãn.

II. Mười Điều Thiện:

Phật nói Kinh Mười Điều Thiện nầy ở cung Ta Kiệt La Long Vương. Trong pháp hội nầy, Phật gọi Ta Kiệt La Long Vương dạy rằng: "Tất cả chúng sanh vì tâm sai khác nên tạo các hạnh nghiệp chẳng đồng ; do hạnh nghiệp ấy, chúng sanh bị luân hồi trong 6 đường. Long Vương !Ngươi có thấy đại chúng trong hội nầy và tất cả chúng sanh thân hình và sắc tướng của mỗi người đều sai khác chăng ? Có những thân hình sắc tướng sai khác như vậy, là đều do tâm tạo thân nghiệp, ngữ nghiệp và ý nghiệp hoặc lành, hoặc dữ mà gây ra. Những người có trí tuệ, rõ biết lý nhân quả như vậy rồi, nên tu thiện nghiệp, bởi có tu thiện nghiệp mới cảm được thân tướng tốt đẹp, quốc độ trang nghiêm.

Long Vương! Ngươi thử xem thân tướng của Như Lai và các vị Bồ Tát có đủ các tướng tốt hào quang sáng chói như thế, đều do tu thiện nghiệp mà được. Còn tất cả chúng sanh hình sắc hoặc xấu hoặc tốt, hoặc lớn hoặc nhỏ, mỗi người đều do tự tâm tạo nghiệp chẳng lành gây ra. Bởi vậy nếu các ngươi biết tu thiện nghiệp và dạy bảo mọi người hiểu lý nhân quả mà tu thiện nghiệp, thời quyết định sẽ khỏi các quả báo xấu xa, được thân tướng tốt đẹp, quốc độ trang nghiêm như chư Phật, Bồ Tát.

Long Vương! Ngươi phải biết Bồ Tát có một pháp có thể dứt tất cả sự khổ não trong các đường dữ, là Bồ Tát luôn luôn quan sát tu tập thiện pháp, làm các thiện pháp niệm niệm tăng trưởng; không một niệm ác xen lẫn, bởi vậy các ác pháp bị dứt hẳn, các thiện pháp được viên mãn..."

Thiện pháp nghĩa là pháp lành: Tất cả đạo quả Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật đều y vào pháp ấy mà thành tựu. Pháp ấy là mười nghiệp lành gồm có:

Không giết hại.
Không tà dục.
Không trộm cắp.
Không nói dối.
Không nói thêu dệt.
Không nói lưỡi hai chiều.
Không nói lời hung ác.
Không tham muốn.
Không giận hờn.
Không si mê.

Mười nghiệp lành nầy nằm trong ba nghiệp: Thân Nghiệp, Khẩu Nghiệp và Ý Nghiệp.

A) Thân Nghiệp: Những hành vi thuộc về thân có 3 :

a) Không giết hại: Có nghĩa là không hủy hoại cuộc sống của mọi loài, không tự hủy hoại mình, không sai người khác giết hại, thấy người khác giết hại không sanh lòng mừng vui; trái lại người Phật Tử phải tìm mọi cách để cứu sống chúng sanh, chẳng hạn như mua chim, mua cá thả cho chúng sống đời tự do, không bị cảnh cá chậu, chim lồng. Cá nuôi trong chậu, chim bị nhốt trong lòng dù cho có được ăn uống đầy đủ nhưng nào có được tự do, khác chi với cảnh con người bị tù đày, chúng ta không muốn bị tù đày tại sao chúng ta lại tù đày chúng, chúng ta muốn luôn luôn được tự do, chúng ta nên mua chim, cá thả để cho chúng tự do.

b) Không trộm cắp: Không chiếm đoạt về phần mình những của cải của người khác từ đất đai, nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ là những vật lớn cho chí vật nhỏ như cây kim, sợi chỉ cũng không chiếm đoạt của người khác. Người ta không thuận cho, tìm cách chiếm đoạt, tự tiện lấy dùng cũng thuộc về trộm cắp. Dùng sức mạnh để chiếm đoạt của người khác là tội cướp, dùng những phương tiện xảo trá để lường gạt người, cho đến trốn thuế cũng thuộc về trộm cắp, tất cả những việc sai trái như thế đều không làm, trái lại đem tiền của, phương tiện của mình để giúp đỡ cho chúng sanh được an vui, ấm no đó là sự bố thí đáng làm.

c) Không tà dục: Nghĩa là không sống trác táng, ăn chơi, cờ bạc, rượu chè, hút sách. Trái lại phải tu hạnh tiết dục thanh tịnh, tu sĩ cấm hẳn tà dục, hàng cư sĩ lập gia đình phải tiết dục, chỉ sống một vợ một chồng, trong sạch từ thể chất đến tinh thần. Tà dục là gốc sanh tử luần hồi, người tu theo đạo Phật phải dứt bỏ dần dần tà dục, để trở nên người thanh khiết.

B) Khẩu Nghiệp: Thuộc về khẩu nghiệp là những lời nói thô, có 4 cách :

a) Không nói dối: Nghĩa là không nói sai sự thật như :

Không thấy nói thấy, thấy nói không thấy.
Nghe nói không nghe, không nghe nói nghe.
Biết nói không biết, không biết nói biết.
Biết trái nói phải, biết phải nói trái.

Gặp trường hợp đặc biệt phải nói không đúng sự thật để cứu mạng chúng sanh, buộc lòng phải nói, chẳng hạn như có một người đi săn đuổi theo một con thú, ta thấy lối con thú ấy chạy, người thợ săn đến gặp ta, hỏi ta có thấy con thú chạy lối nào không, để cứu con thú khỏi chết, ta có thể nói không thấy. Như vậy, ta đã thực hành được hạnh Từ Bi. Việc nói chơi cũng không nên nói, trong Kinh Di Giáo, Phật có cấm bất hý luận.

b) Không nói lời hung ác: Không nên chưởi rủa người, dù là bậc trên trước, có quyền thế, như ông bà, cha mẹ cũng không nên ỷ vào quyền thế ấy mắng chửi người hay con cháu, dù người đó có lầm lỗi, trái lại nên dùng lời dịu dàng, chỉ dạy cho người ta thấy những lỗi lầm, để lần sau tránh.

c) Không nói thêu dệt: Không nên thêm bớt để chuyện không nói có, chuyện có nói không, dùng lời lẻ làm cho câu chuyện sai với sự thật trắng thành đen, đen thành trắng, hoặc dùng lời văn hoa, bóng bẩy để mê hoặc làm hại người, những việc đó đều không nên làm, trái lại nên nói lời đúng đắn, chơn thật với lòng mình.

d) Không nói lưỡi hai chiều: Không nên nói đòn xóc, đến bên A nói xấu bên B, đến bên B nói xấu bên A , mục đích gây chia rẽ, làm cho hai bên thù địch nhau. Trái lại nên dùng lời lẽ để hóa giải mọi sự thù nghịch.

C) Ý Nghiệp: Những suy nghĩ, tưởng tượng có 3 cách tạo thành ý nghiệp :

a) Không tham muốn: Không tham muốn năm món dục lạc ở đời: Sắc đẹp, của cải, danh vọng, ngủ nghỉ, ăn uống. Tham muốn sắc đẹp hao tốn tiền của, nhiều khi phải dùng những mưu chước tồi tệ làm mất phẩm chất con người, khi không thỏa mãn đâm ra ghen tương, thù hận giết chóc, tù đày. Tham của cải phải đày đọa tấm thân làm cho có nhiều tiền của, nhiều khi phải dùng mưu sâu, chước độc để hại người đoạt của. Tham danh vọng phải vào lòn ra cúi, nhiều khi phải lao tâm cực trí để được cái danh hão huyền. Tham ăn cao lương mỹ vị làm cho thân thể dễ sanh bệnh tật. Tham ngủ nghỉ làm cho trí não trở nên đần độn. Năm món dục lạc làm cho con người bị tù đày, tội lỗi, là nguyên nhân chính trói buộc người ta trong sanh tử luân hồi. Chẳng những người tu phải biết tiết dục mà còn biết tri túc, tức là hạn chế dần lòng khát khao ham muốn, chỉ nên sống cuộc sống tạm đủ, không đua chen với đời, nhiều người tu cơm ăn chỉ cần đủ no, áo mặc chỉ cần đủ ấm, nơi ở chỉ cần có chỗ nằm tránh mưa, tránh nắng, tránh luồng gió độc mà thôi, những người đó không bị vật chất ràng buộc, họ sẽ được mau giải thoát.

b) Không giận hờn: Giận hờn là một tánh xấu, rất tai hại, nó như một ngọn lửa mạnh, đốt cháy cả mọi vật chung quanh cả mình lẫn người. Trong kinh Phật có dạy: Một niệm giận hờn nổi lên, thì trăm nghìn cửa nghiệp chướng đều mở. Lữa tức giận một phen phát ra, liền đốt tất cả rừng công đức" . Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người nào không giận tức, sẽ được tám món tâm pháp sau đây:

Không tâm khổ não.
Không tâm giận hờn.
Không tâm tranh giành.
Tâm nhu hòa ngay thẳng.
Tâm từ bi như Phật.
Thường làm lợi ích yên ổn cho các chúng sanh.
Thân tướng trang nghiêm, chúng sinh tôn kính.
Có đức tính nhẫn nhục được mau sanh lên cõi Phạm Thiên.

Nhờ quán từ bi, tâm sanh lòng từ bi, chúng ta mới không giận hờn khi có người làm cho chúng ta giận hờn, những người làm để cho ta sanh tâm giận hờn, vì sự ít hiểu biết nên họ mới làm như thế, chúng ta nên thương họ, chỉ có tấm lòng từ mới bao dung, tha thứ được lầm lỗi của kẻ khác.

c) Không si mê: Si mê là nguồn gốc của mọi tội lỗi, vì si mê người ta không phân biệt phải trái, không nhận định rõ đúng sai, chấp theo sự hiểu biết của riêng mình nó che lấp sự thật, chân lý. Người không si mê là người có trí huệ, tu tập thiện nghiệp, nên quán nhân duyên sanh tử để diệt trừ vô minh, tinh tấn trên đường giải thoát.

III. Kết Luận:

Phật dạy Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo để cho chúng ta dứt bỏ những tội lỗi, nhen nhúm và tăng trưởng dần dần những nghiệp lành, để giải thoát dần những ràng buộc trong sanh tử luân hồi, tiến dần lên Phật quả.

Hành mười điều thiện, chúng ta làm được những lợi ích sau đây:

Cải tạo thân tâm: Trước nhất chúng ta cải tạo thân tâm của chúng ta, nếu một người dốc lòng chí nguyện thì trong vòng 7 năm, thân tâm người ấy sẽ hoàn toàn thay đổi.

Cải tạo hoàn cảnh: Một người thực hành theo mười điều thiện, người ấy sẽ cảm hóa được những người chung quanh, người ấy ăn hiền, ở lành sẽ được những người khác yêu mến, không có những cuộc tranh đua, hóa giải những tị hiềm, đố kỵ, tạo ra sự an lạc cho mọi người.

Chánh nhân thiên giới: Tu theo mười điều thiện là gieo nhân chân chánh, để kiếp sau sẽ sanh về cõi Trời, hưởng phúc lạc đầy đủ, tốt đẹp.

Căn bản Phật quả: Ba đời mười phương chư Phật đều phải trải qua công hạnh tu tập theo mười điều thiện, nó là cửa ngỏ dẫn người ta đi dần lên Phật quả.

Vì vô minh che lấp trí huệ nên thân, khẩu, ý tạo tác ra nhiều điều ác, những điều ác trong thế gian quy thành mười loại nghiệp ác, muốn trừ nó, chúng ta đừng làm ác, đương nhiên là chúng ta tạo được nghiệp lành, hiện tại làm lợi ích cho chúng sanh, được mọi người kính yêu, tạo được hoàn cảnh yên vui, tránh khỏi bị đọa tam đồ khổ, lại còn được hưởng phước báo ở cõi Người, Trời và cõi Niết Bàn.

Tu theo mười điều thiện được lợi ích trước mắt như thế, chẳng những cho ta mà còn cho chúng sanh, kiếp nầy cũng như mai sau, người tu nên theo con đường quan trọng do Phật đã chỉ bày.
Phúc Trung

Israel cấm người mẫu siêu gầy


Các nhà lập pháp Israel đã ra lệnh cấm những người mẫu thiếu cân không được diễn trên sàn catwalks và đóng các phim quảng cáo, một biện pháp họ hi vọng rằng sẽ giảm tình trạng rối loạn ăn uống và thúc đẩy hình ảnh cơ thể khỏe mạnh.

Luật được thông qua vào ngày Thứ Hai vừa qua (19/3/2012), quy định nam giới và phụ nữ sẽ không được tuyển dụng vào nghề người mẫu trừ khi bác sĩ đánh giá họ không bị thiếu cân, với chỉ số BMI không ít hơn 18,5.

Luật cũng cấm việc sử dụng những người 'trông có vẻ thiếu cân' và yêu cầu các nhà quảng cáo phải nói rõ nếu họ sử dụng phần mềm chỉnh sửa (graphic manipulation) để các người mẫu trông có vẻ gầy hơn trong những bức ảnh quảng cáo.

Rachel Adato một trong các nhà lập pháp thúc đẩy dự luật, nói trước khi bỏ phiếu rằng bà hi vọng Luật sẽ bảo vệ giới trẻ khỏi việc theo đuổi những hình mẫu vẻ đẹp không thể đạt được. "Đẹp không có nghĩa là thiếu cân, đẹp không nên là biếng ăn (anorexic)', bà nói.

Việc sử dụng các người mẫu gầy (wafer-thin) trên sàn diễn và các tạp chí của ngành thời trang từ nhiều năm đã dấy lên những tranh luận sôi nổi (heated debates). Các nhà phê bình nói rằng thông lệ này thúc đẩy hình ảnh cơ thể không khỏe mạnh trong phụ nữ, góp phần dẫn tới chứng biếng ăn (anorexia) và các rối loạn ăn uống khác.

Các nhà thiết kế và tổ chức thường bị phê bình là đã không ngừng gây sức ép đối với các người mẫu của họ để gầy một các không khỏe mạnh. Sau trường hợp hai người mẫu châu Mỹ Latin biếng ăn bị chết vào năm 2006, các nước bao gồm Italy và Ấn Độ đã cấm người mẫu thiếu cân trên sàn diễn.

Adi Barkan, một nhiếp ảnh gia thời trang và quản lý người mẫu người Israel, người hợp tác với Adato xúc tiến dự luật, nói rằng các tiêu chuẩn không tưởng đặt ra bởi ngành thời trang đã trở nên quá nguy hiểm.

"Tôi nhìn lại 15, 20 năm trước đây khi chúng tôi chụp các người mẫu cỡ 38. Ngày này, chỉ là 24." Barkan nói bên lề buổi chụp ảnh ở Tel Aviv. "Có sự khác biệt giữa gầy và quá gầy, giữa sự sống và cái chết," anh nói thêm.

Danit Rozman, một người mẫu Israel đang tham gia buổi chụp ảnh của Barkan, nói việc các phụ nữ trẻ chấp nhận bản thân mình là rất quan trọng. "Tôi nghĩ tốt hơn là mang lại điều gì đó thực tế hơn đối với ngành thời trang và trên thế giới nói chung," Rozman nói.

Sơn Phạm
Reuters

Thế giới là nơi tốt đẹp để sống

Photo: liberationfromthelie

"+ Những đứa trẻ sống giữa những người phê phán thì học lên án.

+ Những đứa trẻ sống trong bầu không khí thù địch thì hay đánh nhau.

+ Những đứa trẻ sống trong sự hãi hùng thường hay sợ sệt, tự ti.

+ Những đứa trẻ sống trong cảnh đau xót thì học được sự đồng cảm.

+ Những đứa trẻ sống trong bầu không khí đố kị thì học được thế nào là tham vọng.

+ Những đứa trẻ sống trong bầu không khí khoan dung thì học được sự nhẫn nại.

+ Những đứa trẻ sống giữa những sự động viên thì học được lòng tin.

+ Những đứa trẻ sống giữa những lời khen tặng đúng lúc thì học được cách đánh giá cao những gì bao quanh chúng.

+ Những đứa trẻ sống trong niềm tự hào thì học được cách phấn đấu.

+ Những đứa trẻ sống trong sự san sẻ thì học được cách trở nên hào hiệp.

+ Những đứa trẻ sống trong sự trung thực và sự công minh thì học được chân lý và lẽ công bằng.

+ Những đứa trẻ sống trong hạnh phúc thì học được rằng thế giới là nơi tốt đẹp để sống."

"Let the cat out of the bag" nghĩa là gì?

Photo: otofun

Cụm từ 'let the cat out of the bag' (để xổng mèo ra khỏi bị), có nghĩa là vô tình để lộ bí mật hay một điều đáng nhẽ sẽ gây ngạc nhiên.

Ví dụ
When Bill glanced at the door, he let the cat out of the bag. We knew then that he was expecting someone to arrive.
It's a secret. Try not to let the cat out of the bag.
I was trying to keep the party a secret, but Jim went and let the cat out of the bag.
Amazingly, not one of the people who knew about the surprise let the cat out of the bag.

Xin lưu ý
Xin đừng nhầm với 'Curiosity killed the cat' (con mèo chết vì tò mò), có nghĩa là tò mò có thể khiến bạn vướng vào rắc rối (thường được dùng để cảnh báo ai đừng nên xoi mói vào chuyện người khác)

Jill: Where did you get all that money?
Jane: Curiosity killed the cat.

'Why are you going away so suddenly?'
'Curiosity killed the cat.'

How to Become Super Awesome!

Đón Mặt trời mọc trên đỉnh núi Phú Sĩ, Nhật Bản. Ảnh chụp 5h sáng, ngày 22/7/2010.

G R E A T = Get Really Excited About Today!

Transform_Jan 14


Freedom is like taking a bath - you have to keep doing it every day!
- Florynce Kennedy

A big part of awareness practice is becoming aware of, and getting free of, what we were taught as children to believe that is not true, and perhaps never was.

Assignment: Today, notice when an unexamined belief robs you of freedom.

Florynce Rae "Flo" Kennedy (February 11, 1916 – December 22, 2000), was an American lawyer, activist, civil rights advocate, and feminist.
Kennedy was born in Kansas City to an African-American family. Her father Wiley Kennedy was a Pullman porter, and later had a taxi business. The second of her parents' five daughters, she had a happy childhood, full of support from her parents, despite experiencing poverty in the Depression and racism in her mostly white neighborhood. She later commented, "My parents gave us a fantastic sense of security and worth. By the time the bigots got around to telling us that we were nobody, we already knew we were somebody."...

Khổng Tử nói rằng...


Khi chúng ta thay tã, tã cũng làm thay (đổi) chúng ta :D

Lời khuyên của Khổng Tử dành cho đàn ông có vợ