Journey in Life: 02/22/13

Friday, February 22, 2013

Nhà tù ở Nhật Bản

Thậm chí cả phạm nhân Nhật Bản cũng quy củ và cư xử tốt.

Với mặt tiền (facade) bằng gạch đỏ, nhà tù Chiba, ngoại ô Tokyo, trông giống như một nhà tù của Anh thời Victoria. Tất cả điểm tương đồng chỉ có vậy (That is where the similarity ends). Các nhà tù ở Anh thường ồn ào, bẩn thỉu và bạo lực, nhưng nhà tù Chiba có hơi hướng giống như nhà ở Spartan cho các cựu chiến binh. Các hành lang và các buồng giam không tì vết (spotless). Tù nhân lần lượt (lock-step) mặc (shuffle) đồng phục sau bảo vệ và cúi đầu trước khi bước vào buồng giam.

Phó giám đốc nhà tù, ông Hiroyuki Shinkai, người đã từng đến thăm nhà tù ở Anh như là một nhà nghiên cứu của Liên Hợp Quốc, đã bị sốc bởi những gì ông thấy. Ông vẫn có thể nhớ lại cảm giác bất ngờ của mình khi nhìn thấy các tù nhân tự do tụ tập (mingling) và nói chuyện. "Triết lý hình sự (penal) của Nhật Bản không như vậy," ông giải thích. Tại Nhật Bản, nói chuyện bị cấm, ngoại trừ thời gian nghỉ. Công việc không được trả lương là một nhiệm vụ, chứ không phải là một sự lựa chọn.

Nhật Bản bỏ tù (incarcerates) các công dân của mình với tỷ lệ thấp hơn nhiều so với hầu hết các nước phát triển: 55 phạm nhân trên 100.000 người so với 149 ở Anh và 716 ở Mỹ. Bộ Tư pháp của Nhật Bản cũng đề cập đến tỷ lệ tái phạm (recidivism) thấp. Tuy nhiên, 188 nhà tù và trung tâm giam giữ của Nhật Bản ngày càng bị chỉ trích khắc nghiệt, đặc biệt là nỗi ám ảnh của họ về các quy tắc hà khắc và bí mật (ngày 21, chính quyền bất ngờ công bố họ đã treo cổ ba người đàn ông vì tội giết người), và việc họ lạm dụng biệt giam (solitary confinement).

Tòa án hình sự ở Nhật Bản từ lâu đã dựa rất nhiều vào lời thú tội như là bằng chứng của tội lỗi. Mặc dù bị cáo có quyền im lặng, việc không thừa nhận một tội ác được coi là người xấu (bad sport). Bên cạnh đó, cảnh sát có động lực mạnh mẽ để moi được một lời thú tội, và có tận 23 ngày để thẩm vấn một nghi phạm, cùng các công cụ 'dã man' (blunt) để làm như vậy, một loạt các sự cố đáng lo ngại xuất hiện gần đây. Các thám tử truy lùng một hacker vô danh đã lấy lời thú tội riêng biệt từ bốn người dân vô tội trước khi bị buộc phải xin lỗi một cách nhục nhã vào tháng Mười Hai. Tỷ lệ kết án ở tòa án là hơn 99%.

Hơn hai phần ba trong số các tù nhân của nhà tù Chiba đã bị kết án vì những tội ác mà họ gây ra, chủ yếu là giết người, đốt phá (arson) hoặc ngộ sát (manslaughter). Một nửa trong số đó đang chấp hành án tù chung thân, và ở Nhật Bản, chung thân có nghĩa là suốt đời. Tù nhân có độ tuổi trung bình là 50. Nhiều người trong số họ đã không bao giờ được sử dụng một chiếc điện thoại di động hoặc thẻ tín dụng. Các cuộc thăm vợ chồng (conjugal visits) bị cấm, do đó hôn nhân tan vỡ.

Trong các xưởng ở nhà tù, các tù nhân lặng lẽ làm giày da và đồ nội thất, được giám sát bởi duy nhất một người bảo vệ không có vũ khí. Không có vụ bạo động nào đã diễn ra trong bất kì một nhà tù nào của Nhật Bản kể từ sau khi chiến tranh thế giới thứ hai. Vượt ngục là rất hiếm, và ma túy và đồ lậu (contraband) gần như không có. Nhà tù lưu ý rằng tỷ lệ một bảo vệ trên 4 tù nhân là chưa bằng một nửa ở Anh. Tuy nhiên, không ai có thể nhớ lại một cuộc tấn công bạo lực nào đối với quản giáo.

Một báo cáo bước ngoặt (landmark) vào năm 1995 bởi Human Rights Watch, một nhóm vận động hành lang, trật tự đáng chú ý này 'đạt được với một chi phí rất cao', bao gồm các hành vi vi phạm các quyền cơ bản của con người và kém rất xa so với tiêu chuẩn quốc tế. Những người châu Âu và Mỹ trong hệ thống nhà tù của Nhật Bản đã có các vấn đề về tâm thần. Tuy nhiên đối với ông Shinkai, sự khác biệt với phương Tây là một điều đáng tự hào. "Tất nhiên, chúng tôi trông có vẻ quá khắt khe đối với người ngoài," ông nói. Nhưng những tù nhân ở đây, ông tiếp tục, tất cả đều đến từ xã hội Nhật Bản. Đối với họ, hệ thống này hoạt động tốt.

Sơn Phạm
The Economist

Tìm hiểu sơ lược tranh chấp Nhật-Trung về quần đảo Điếu Ngư


Tranh chấp hai bên Nhật-Trung về chủ quyền quần đảo Điếu Ngư ngày càng trở nên căng thẳng. Quần đảo này hiện do Nhật quản lý nhưng Trung Quốc và Đài Loan cùng dành chủ quyền.

1. Sơ lược địa lý: Quần đảo Senkaku (tiếng Nhật Senkaku shotō, 尖閣諸島, phiên âm Hán Việt là Tiêm Cát chư đảo), hay 釣魚台 - Diàoyútái (tiếng Hoa), tức Điếu Ngư Đài, có nghĩa là « bục câu cá », có tọa độ vị trí 25° 47′ 53″ Bắc 124° 03′ 21″ Đông, gồm có 5 đảo chính và một số đá, diện tích tổng cộng khoảng 7km², cách bờ biển Phúc Kiến khoảng 320km, cách chỏm đông-bắc Đài Loan 190km, cách nhóm đảo Yaeyama của Nhật là 150km. Đảo lớn nhất có diện tích 4,3km², có tên Nhật Uotsuri-jima, tên Hoa 釣魚島, tức Điếu Ngư Đảo. Các đảo thuộc quần đảo này thì không có người ở.

Quần đảo Senkaku hiện nay do Nhật quản lý, sát nhập hành chính cùng với một số quần đảo khác, vào tỉnh (hay huyện ?) Okinawa, tạo thành quần đảo Ryukyu (Lưu Cầu).

Quần đảo Ryukyu, ở phía nam, cùng với quần đảo Satsunan (Satsunan shotō - Tát Nam chư đảo - trực thuộc tỉnh lỵ Kagoshima), ở phía bắc, tạo thành chuổi đảo (theo hình 1) mang tên Nansei (Nansei Shoto - Nam Tây chư đảo). Quần đảo Nam Tây trải dài từ phía nam đảo Kyūshū cho đến Đài Loan, phía tây là biển Hoa Đông (Mer de Chine Orientale), phía đông là biển Phi Luật Tân (Mer des Philippines), là một phần quan trọng trong « chuổi đảo thứ nhất » chặn Trung Quốc đi ra « biển lớn ». Tuy nhiên, mỗi khi nhắc quần đảo Nansei (Nam Tây) thì mọi người chỉ liên tưởng đến quần đảo Ryukyu (Lưu Cầu).

Hình 1 : Quần đảo Nansei (Nam Tây) gồm hai quần đảo Ryukyu (Lưu Cầu) và Satsunan (Tát Nam), trải dài từ Đài Loan cho đến Kyūshū, tạo thành một hàng rào thiên nhiên chặn Trung Quốc ra « biển lớn ». Quần đảo Senkaku không ghi trên bản đồ vì quá nhỏ, chỉ mà một chấm nhỏ về phía bắc quần đảo Yaeyama. Nguồn Wikipédia.

Quần đảo Satsunan gồm có các quần đảo :

Quần đảo Ōsumi, gồm có các đảo : Tanega-shima, Mage-shima, Yaku-shima, Kuchino-erabu-jima, Take-shima, Iō-jima, Kuro-shima,
Quần đảo Tokara, gồm có các đảo : Kuchino-shima, Nakano-shima, Suwanose-jima, Taira-jima, Akuseki-jima, Kotakara-jima, Takara-jima,
Quần đảo Amami, gồm có các đảo : Amami-ōshima, Kakeroma-jima, Yoro-shima, Uke-shima, Kikaiga-shima, Tokuno-shima, Okinoerabu-jima, Yoron-jima,
Quần đảo Lưu Cầu - Ryūkyū gồm có 2 nhóm quần đảo Okinawa và Sakishima :
Quần đảo Okinawa, gồm có các đảo : Okinawa Hontō, Ie-jima, Izena-jima, Iheya-jima, Tonaki-shima, Agunijima, Kume-jima.
Quần đảo Kerama, thuộc nhóm Okinawa, gồm có các đảo : Tokashiki-jima, Zamami-jima, Aka-jima, Geruma-jima.
Quần đảo Daitō, thuộc nhóm Okinawa, gồm có các đảo : Kitadaitō và Minamidaitō
Quần đảo Sakishima, gồm có các quần đảo :
Quần đảo Miyako, gồm có các đảo : Miyako-jima, Ikema-jima, Ogami-jima, Irabu-jima, Shimoji-jima, Kurima-jima, Minna-jima và Tarama-jima.
Quần đảo Yaeyama, gồm có các đảo : Ishigaki-jima, Taketomi-jima, Kuro-shima, Kohama-jima, Yubu-jima, Iriomote-jima, Hatoma-jima, Aragusuku-jima, Hateruma-jima và Yonaguni-jima.
Quần đảo Senkaku, đã nói trên.
Ngoại trừ các đảo thuộc Senkaku, tất cả các đảo thuộc các quần đảo trên đều có người ở.
Hình 2 : quần đảo Điếu Ngư – Senkaku. Nguồn http://www.globalsecurity.org/military/world/war/images/senkaku-map0.gif

2. Lược sử tranh chấp chủ quyền quần đảo Điếu Ngư:

Vấn đề chủ quyền quần đảo Điếu Ngư, tương tự như nhiều vùng đất của các nước khác bị Nhật chiếm đóng trước Thế chiến thứ hai, đã bị đặt lại khi Hòa ước San Francisco 1951 được ký kết.

Đối với các lãnh thổ mà Nhật chiếm của Trung Hoa, sau khi đầu hàng đồng minh tháng 8 - 1945, theo Tuyên Bố Caire tháng 11 năm 1943 và Hòa ước San Francisco 1951, Nhật sẽ từ bỏ chủ quyền đất Mãn Châu, đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ.

Trên quan điểm pháp lý, điều khoản này mù mờ vì không xác định là Nhật sẽ trả các đảo đó cho bên nào.

Tuy vậy, Hòa ước ký kết giữa Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) và Nhật, được ký tại Đài Bắc ngày 28-4-1952, nội dung ghi rõ việc hủy bỏ hiệp ước Shimonoseki 1895. (Hiệp ước Shimonoseki buộc Trung Hoa phải nhượng vĩnh viễn Đài Loan và quần đảo Bành Hồ cho Nhật). Như vậy Nhật đã hàm ý trả Đài Loan và quần đảo Bành Hồ lại cho Trung Hoa (nhưng không xác định trả cho phe nào, quốc hay cộng ?). Hòa ước 1952, cũng như hiệp ước Shimonoseki 1895, không hề nhắc đến quần đảo Điếu Ngư.

Lý lẽ của Trung Quốc, quần đảo Điếu Ngư thuộc về Trung Quốc từ lâu và quần đảo này phụ thuộc Đài Loan. Họ cho rằng quần đảo này do nhân dân Trung Hoa khám phá từ thế kỷ thứ 15, được sát nhập Trung Quốc vào thế kỷ 16, dưới thời nhà Thanh.

Trung Quốc nhấn mạnh rằng quần đảo này nhượng cho Nhật theo hiệp ước Shimonoseki 1895 cùng với Đài Loan và quần đảo Bành Hồ. Điều này có nghĩa, nếu Nhật phải từ bỏ chủ quyền ở Đài Loan thì cũng đồng thời từ bỏ chủ quyền tại quần đảo Điếu Ngư.

Lập luận của Trung Quốc như thế là dựa trên lịch sử.

Trong khi lập luận của Nhật dựa trên pháp lý. Họ cho rằng trước năm 1895 quần đảo Điếu Ngư thuộc loại đất « vô chủ - terra nullius » và không có người ở. Từ năm 1884 ngư dân Nhật đã khai thác lông chim và phân chim ở các đảo này mà không hề gặp một trở ngại nào từ phía triều đình Trung Quốc, cũng như không gặp một người Hoa nào sinh sống hay khai thác kinh tế ở đây. Nhật đã tiến hành thủ tục sát nhập chủ quyền quần đảo này vào tháng giêng năm 1895, tức trước hiệp ước Shimonoseki 3 tháng.

Một số điểm quan trọng về pháp lý khác, củng cố cho lập luận của Nhật.

Hai bên Trung Quốc (Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa) và Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc) đều không tham dự hội nghị San Francisco 1951, nhưng phía Đài Loan sau này được Nhật lựa chọn là đại diện chính thức của Trung Hoa, ký kết hòa ước năm 1952. Nội dung hòa ước này, như đã nói, không đề cập đến quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Về phía Trung Hoa lục địa, không tham dự hội nghị, Chu Ân Lai có ra tuyên bố không công nhận nội dung Hòa Ước San Francisco 1951. Nội dung tuyên bố này cũng không đề cập đến quần đảo Điếu Ngư. Mặt khác, đại diện quyền lợi của Trung Quốc tại hội nghị San Francisco là ông Gromyko, đại sứ của Liên Xô tại Liên Hiệp Quốc, đã đưa đề nghị 12 điểm, trong đó có khoản dành hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về cho Trung Quốc. Đề nghị này bị hội nghị bác bỏ. Đề nghị của Gromyko cũng không hề đề cập đến đến quần đảo Điếu Ngư.

Việc này rõ ràng hơn khi ta xét qua tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc năm 1958. Tuyên bố này xác định bề rộng lãnh hải 12 hải lý tính từ bờ, « áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ TQ, các hải đảo Đài Loan và các đảo phụ thuộc, đảo Bành Hồ và các đảo phụ thuộc, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa)… ». Văn kiện này không hề nhắc đến « Điếu Ngư Đài ».

Do đó về mặt pháp lý, lập luận của Nhật thuyết phục hơn Trung Quốc.

Trung Quốc (và Đài Loan) lên tiếng dành chủ quyền quần đảo Điếu Ngư sau khi các cuộc khảo sát năm 1965 và 1969 cho thấy vùng thềm lục địa đảo Điếu Ngư có mỏ dầu khí có thể khai thác được. Cùng thời điểm, tháng 12 năm 1969, chiếu theo nội dung Hòa ước San Francisco, Hoa Kỳ trả lại cho Nhật quyền quản lý các đảo đã giao cho Hoa Kỳ quản lý từ sau Thế chiến thứ II.

Quần đảo Điếu Ngư từ năm 1945 đến 1972 được đặt dưới quyền quản lý của Hoa Kỳ.

Trong Thế chiến thứ II, Hoa Kỳ đã hy sinh rất nhiều binh lính để chiếm lần lượt các đảo thuộc chuổi đảo Nansei của Nhật. Gay go nhất là trận chiếm quần đảo Okinawa. Quân lính Nhật đã chiến đấu tại đây cho đến viên đạn cuối cùng, sau đó xáp lá cà theo lối tự sát. Trận chiến kết thúc thì không còn một người nào sống sót. Điều kinh hãi hơn, dân chúng sống ở một số đảo thuộc Okinawa, đã nhảy xuống vực tự sát, sau khi quân Nhật thất bại, chứ không để « lọt » vào tay quân Hoa Kỳ.

Sau khi Nhật đầu hàng tháng 8 năm 1945, theo nội dung của Hòa ước San Francisco năm 1951, Nhật phải khước từ chủ quyền vĩnh viễn ở tất cả các lãnh thổ mà Nhật đã chiếm của các nước trước đó. Theo nghị quyết năm 1947 của ONU về một số đảo do Nhật chiếm, nếu xét thấy có quan trọng về chiến lược, thì được đặt dưới quyền quản lý của Hoa Kỳ. Quần đảo Nansei được xếp vào trong trường hợp này. Nghị quyết ONU 1947 được tái khẳng định qua điều 3 của Hòa Ước San Francisco. Theo đó quần đảo Nansei, bắt đầu từ phía nam vĩ tuyến 29, tức toàn bộ quần đảo Ryukyu, thuộc quản lý của Hoa Kỳ.

Trong thời gian quản lý các đảo này, quần đảo Điếu Ngư được Hoa Kỳ sử dụng như vùng quân sự, dùng vào việc thực tập ném bom, huấn luyện cho các phi công.

Điều ghi nhận khác, mặc dầu được đặt dưới quyền quản lý của Hoa Kỳ nhưng Nhật vẫn giữ được chủ quyền trên pháp lý (souveraineté résiduelle), do đó dân chúng sống tại các đảo này vẫn giữ quốc tịch Nhật mà không có quốc tịch Hoa Kỳ.

Sau khi Hoa Kỳ tuyên bố sẽ trả lại quyền quản lý các đảo cho Nhật vào tháng 12 năm 1969, thì phía Đài Loan, vào tháng 7 năm 1970 cho phép cho hai công ty khai thác dầu của Hoa Kỳ đặc quyền khai thác vùng thềm lục địa thuộc phạm vi quần đảo Điếu Ngư. Lập tức Nhật lên tiếng phản đối. Phía lục địa thì bắt đầu vào tháng 12 năm 1971, ra tuyên bố cho rằng « quần đảo Điếu Ngư từ lâu phụ thuộc Đài Loan, cũng như đảo này, từ lâu là những vùng đất bất khả tách rời của Trung Quốc… Nhân dân Trung Hoa sẽ giải phóng Đài Loan. Nhân dân Trung Hoa sẽ lấy lại đảo Điếu Ngư cũng như tất các các đảo khác phụ thuộc vào Đài Loan ».

Như thế hai phía Trung Quốc (và Đài Loan) đều lên tiếng rất trễ về chủ quyền trên quần đảo Điếu Ngư.

Về quan điểm của Hoa Kỳ về chủ quyền các đảo Điếu Ngư:

Theo nội dung của Hòa Ước San Francisco 1951, quần đảo Điếu Ngư phụ thuộc quần đảo Ryukyu, là phần phía nam của quần đảo Nansei, thuộc quyền quản lý của Hoa Kỳ (vùng đảo phía nam vĩ tuyến 29). Trên quan điểm công pháp quốc tế, quần đảo Ryukyu thuộc Nhật.

Điểm khác, theo nội dung hiệp ước an ninh hỗ tương Nhật-Mỹ năm 1960, chiếu theo một bản ghi nhớ của Nhật đính kèm hiệp ước, Hoa Kỳ sẽ không chỉ bảo đảm an ninh cho các đảo của Nhật mà còn mở rộng ra ở các vùng biển của các đảo này, nếu thấy vùng biển này đe dọa an ninh của Nhật. Thời gian gần đây, chính phủ Obama đã khẳng định việc bao gồm vùng biển thuộc Điếu Ngư vào hiệu lực của Hiệp định hỗ tương an ninh Nhật-Mỹ 1960.

Như thế, nếu không có gì thay đổi, quan điểm của Hoa Kỳ là quần đảo Điếu Ngư thuộc về Nhật.

3. Phương hướng giải quyết:

Tranh chấp Nhật-Trung về quần đảo Điếu Ngư ngày càng gay gắt. Phía Trung quốc gần đây biểu lộ nhiều hành động đe dọa, cho mọi người thấy họ có thể dùng vũ lực để lấy lại các đảo này. Tuy vậy, việc này sẽ khó xảy ra. Một cuộc đụng độ giữa hai bên chắc chắn sẽ lôi kéo Hoa Kỳ (cùng các nước đồng minh) vào vòng chiến, sẽ gây thiệt hại to tác cho TQ.

Mục tiêu các động thái của Trung Quốc có thể chỉ nhằm mục tiêu răn đe, hoặc gây áp lực để "ra giá" cho một cuộc thuơng lượng sắp tới về việc phân định hải phận giữa hai bên. Vấn đề này cho thấy rất phức tạp.

Có ba điều khó khăn cho việc phân định: 1/ bề rộng vùng biển cách giữa Nhật và Trung Quốc không quá 400 hải lý, do đó tạo ra vùng chồng lấn về vùng Kinh tế độc quyền (200 hải lý, tính từ đường cơ bản). 2/Trung Quốc có thể "mở rộng" thềm lục địa (ra đến 300 hải lý), trong khi phía Nhật thì không. 3/ Vấn đề chủ quyền và hiệu lực của quần đảo Điếu Ngư.

Trung Quốc vừa nộp lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa thuộc LHQ (CLCS -Commission des limites du plateau continental), ngày 14-12-2012, hồ sơ thềm lục địa mở rộng của nước này.

Chủ trương của TQ, thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý của nước này là thềm lục địa « kéo dài tự nhiên », mở ra cho đến đường rảnh Okinawa.

Ranh giới phía ngoài thềm lục địa của TQ là đường màu vàng trên bản đồ dưới đây.


Nguồn: Hồ sơ TLD của TQ nộp lên CLCS 14-2-2012.

Việc này tạo sự chồng lấn về vùng biển Độc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa các bên Trung Quốc với Nhật và Trung Quốc với Nam Hàn.

Về việc chồng lấn vùng biển ZEE, phía TQ được lợi thế vì vùng biển phía Nhật tính từ các đảo. Trung Quốc có thể đặt lại hiệu lực ZEE của các đảo thuộc Nhật, cho rằng các đảo này nhỏ, ít dân cư hơn lục địa, do đó phải có hiệu lực giới hạn.

Về chồng lấn thềm lục địa, quan điểm của TQ là dựa theo điều 76 của UNCLOS, với phương pháp Hedberg nhằm xác định bề rộng. Kết quả cho thấy, bề rộng thềm lục địa của TQ lấn ra tới sát bờ rảnh Okinawa. Trong khi phía Nhật sẽ gặp khó khăn nếu áp dụng đúng theo điều 76. Các đảo của Nhật, ngoài quần đảo Điếu Ngư (hiện đang tranh chấp) nằm trên bờ rìa thềm lục địa, thì không có đảo nào có thềm lục địa. Không có thềm lục địa thì làm sao có thể mở rộng thềm lục địa ? Vì vậy Nhật sẽ áp dụng điều 121 về chế độ các đảo và điều 55 về vùng Độc quyền kinh tế (ZEE), theo đó các đảo "có người sinh sống và có nền kinh tế tự túc" thì được hưởng 200 hải lý bề rộng, tính từ đường cơ bản, vùng biển ZEE và thềm lục địa. Dầu vậy, các đảo của Nhật là các đảo nhỏ, do đó tư thế sẽ kém so với lục địa của Trung Quốc.

Tuy nhiên, Nhật chủ trương phân định vùng biển và thềm lục địa theo "đường trung tuyến".

Khác biệt khác giữa hai bên, là chủ quyền quần đảo Điếu Ngư. Phía TQ chủ trương lấy các đảo Điếu Ngư làm "điểm cơ bản" để tính bề rộng lãnh hải, vùng ZEE và thềm lục địa.

Sự khác biệt giữa hai bên vì vậy rất lớn.
Nguồn: Atlas Géopolitique des espaces maritimes – D. Ortolland và J.P. Pirat – Editions Technip2008.

Bản đồ trên cho thấy các chi tiết sơ lược về vùng biển tranh chấp. Đòi hỏi của TQ là đường màu xanh, đòi hỏi của Nhật là đường màu đỏ. Hai bên Trung-Nhật cũng đã có ký kết một tạm ước ngày 11-11-1997 về vùng đánh cá chung, là vùng B trên bản đồ, được xác định theo tứ giác đường màu đỏ.

Việc giải quyết các khác biệt giữa hai bên hứa hẹn nhiều giai đoạn gay cấn. Sẽ không có một mẫu mực pháp lý nào để hai bên dựa vào. Mỗi trường hợp phân định là một trường hợp duy nhứt.

Bài học từ cuộc nội chiến Hoa Kỳ

"Sau này khi viết về văn bản đầu hàng, lịch sử ghi rằng đây là thỏa hiệp của những người quân tử (The Gentlement Agreement). Trên các bảo tàng viện và đặc biệt là bảo tàng viện ở Appomattox Virginia có tranh sơn dầu hình tướng Lee hiên ngang quắc thước trong bộ quân phục xanh dương, tóc và râu bạc, thể hiện hình ảnh người Mỹ anh hùng không bị khuất phục dù thua trận. Toàn thể nước Mỹ hiểu rằng khi một người Mỹ bị nhục, thì dù là Mỹ miền Nam hay Mỹ miền Bắc cũng là một người Mỹ bị sỉ nhục."
Giao Chỉ – San Jose 2005, (bài gốc ở toquocvietnam)




Tháng 4 của Hoa Kỳ cũng là một ngày tháng đáng lưu ý của lịch sử.

Cuộc nội chiến Nam Bắc Hoa Kỳ bắt đầu vào ngày 12 tháng 4-1861. Bốn năm sau vào ngày 9 tháng 4-1865, tướng Lee của miền Nam đầu hàng tướng Grant của miền Bắc.

Cuộc chiến tranh với hàng trăm trận đánh tại miền Ðông Hoa Kỳ trong trọn vẹn 4 năm đã làm cho quân hai bên chết 620 ngàn và hàng triệu người bị thương tích. Miền Bắc thắng trận, thống nhất đất nước, giải phóng nô lệ và hy sinh thêm vị anh hùng Mỹ quốc. Ðó là tổng thống Lincoln.

Trong trận đánh cuối cùng, quân miền Bắc chiếm được Richmond là thủ đô của miền Nam vào ngày 2 tháng 4-1865. Hai ngày sau tổng thống Lincoln của Hoa Thịnh Ðốn đến thị sát Richmond, bước vào dinh tổng thống miền Nam đã bỏ chạy. Tiếp theo là tướng Lee đầu hàng ngày 9 tháng 4 và vào ngày 15 tháng 4-1865, tổng thống Lincoln bị ám sát chết.

Vị tổng thống thứ 16 trở thành vĩ nhân thống nhất đất nước và giải phóng nô lệ nhưng chỉ vui với chiến thắng chưa được một tuần lễ.

Ða số thính giả và độc giả của Dân Sinh cả báo lẫn đài, dù đã mang quốc tịch Mỹ nhưng vẫn nhớ về quốc tổ, về Trưng Vương và các anh hùng dân tộc Việt Nam. Có lẽ sau 30 năm tỵ nạn, di dân Lạc Hồng tại Hoa Kỳ mang quốc tịch Mỹ, chúng ta cũng cần biết thêm chút lịch sử của Hiệp Chủng Quốc với các dữ kiện căn bản của chương trình trung học.

Số là sau chiến tranh dành độc lập, Mỹ thắng Anh trở thành Hoa Kỳ với tổng thống Washington thì tiếp theo đến trận nội chiến chia đôi Nam Bắc là một vết thương đau đớn nhất.

Vào thời kỳ đó, nước Mỹ gồm các tiểu bang Ðông Bắc có thủ đô Hoa Thịnh Ðốn chủ trương giải phóng nô lệ. Tổng thống Hoa Kỳ là luật sư Lincoln tuyên bố quốc gia không thể có hai luật, một nửa có nô lệ, một nửa không.

Quân chính phủ miền Bắc gọi là quân đội Potomac, lấy tên của dòng sông diễm lệ chạy qua thủ đô. Các tiểu bang miền Nam sống về canh nông quyết đòi giữ lại chế độ nô lệ để khai thác cho nông nghiệp. Tổng thống miền Nam là ông Davis. Thủ đô là Richmond và quân đội do tướng Lee chỉ huy được gọi là quân đội Virginia.

Nội chiến xảy ra trong hai nhiệm kỳ của ông Lincoln từ 1861 đến 1865 với hai vị tướng chỉ huy sau cùng là tướng Ulysses S. Grant của miền Bắc và tướng Robert E. Lee của miền Nam. Tuy miền Nam với các tiểu bang ly khai cũng bầu ra một tổng thống là ông Jefferson Davis nhưng nhân vật anh hùng miền Nam là tướng Lee.

Khi cuộc chiến Nam Bắc bùng nổ, nước Mỹ chia đôi. 11 tiểu bang miền Nam ly khai với 9 triệu dân và thêm 4 triệu dân nô lệ da đen. Chính phủ liên bang Hoa Kỳ còn lại 21 tiểu bang miền Bắc với 20 triệu dân.

Ông Robert Lee nguyên là tướng lãnh của quân đội Hoa Kỳ nhưng gốc người miền Nam. Ông đã từng là chỉ huy trưởng trường West Point.

Tháng 4-1861 khởi chiến Nam Bắc, tướng Lee được đề nghị chỉ huy quân đội miền Bắc nhưng ông không nhận và xin từ nhiệm để về đầu quân miền Nam tại Richmond, tiểu bang Virginia. Ông nói là không thể quay lưng với nơi ông đã sinh ra và trưởng thành.

Trong chiến tranh, ông lập được nhiều chiến công và là vị tư lệnh sau cùng của miền Nam đã quyết định đầu hàng.

Khi thủ đô Richmond của chính phủ miền Nam bị thất thủ, các sĩ quan đề nghị rút vào rừng đánh du kích nhưng tướng Lee không chấp nhận.

Cuộc chiến tranh tương tàn đẫm máu làm tổn hại hàng triệu sinh linh Hoa Kỳ, tan nát các đô thị miền Ðông và vùng Virginia. Tất cả đã thể hiện trong tác phẩm và cuốn phim bất hủ Cuốn Theo Chiều Gió mà chúng ta đã đọc cũng như coi nhiều lần suốt thời niên thiếu.

Ngay cho đến bây giờ, tác phẩm này vẫn còn là loại tài liệu được đem dạy ở trường học với sự say mê và hãnh diện của nhiều thế hệ Hoa Kỳ.

Ðó là những bài học gì mà chiến tranh, giết người, đốt nhà, nồi da nấu thịt đã đem lại cho thế hệ nối tiếp. Chúng tôi xin duyệt lại cùng quý vị câu chuyện hậu chiến Hoa Kỳ để so sánh với bài học chiến tranh Việt Nam.

Trước tiên bắt đầu về câu chuyện đầu hàng. Sau chiến tranh, nước Mỹ sưu tầm và dựng lên khắp miền Ðông hàng trăm viện bảo tàng. Mỗi tiểu bang ít nhất là một viện bảo tàng. Mỗi trận đánh trên trận địa xưa cũ với các di tích đều có một viện bảo tàng.

Bằng hội họa, nhiếp ảnh, dữ kiện, thêm vào âm thanh ánh sáng người ta dựng lại lịch sử các cuộc thương thuyết, các cuộc điều binh và các trận liệt. Quân hai bên Nam Bắc, quân xanh, quân đỏ, các tướng lãnh, sĩ quan, binh sĩ và dân chúng. Những cái chết đau thương và anh hùng của cả hai bên, những mối tình bất hủ, tràn đầy hình ảnh em hậu phương, anh tiền tuyến.

Không phải hàng trăm mà có đến hàng ngàn tác phẩm điện ảnh về chiến tranh Nam Bắc. Cả những phim vĩ đại mới ra đời trong vài năm gần đây vẫn còn hình ảnh của cuộc nội chiến ngày xưa.

Cuộc nội chiến đau thương xưa cũ đã là niềm cảm hứng cho tinh thần nhân bản xây dựng trên tro tàn của một thời nội chiến Hoa Kỳ.

Xin nhắc lại một lần nữa, bài học phải bắt đầu từ câu chuyện đầu hàng.
Ðúng như vậy, trong hàng trăm bảo tàng viện về Civil War của Hoa Kỳ, thì viện bảo tàng Appomattox Court House ở Virginia là nơi nổi tiếng nhất vì dựng lên ngay tại ngôi nhà tướng Lee đã đến ký văn bản đầu hàng ngày 9 tháng 4-1865.

Tại đây, câu chuyện về vị tướng phe bại trận miền Nam lại được viết ra và hình ảnh của ông lại được chiêm ngưỡng nhiều hơn cả phe thắng trận.

Lịch sử ghi lại rằng vào sáng ngày 9 tháng 4 cách đây 140 năm, thủ đô miền Nam là Richmond thất thủ, kỵ binh của miền Bắc cùng với 3 quân đoàn bộ binh vây hãm quân miền Nam hết đường tháo lui.

Bộ tham mưu của tướng Lee đề nghị phân tán để giữ lực lượng đánh du kích, nhưng tướng Lee quyết định đầu hàng. Vị danh tướng của Hoa Kỳ trải qua bao nhiêu chiến thắng nhưng sau cùng vì quân số và tiếp vận bị giới hạn nên đành bất lực chấp nhận thua cuộc. Với lá thư riêng ông gửi cho tướng Grant của miền Bắc yêu cầu thu xếp buổi họp mặt.

Ông Grant nhận được thư hết sức vui mừng và bỗng nhiên thấy hết ngay cơn bệnh nhức đầu ghê gớm hành hạ ông từ nhiều ngày qua.

Vị tư lệnh miền Bắc ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với ông tướng tư lệnh miền Nam bại trận.

Trưa ngày lịch sử 9 tháng 4-1865, tướng Lee và một đại tá tùy tùng cưỡi ngựa vượt qua phòng tuyến đến nơi hẹn ước. Hình ảnh ghi lại hai người đi qua đoàn quân nhạc của lính miền Bắc thổi kèn chào đón. Các sĩ quan miền Bắc đưa vị tư lệnh miền Nam vào phòng họp. Nửa giờ sau tướng Grant và đoàn tùy tùng miền Bắc đến.

Cả hai vị tư lệnh đã biết nhau trong cuộc chiến tranh với Mễ Tây Cơ. Họ đã nhắc lại một thời bên nhau trong quá khứ. Tướng Grant sau này thú nhận là ông rất ngần ngại và thực sự hổ thẹn khi phải hỏi tướng Lee nói về quyết định đầu hàng.

Theo quy luật chiến tranh thời đó, quân miền Nam phải giải giới, tước bỏ khí giới và quân dụng. Tự do trở về quê cũ như các dân thường. Tướng Lee đồng ý nhưng chỉ đòi hỏi một điều sau cùng là yêu cầu cho binh sĩ của ông được giữ lại lừa ngựa, vì lính miền Nam đem ngựa từ các nông trại của họ đi chiến đấu. Không phải ngựa của chính phủ như lính miền Bắc.

Tướng Grant thỏa hiệp là sẽ không sửa chữa chính thức trên văn bản nhưng thực tế sẽ cho lệnh để lính miền Nam đem lừa ngựa về nhà mà xây dựng lại nông trại.

Sau này khi viết về văn bản đầu hàng, lịch sử ghi rằng đây là thỏa hiệp của những người quân tử (The Gentlement Agreement). Trên các bảo tàng viện và đặc biệt là bảo tàng viện ở Appomattox Virginia có tranh sơn dầu hình tướng Lee hiên ngang quắc thước trong bộ quân phục xanh dương, tóc và râu bạc, thể hiện hình ảnh người Mỹ anh hùng không bị khuất phục dù thua trận. Toàn thể nước Mỹ hiểu rằng khi một người Mỹ bị nhục, thì dù là Mỹ miền Nam hay Mỹ miền Bắc cũng là một người Mỹ bị sỉ nhục.

Thực vậy, 140 năm sau, chúng tôi đi thăm viện bảo tàng đầu hàng, cô Mary quản thủ cơ sở đã nói rằng dù hình ảnh của miền Nam hay miền Bắc, lịch sử không muốn ghi lại các hình ảnh xấu xa của bất cứ phe nào.

Ở đây là nơi lưu giữ hình ảnh của các anh hùng miền Nam lẫn miền Bắc. Ðặc biệt là hình ảnh của phe bại trận lại được lưu ý hơn cả phe chiến thắng. Lá cờ rách của miền Nam thua trận treo tại thủ đô Richmond bây giờ lại là bảo vật hào hùng của bảo tàng viện đầu hàng.

Và hình tướng Lee cưỡi ngựa đi đến nơi họp mặt với đoàn quân nhạc miền Bắc chào đón. Hình tướng Lee ký tên xong ra đi được sĩ quan và binh sĩ miền Bắc tiễn đưa và vẫy tay chào.

Bây giờ hình tượng của tướng Lee tràn ngập ở miền Nam Virginia. Câu lạc bộ Lee, bảo tàng viện Lee, Fort Lee và các đồn trại của quân đội liên bang mang tên vị tướng thua trận như là một biểu tượng anh hùng. Bởi vì người Mỹ đã thấm nhuần bài học rất Hoa Kỳ. Bài học của người lính dũng cảm cả hai phe trong chiến tranh và người quân tử của thời hậu chiến.

Bài học thứ hai, chúng tôi xin kể thêm về vấn đề nghĩa trang và mộ phần của các liệt sĩ phe chiến bại tại Hoa Kỳ.

Tại nước Mỹ có một nghĩa trang quốc gia nổi tiếng khắp thế giới. Ðó là nghĩa trang Arlington. Ðây là nghĩa trang chính thức của liên bang Hoa Kỳ, của người miền Bắc trong trận chiến Bắc Nam.

Sau cuộc nội chiến, các tiểu bang miền Nam có hàng ngàn nghĩa trang lớn nhỏ chôn cất tử sĩ của phe bại trận và trên đó luôn luôn có lá cờ gạch chéo đã một thời tung hoành trên chiến trường.

Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, hoàn toàn không có tù binh, không có cải tạo tập trung, ai về nhà đó, cùng xây dựng lại quê hương.

Nghĩa trang bên nào bên đó tự lo lấy, xấu đẹp tùy sức. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là ngay tại nghĩa trang quốc gia của phe miền Bắc ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn có một khu chôn cất tử sĩ miền Nam với tượng đài gọi là Confederate Memorial.

Cũng phải nói rằng, thực sự sau nội chiến, dư vị cay đắng giữa Nam Bắc Hoa Kỳ vẫn còn nhiều. Dễ gì mà trút bỏ hận thù ngay sau khi hai bên chết cả gần một triệu người mà một số lớn đã giết nhau khi giáp mặt bằng gươm dao. Hai phe cùng đốt nhà của nhau và cùng tàn phá đô thị và nông trại, đôi khi có cả những hành động dã man như hãm hiếp và tàn sát trẻ em. Cuộc chiến nào mà không có những lần quá độ.

Tuy nhiên, sau chiến tranh Nam Bắc, Hoa Kỳ lại xảy ra chiến tranh với Mễ Tây Cơ nên hai miền hận thù có dịp gần nhau và hàn gắn lại mối thương đau.

Năm 1900 tức là hơn 40 năm sau cuộc chiến, mở đầu cho giai đoạn hòa giải dân tộc và năm 1901 thì các liệt sĩ miền Nam được cải táng đưa vào một khu đặc biệt trong nghĩa trang Arlington gọi là Confederate Section. Tổng cộng gần 500 mộ phần quây tròn chung quanh một tượng đài do nhà tạc tượng danh tiếng là điêu khắc gia Moses Ezekiel thực hiện.

Trên đỉnh của chân bệ hình vòng cung như nóc Tòa Quốc Hội là hình tượng cao 32 feet của một thiếu phụ tượng trưng cho miền Nam. Ðây là hình ảnh bà mẹ của phe bại trận đã có con trai hy sinh cho cuộc chiến. Phía dưới là bài thơ đại ý như sau:
"Ở đây chẳng có vinh quang hay tưởng lệ.
 Ở đây chẳng phải binh đoàn hay cấp bậc.
 Ở đây chẳng có tham vọng hay mưu cầu.
 Ở đây chỉ đơn thuần là nhiệm vụ.
 Những người nằm ở đây đã hiểu rõ
 là họ trải qua gian khổ, đã hy sinh
 đã liều thân và sau cùng đã chết."
Ðó là câu chuyện về các tử sĩ của phe thua trận tại Hoa Kỳ.

Cũng chẳng khác gì vần thơ bất hủ của Thanh Nam dành cho Nghĩa Trang Quân Ðội miền Nam tại Biên Hòa.
Ta như người lính vừa thua trận
            Nằm giữa sa trường nát gió mưa
            Khép mắt cố quên đời chiến sĩ

            Làm thân cây cỏ gục ven bờ

            Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
            Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa…
*          *          *
Chúng tôi có một ông bạn làm thông dịch viên cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vẫn có dịp hướng dẫn cho các nhân viên cao cấp của Hà Nội đến Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn. Tôi vẫn thường bảo rằng ông nên dẫn khách lúc rảnh rỗi đi thăm bảo tàng viện "Ðầu hàng" và nghĩa trang phe thua trận ở Arlington.
Nơi đó thường dạy chúng ta bài học làm người văn minh.

Xem lại lịch sử, chiến cuộc Nam Bắc Hoa Kỳ trong 4 năm rất khốc liệt, máu lửa và ghê gớm vô cùng.

Trong một thời gian ngắn các trận đánh dồn dập, các đô thị bốc cháy lửa cao ngút trời. Cũng tản cư, cũng loạn lạc và chiến tranh để lại các cánh đồng toàn xác chết trong các trận giáp lá cà, đâm chém nhau mặt đối mặt.

Nhưng rồi vết thương nào cũng phải được hàn gắn. Nước Mỹ đã có những bước ngoạn mục đầy màu sắc văn minh ngay từ khi chiến tranh chấm dứt để chấp nhận và tôn trọng người bại trận như những anh hùng. Phải chi những tướng lãnh vị quốc vong thân của Việt Nam như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai của quân đội Việt Nam Cộng Hòa mà hành xử như thế trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ thì sẽ được phe thù nghịch tại Hoa Thịnh Ðốn tôn vinh biết chừng nào.

Trong chiến tranh và hậu chiến luôn luôn cần có các nhà lãnh đạo, các tướng lãnh quân tử. Và nhà lãnh đạo quân tử là phải biết xưng tụng các bậc anh hùng trong hàng ngũ kẻ thù, biết nâng người xuống ngựa và biết tôn trọng các tử sĩ của hàng ngũ đối nghịch.

Việt Nam có thể nhận được viện trợ của Mỹ từ Bill Gate ở Seattle, của George Bush ở White House nhưng bài học để trở thành con người văn minh thì phải tìm ở nơi khác.

Ðó là viện bảo tàng đầu hàng và nghĩa trang phe bại trận miền Nam tại Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn. Nước Mỹ ngày nay còn hùng mạnh bởi vì biết tôn trọng giá trị của phe đối nghịch.

Trước khi chết, tổng thống Lincoln đã nói: "Người ta có thể từ bỏ mọi thứ, nhưng không ai bỏ được lịch sử. Trước sau gì, lịch sử của bậc anh hùng sẽ phải được dựng lại ở chính nơi mà những con người vĩ đại đã ngã xuống."

Sợ quá

Mỗi ngày một niềm vui :) (với gmail)



Tìm số tài khoản của một người tên Hùng, Google gợi ý thế này đây :D

Cám ơn Google
Gmail is Great
Bài học giản đơn
Dạo quanh trung tâm dữ liệu của Google
Nan đề xe goòng của Google
Cấm dùng từ Google!
Đường dành cho người đi xe đạp được chia sẻ trên Google Maps
Xe tự lái của Google chính thức được cấp phép

Nhà hàng thực khách tự dựng bàn ăn ở Hà Lan


Chúng ta đã thấy việc cá nhân hoá trong thế giới ăn uống qua trang web Hoppit, nơi cho phép người dùng lựa chọn nhà hàng dựa trên phong cách của nhà hàng đó. Tương tự như vậy, nhà hàng tạm thời IkHa ở Hà Lan gần đây cho phép khách hàng chọn lựa các đồ nội thất Ikea để  làm thành không gian nơi họ sẽ ăn tối.

Khởi tạo bởi Oatmeal Studio, quán cà phê được xây dựng như là một phần của Liên hoan phim Bắc Âu năm ngoái và nhằm mục đích làm cho trải nghiệm ăn uống của thực khách trở nên được cá nhân hóa hơn. Khi đến quán, khách hàng điền các đồ đạc ưa thích của họ và lựa chọn bữa ăn - bằng bút chì lên một tờ giấy, tương tự như ở các cửa hàng Ikea. Ngoài việc lựa chọn bàn, ghế và đồ trang trí, thực khách có thể cắt khăn trải bàn (tablecloth) của riêng mình từ giấy dán tường. Các không gian như mời gọi những người dùng cá nhân hóa nó theo thị hiếu của họ, mang lại một trải nghiệm hấp dẫn cho thực khách, và cũng như là nơi trưng bày cho Ikea - mặc dù Ikea không chính thức tham gia dự án này.

www.sprinwise.com

Bỉ thuê nhà tù Hà Lan
Thùng rác thông minh ở Hà Lan
Đường phát sáng thông minh ở Hà Lan
Con người đã có thể bay được như chim
32 sáng kiến sẽ thay đổi cuộc sống tương lai của bạn

Tìm hiểu tranh chấp Nhật - Nga về quần đảo Kouriles


(Nguyên tác : « L'origine de la question des Territoires du Nord » của Yumiko Yamada, Docteur de l'université de Paris-Sorbonne, Géostratégiques n° 26 - 1er trimestre 2010)

Lời mở đầu của người dịch : Tìm hiểu lịch sử tranh chấp giữa Nhật và Nga về quần đảo Kouriles, thực ra là tìm hiểu lịch sử những nỗ lực bền bỉ đòi hỏi chủ quyền của các chính phủ Nhật Bản nối tiếp từ năm 1945 đến nay, cũng như của nhân dân Nhật Bản, về bốn đảo phía nam quần đảo Kouriles, tạo thành vùng lãnh thổ mang tên « Vùng lãnh thổ phía Bắc », từ lâu là lãnh thổ của Nhật Bản, bị Liên Xô chiếm từ năm 1945. Nỗ lực dài dẵn này lý ra đã được đền bồi từ năm 2000, qua sự hứa hẹn của cố Tổng thống Yeltsin về một hiệp ước hòa bình giữa Nhật và Nga. Tuy nhiên sau đó TT Yeltsin từ chức, vấn đề Kouriles bị Nga dẹp sang một bên. Những năm gần đây, nền kinh tế Nga đã gượng lên được từ dưới đáy vực – mà nguyên nhân đến từ cuộc sụp đổ hệ thống chính trị vì khủng hoảng nội tại đầu thập niên 90. Nga ngày càng chứng tỏ là một nước có « sức mạnh cơ bắp » đồng thời biểu lộ tham vọng lấy lại vị trí siêu cường đã mất. Mặt khác, Nhật Bản phụ thuộc rất nhiều vào Nga về năng lượng. Do đó vấn đề tranh chấp quần đảo Kouriles sẽ khó có thể giải quyết trong thời gian tới, nhất là lập trường của Nga biểu hiện qua việc mới đây Tổng thống Medvedev chính thức đi thăm các đảo tranh chấp. Việc này gây phản ứng dữ dội nơi chính trường cũng như trong dân chúng Nhật.

Về bản chất của tranh chấp, chúng tôi cho rằng trường hợp « Vùng lãnh thổ phía Bắc » có thể so sánh phần nào với trường hợp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (hơn là tranh chấp Senkaku giữa Nhật và Trung Quốc). Chúng tôi cho rằng điều khó khăn nhất, đối với VN, trong việc giải quyết tranh chấp biển Đông, là vấn đề quần đảo Hoàng Sa chứ không phải Trường Sa. Tại Trường Sa, Việt Nam có ưu thế vì có hiện diện ở các đảo trong khi TQ chỉ đòi chủ quyền mà không hiện diện (ngoại trừ ở vài cứ điểm nhân tạo tại các bãi đá chiếm của VN bằng vũ lực). Trong khi ở Hoàng Sa VN có một tư thế rất yếu kém : Trung Quốc đã chiếm hoàn toàn các đảo.

Tranh chấp Hoàng Sa của VN giống như tranh chấp « Vùng lãnh thổ phía Bắc » của Nhật ở chỗ Hoàng Sa và « vùng lãnh thổ phía Bắc » đã thuộc về VN cũng như về Nhật Bản từ lâu đời. Điểm tương đồng khác nữa của hai trường hợp là VN và Nhật đều ở tư thế kẻ yếu. Tuy nhiên, Nhật Bản có ưu điểm hơn VN vì là một cường quốc kinh tế, trong khi VN vẫn còn là một nước nghèo, trong lúc còn bị đối thủ đe dọa chiếm Trường Sa. Trong khi đối thủ của Nhật là Nga, xem ra « biết điều » hơn Trung Quốc. Nga chưa hề đe dọa chiếm các vùng biển khác của Nhật cũng như chưa bao giờ dùng vũ lực vô căn cứ đối với Nhật, mặc dầu hai bên chưa ký kết hiệp ước hòa bình. Trong khi TQ đánh VN đến hơn 3 lần – chỉ tính sau năm 1945 – tại Hoàng Sa, biên giới miền Bắc và Trường Sa.

Trong bài viết này, từ đầu năm 2010, mặc dầu hiện nay chính trường Nhật Bản có nhiều thay đổi, về lãnh tụ chính trị cũng như quan hệ hai bên Nga-Nhật có nhiều căng thẳng mới, nhưng giá trị về học thuật của nó không đổi. Đoạn mà tác giả Yumiko Yamada có ghi lại đề nghị của học giả Iwashita Akihiro 岩下明裕 (Nham Hạ Minh Dụ) về một giải pháp giải quyết (Vùng lãnh thổ phía Bắc). Tôi cho rằng đây có thể là một điều mà các học giả VN nên ghi nhận và nghiên cứu (cho trường hợp Hoàng Sa).

Về sự bền bỉ tranh đấu của người dân cũng như lập trường nhất quán trước sau như một của các thế hệ lãnh đạo Nhật Bản, rõ ràng đây là một bài học, trước hết cho lãnh đạo của Việt Nam, sau đó cho các học giả Việt Nam.

***

Nguyên nhân tranh chấp « vùng lãnh thổ phía Bắc »

Vấn đề tranh chấp các đảo mà người Nhật gọi là « lãnh thổ phía Bắc » bắt đầu từ sau khi Thế chiến thứ II kết thúc. Ngày 8 tháng 8 năm 1945 Staline tuyên bố chiến tranh với Nhật Bản. Mặc dầu nước này đã đầu hàng ngày 15 tháng 8 nhưng quân đội Liên Xô tiếp tục tấn công vào quần đảo Kouriles. Ngày 5 tháng 9 quân Nga tiến đến nhóm đảo Habomai, là nhóm đảo ở phía cực nam quần đảo Kouriles (phía bắc đảo Hokkaidô). Nhóm đảo này có diện tích khoảng 165km².
Bản đồ 1 : Bản đồ quần đảo Kouriles. Đường kẻ đứt khoảng là đường biên giới hiện nay (giữa Nhật và Nga) theo quan điểm của chính phủ Nhật. Tên Nhật của các đảo và các thành phố chung quanh Hokkaidô. Các số ghi cạnh các đảo thuộc Nga có tên Nhật chiếu theo điều 2 của Hiệp Ước Saint-Pétersbourg (1875).

Tên (Aïnu) của các đảo : 1 Shumushu占守, 2 Araito阿頼度, 3 Parashimuru幌筵,
4 Makanru磨勘留, 5 Neokotan温繭古丹, 6 Harimukotan春牟古丹, 7 Ekaruma
越渇麿, 8 Shasukotan捨子古丹, 9 Chirikotan知林古丹, 10 Mushiru 雷公計,
11 Matsuwa松輪, 12 Rshowa羅處和,
13 Suredonewa et Ushishiru, スレトネワとウシシルル, 14 Ketoi 計吐夷,
15 Shimushiru新知, 16 Bronto 武魯頓,
17 Cherupoi et Buratto Cherupoefu チェルポイとブラットチェルポエフ,
18 Uruppu得撫
Nguồn : Bộ Ngoại Giao, « Lãnh thổ phía Bắc của ta », Hồ sơ, 2006.


Sau khi chiếm các đảo Kouriles, bao gồm luôn bốn đảo thuộc « lãnh thổ phía Bắc » là các đảo Etorofu, Kunashiri, Shikotan và quần đảo Habomai, quân đội Liên Xô trục xuất dân chúng Nhật sinh sống tại đây, sau đó cho dân Nga di cư sang. Theo quan điểm của Nhật, bốn hòn đảo này là một phần của lãnh thổ quốc gia kể từ thế kỷ XIX. Quan điểm Liên Xô, nay là Nga, các đảo này thuộc các vùng đất đã bị Nhật chiếm hữu mới đây, như thế việc chiếm đóng của Nga là chính đáng, toàn bộ quần đảo Kouriles sẽ là phần nối dài của lãnh thổ Liên Xô tại Thái Bình Dương. Do tranh chấp này, từ năm 1945 đến nay không có hiệp ước hòa bình đã được ký kết giữa hai nước. Mỗi bên đều từ chối mọi thỏa hiệp (về vấn đề Kouriles), các thỏa thuận từng phần được ký kết nhưng trong vấn đề Kouriles thì vẫn ở tình trạng mù mờ. Năm 1951, hội nghị hòa bình tại San Francisco, theo đó Nhật phải từ bỏ tất cả những vùng đất đã chiếm được của các nước sau năm 1905, nhưng biên giới giữa Nga và Nhật Bản thì chưa được xác định rõ ràng. Mặt khác Liên Xô cũng từ chối ký vào hòa ước San Francisco.

Vì phải tìm một thỏa thuận để cho hồi hương tù binh của Nhật bị giam tại Sibérie cũng như Nhật cần sự ủng hộ của Nga để được chấp nhận vào Liên Hiệp Quốc và trở lại trên trường quốc tế… do đó Nhật và Nga ký một tuyên bố chung năm 1956, nhưng lại không đề cập đến vấn đề lãnh thổ. Từ đó, vấn đề tranh chấp « lãnh thổ phía bắc » trở thành một cái gai trong mọi quan hệ ngọai giao giữa hai nước. Tại sao hai nước này vẫn không giải quyết được tranh chấp này ? Hai bên có thể giải quyết trong tương lai?

Để trả lời những câu hỏi này, bốn điểm tham chiếu cần phải được xem xét : 1/ Tuyên bố Caire 1943 (chiếu theo hiến chương Đại Tây Dương 1941), 2/ mật ước Yalta 1945, 3/ hòa ước San Francisco 1951 và 4/ tuyên bố chung giữa Nhật và Liên Xô năm 1956. Sau đó, cũng nên xác định sự tiến hóa của vấn đề này từ khi chấm dứt chiến tranh lạnh đến ngày hôm nay.

1/ Tuyên bố Caire 1943:
Tháng 10 năm 1943, trong một cuộc họp giữa các Bộ trưởng Ngoại giao của các nước Hoa Kỳ, Anh và Liên Xô ở Moscow, các nước đồng minh đồng ý về các đòi hỏi của Liên Xô. Staline do đó chấp nhận tham gia cuộc chiến chống Nhật Bản, nhưng chỉ sau khi Đức thất bại. Một tháng sau, tháng 11 năm 1943, ba lãnh tụ Theodore Roosevelt, Winston Churchill và Tưởng Giới Thạch 蒋介石, gặp nhau tại Caire để thảo luận về mục đích của cuộc chiến. Họ tuyên bố: « Mục đích chiến đấu duy nhất của chúng tôi là kết thúc cuộc xâm lược của Nhật Bản, các nước Đồng Minh không hề có mục tiêu mở rộng lãnh thổ. Chúng tôi chỉ giải phóng các vùng lãnh thổ đã bị Nhật Bản chiếm đóng bởi bạo lực. »

Sau đây là nội dung của « Tuyên bố Caire », theo đó các vùng đất mà Nhật Bản phải từ bỏ được ghi rõ ràng, nguyên văn như sau:

Tất cả các đảo thuộc Thái Bình Dương mà Nhật đã chiếm từ sau Thế chiến thứ I.
Đất Mãn Châu, đảo Đài Loan và các đảo Bành Hồ mà Nhật đã xâm chiếm.
Tất cả các vùng đất đã bị đế quốc Nhật chiếm bằng vũ lực.
Đại Hàn hiện đang trong "tình trạng nô lệ" phải được độc lập.

Khi ký vào tuyên bố, Liên Xô công nhận các điều lệ của Hiến chương Đại Tây Dương, là không chủ trương bành trướng lãnh thổ. Trong khi Nhật đã thụ đắc quần đảo Kouriles năm 1875, trong một thời kỳ hòa bình, trong khuôn khổ hiệp ước « trao đổi giữa Sakhaline và quần đảo Kouriles ». Do đó, không thể xem việc thụ đắc các đảo này là kết quả từ việc chinh phục bằng bạo lực. Đối với các đảo phía nam quần đảo Kourils là các đảo: Habomai, Kunashiri, Etorofu và Shikotan, Nhật đã thụ đắc năm 1855, với sự đồng thuận của Nga theo Hiệp ước Shimoda. Điều lệ của Hiến chương Đại Tây Dương liên quan đến việc mở rộng lãnh thổ vì vậy không được áp dụng, vì những đảo này vẫn đang bị Nga chiếm đóng.

2/ Mật ước Yalta:
Tháng hai năm 1945, thỏa ước Yalta được các lãnh tụ đồng minh bí mật ký kết, bao gồm, ngoài những điều khác, 3 điều sau đây (2):
1. Duy trì sự chiếm đóng của Liên Xô ở Ngoại Mông hiện trạng.
2. Trả lại phần phía nam đảo Sakhaline và các đảo phụ cận cho Liên Xô.
3. Nhượng quần đảo Kouriles cho Liên Xô.

Vì điều 3 không xác định thế nào là « quần đảo Kouriles », Liên Xô chiếm đóng năm 1945 toàn thể quần đảo, kể cả 4 đảo phía nam đã thuộc về Nhật từ xa xưa, mà không bị đồng minh cáo giác, mặc dầu các đảo này chiếm hữu bằng bạo lực. Cùng khoảng thời gian đó, ngày 2 tháng 9 năm 1945, ngày Nhật ký vào văn bản đầu hàng, Staline đọc diễn văn chiến thắng trước nhân dân Liên Xô : « Sự thất bại của quân đội Nga trong chiến tranh chiến tranh Nga-Nhật năm 1904 để lại cho chúng ta một kỹ niệm cháy bỏng. Sự thất bại đã ghi khắc vào chúng ta như một điều tủi nhục. Nhân dân chúng ta chờ đợi ngày mà Nhật sẽ thất bại và ngày đó cái tủi nhục này được tẩy xóa. Chúng tôi, những người thuộc thế hệ đi trước, đã chờ đợi ngày này từ bốn mươi năm. Ngày đó đã đến. Hôm nay, Nhật đã nhìn nhận sự thất bại và ký vào văn kiện đầu hàng vô điều kiện… Điều này có nghĩa miền nam đảo Sakhaline và quần đảo Kouriles được nhượng lại cho Liên Xô, và từ nay các đảo này không còn là hàng rào của Nhật Bản chia cách Thái Bình Dương với vùng viễn đông Liên Xô, mà chúng trở thành một đường nối trực tiếp giữa Liên Xô với Thái Bình Dương cũng như các căn cứ quân sự bảo vệ đất nước chúng ta chống lại sự xâm lăng của Nhật » (3).

Từ năm 1945, Liên Xô đã luôn luôn dựa trên các điều ước Yalta và Hòa ước San Francisco để biện minh cho việc chiếm đóng « Vùng lãnh thổ phía Bắc » của Nhật.

Tuy nhiên, theo Kimura Hiroshi, một chuyên gia về nghiên cứu xung đột « Vùng lãnh thổ phía Bắc », đã nhận xét sau đây về các kết ước Yalta (4). Thứ nhất: « Các thỏa thuận Yalta chỉ là một tài liệu trong đó ba nhà lãnh đạo liên minh đã xác định chính sách của họ về những việc cần làm sau chiến tranh. Do đó, thỏa thuận này có thể không thể hiện các chính sách chính thức của tất cả các bên liên quan ». Bản Ghi nhớ Hoa Kỳ về đàm phán giữa Nhật và Nga, ngày 07 tháng chín năm 1956, cũng khẳng định: « Hoa Kỳ công nhận rằng những gì gọi là các kết ước Yalta chỉ là một hồ sơ trong đó được trình bày, vào thời điểm đó, các mục tiêu chung của các nhà lãnh đạo của các nước liên quan, và chúng không can dự đến quyết định cuối cùng. Ngoài ra, nó không có hiệu lực nào cho việc phân bổ các vùng lãnh thổ ». Thứ hai, Hiroshi cho biết thêm: « Các kết ước Yalta được một thỏa thuận bí mật. Nhật không tham gia và không ký kết. Do đó không có lý do gì Nhật bị áp chế bởi các thỏa thuận này ».

Bản đồ 2 : Trình tự việc tiến quân của quân đội Nga. Từ Sakhaline và Kamtchatka, quân đội Nga xâm chiếm quần đảo Kouriles của Nhật ( 24 tháng 8 – 4 tháng 9 năm 1945), sau khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng và ngưng bắn (15-8-1945)
Nguồn : Association pour prendre les mesures sur les problèmes des Territoires du Nord, Nos Territoires du Nord, 2002.

Trong lời tựa cho « Tài liệu soạn thảo chung về lịch sử của vấn đề vùng lãnh thổ phía Bắc » (5), lập trường của chính phủ Nhật trình bày như sau :
« Liên Xô cho biết họ đã được phép chiếm quần đảo Kouriles, kể cả Etorofu, Kunashiri, Shikotan và Habomai. Nhưng Nhật cho rằng kết ước Yalta đã không liên quan đến lãnh thổ của Nhật ».

Trên thực tế, vào năm 1945 khi Nhật chấp nhận Tuyên bố Potsdam về việc đầu hàng vô điều kiện, Nhật cho rằng tuyên bố này phản ảnh bản chất của Tuyên bố Caire (1943), nhất là điểm cụ thể « không bành trướng về lãnh thổ ». Tuy nhiên, đối với Roosevelt và Staline, chi tiết này chỉ được xem là một tuyên bố về ý định, không phải là một quy tắc ứng xử.

3/ Các cuộc thảo luận sơ khởi về hiệp ước hòa bình San Francisco và ý nghĩa của « Quần đảo Kouriles ».

Sau năm 1947, tình hình vùng Viễn Đông thay đổi, chính sách của Mỹ đối với Nhật cũng chuyển biến. Tháng 9 năm 1949, Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao Anh đến Washington để thảo luận về hiệp ước hòa bình với Nhật. Hoa Kỳ muốn riêng nước này phụ trách thảo văn bản hòa ước và việc này được Anh chấp nhận. Tài liệu đầu tiên xác định: « Nhật sẽ từ bỏ Okinawa và chấp nhận Okinawa được đặt dưới sự quản lý của Hoa Kỳ. Nam Sakhaline và quần đảo Kouriles sẽ được chuyển giao cho Liên Xô, nhưng Etorofu, Kunashiri, Habomai và Shikotan vẫn thuộc lãnh thổ Nhật ». Tuy nhiên, phần bình luận bản thảo nói trên, quy định về bốn hòn đảo làm thành « Vùng lãnh thổ phía Bắc »: « Câu hỏi chưa có câu trả lời: có phải các đảo Etorofu, Kunashiri, Habomai và Shikotan tạo thành một phần của quần đảo Kouriles ? Trong hội nghị Yalta, Hoa Kỳ và Anh đã hứa sẽ chuyển giao Liên Xô quần đảo Kouriles »(6).

Ngoài ra, Hoa Kỳ nhận thức được rằng Liên Xô đã chiếm các đảo này từ năm 1945 và không có ý định từ bỏ chúng. Tại sao Hoa Kỳ vẫn xem bốn đảo này thuộc về Nhật? Lập trường của Hoa Kỳ được trình bày như sau: « Mặc dù thực tế là chúng ta biết những ý định của Liên Xô, chúng ta dám chấp nhận những biện pháp này bởi vì, nếu Liên Xô không từ bỏ các đảo, người Nhật sẽ thấy có cảm tình với Hoa Kỳ và đồng thời, Liên Xô sẽ bớt đi hiềm khích với người Nhật » (7).

Sau đó, Hoa Kỳ quyết định thảo một văn bản mới, vì họ không thể chính thức đưa ra lời giải thích thuyết phục tới Anh về lập trường của mình về bốn đảo. Và lần này, họ tách rời bốn hòn đảo của lãnh thổ Nhật. Trong ý kiến mới, họ cho biết : « Chúng tôi chưa quyết định việc chúng tôi sẽ đề xuất rằng Nhật sẽ giữ Etorofu, Kunashiri và quần đảo Kouriles nhỏ (tức đảo Habomai và Shikotan). Hiện nay không phải là lúc đề nghị việc này. Nhưng nếu Nhật có các đề nghị này thì Hoa Kỳ có thể ủng hộ các yêu cầu đó của Nhật ».

Tại sao Hoa Kỳ nói rằng : Hiện nay không phải là lúc đề nghị việc này ? Haruki Wada (8) đưa ra hai lý do : thứ nhất : « nếu Nhật có thể trình bày các văn bản để chứng minh rằng các quần đảo này không phải là một phần của quần đảo Kouriles, và nếu Hoa Kỳ ủng hộ quan điểm này, Hoa Kỳ sẽ gặp khó khăn. Liên Xô có thể sẽ lên án hành động này bất chính mà Hoa Kỳ sẽ khó biện minh. (USA [….] would expose itself to charges of bad faith by the Soviets which it would be difficult to refute ). Thứ hai, lý do là vấn đề của Ryukyu (Okinawa). Trong khi Mỹ chiếm đóng Okinawa thì họ khó có thể yêu cầu Liên Xô trả lại cho Nhật Bản bốn đảo ở phía Bắc. Hoa Kỳ tin rằng họ có thể đề xuất để đặt những đảo này dưới hình thức ủy thác, như trường hợp Okinawa ».

Trong lịch sử tranh chấp của « Vùng lãnh thổ phía Bắc » sau chiến tranh, sự mơ hồ về định nghĩa của « quần đảo Kouriles » là một trong những lý do tranh chấp. Đối với Liên Xô, « tất cả các đảo Kouriles » là tất cả các hải đảo giữa bán đảo Kamchatka và Hokkaido, mà không để ý đến bất kỳ sự kiện lịch sử hoặc mối quan hệ giữa hai nước. Các đảo này cũng là những hứa hẹn giao cho Liên Xô tại Yalta để nước này vào cuộc chống lại Nhật.

Đối với Mỹ, định nghĩa về « quần đảo Kouriles » là quan trọng đối với chính sách của họ ở vùng Viễn Đông cũng như với bản dự thảo Hiệp ước hòa bình với Nhật. Năm 1949, họ đã ra lệnh nghiên cứu về vấn đề này. Ngày 25 tháng 11, một báo cáo có tiêu đề « Các đảo Kouriles phía nam và quần đảo Shikotan » được trình bày bởi cố vấn phụ trách các vấn đề pháp lý. Báo cáo kết luận, sau khi viện dẫn các lý do về địa lý, lịch sử và chính trị: « Có thể chấp nhận rằng Habomai và Shikotan có những lý do căn bản pháp lý để khẳng định rằng các đảo này không phải là một phần của quần đảo Kouriles. Đối với các đảo Kunashiri và Etorofu, dường như không có lý do pháp lý hợp lệ để cho rằng các đảo này không phải là một phần của quần đảo Kouriles. Kể từ khi Hiệp ước Shimoda, thỏa thuận năm 1855 giữa Nga và Nhật, các quần đảo này chưa bao giờ thuộc chủ quyền của Nga. Nhưng các hiệp ước năm 1855 và 1875 (9) cho thấy các đảo này là một phần của quần đảo Kouriles (10)».

Sau khi hội nghị hòa bình tại San Francisco, tháng 10 năm 1951, lúc Hội Nghị của Nhật phê chuẩn các hiệp ước, các đại biểu của Hokkaido phản đối và khẳng định Etorofu và Kunashiri không phụ thuộc quần đảo Kouriles. Một đại biểu đặt vấn đề với Thủ tướng Yoshida: « Quần đảo Kouriles được định nghĩa thế nào trong các hiệp ước hòa bình ? » Yoshida hỏi Kumao Nishimura 西村熊雄 (Tây Thôn Hùng Hùng), người phụ trách các vấn đề hiệp ước, trả lời: « Về quần đảo Kouriles trong hiệp ước hòa bình, chúng tôi cho rằng nó có hai bộ phận, phần Kouriles bắc và nam Kouriles. Nhưng theo lịch sử, tình hình của Bắc Kouriles và Nam Kouriles rất khác nhau, như Thủ tướng Yoshida đã nói trong bài phát biểu của ông tại hội nghị ở San Francisco... Hơn thế nữa, Hoa Kỳ tuyên bố rằng Habomai và Shikotan không phải là một phần của quần đảo Kouriles (11)». Một đại biểu Hokkaido đáp lại: « Ý nghĩa « Quần đảo Kouriles » rất khác với ý nghĩa « quần đảo Chishima (12)». « Quần đảo Kouriles » chỉ định cho mười tám hòn đảo phía bắc của Uruppu ».

Tuy nhiên, phản ứng của Nishimura đã không gây sự chú ý vào thời điểm đó. Ngay cả các phương tiện truyền thông của Nhật cũng không nhắc tới bởi vì nó không có lý lẽ gì mới. Nhưng sau đó, Liên Xô đã lấy lời nói của Nishimura như là bằng chứng cho thấy Nhật đã đồng ý Etorofu và Kunashiri là một phần của quần đảo Kouriles.

3.1 Các quan điểm khác nhau tại hội nghị của Hiệp ước Hòa bình San Francisco

Năm 1951, trong hội nghị hòa bình tại San Francisco, Gromyko cho biết: « Không hề có vấn đề tranh cãi về quần đảo Kouriles, phía nam Sakhaline, và các đảo lân cận hiện đang thuộc chủ quyền của Nga ». Gromyko đã không đưa ra lý do lịch sử để giải thích quan điểm của ông. Ông chỉ trích một thực tế là hiệp ước hòa bình đã không cấu ước việc công nhận chủ quyền của Liên Xô trên những đảo này. Gromyko tuyên bố rằng việc này vi phạm chủ quyền của Liên Xô, và cũng lưu ý rằng việc này mâu thuẫn với mật ước Yalta. Gromyko đề nghị một tu chính nhưng không thành công, sau đó rời bỏ bàn Hội nghị.

Ngược lại, Thủ tướng Nhật Bản Yoshida Shigeru, 吉田 茂 (Cát Điền Mậu) trong bài phát biểu bằng tiếng Nhật, có đưa giải thích chi tiết về ý nghĩa những gì mà Nhật gọi là « quần đảo Kouriles » : « Hiệp ước hòa bình (San Francisco) không phải là một hiệp ước trả thù, mà là một văn kiện về "hòa giải và tin tưởng". Do đó tôi đồng ý hiệp ước vô tư và cao cả này ».

Sau đó, Yoshida thể hiện lập trường của ông về tuyên bố của Gromyko như sau : « Chúng tôi không thể chấp nhận đòi hỏi của đại diện Liên Xô, theo đó cho rằng Nhật đã có xâm lược bằng bạo lực trên đảo Sakhaline và quần đảo Kouriles. Ở thời điểm mở cửa của Nhật, Sa hoàng Nga không phản đối việc hai đảo ở phía nam Kouriles là lãnh thổ Nhật. Dân chúng hai nước cùng sinh sống trên hai đảo này, phía bắc của đảo Tokumu (14) và phía nam đảo Sakhaline. Ngày 7 tháng năm 1875, kết quả từ cuộc thương thảo cho hòa bình giữa hai nước, cả hai chính phủ đạt được thỏa thuận theo đó nam Sakhaline trở thành lãnh thổ của Nga, bù lại, các đảo phía nam Kouriles thuộc lãnh thổ của Nhật. Chúng tôi nói về trao đổi, nhưng trong thực tế, Nhật đã nhượng phía nam đảo Sakhaline để chỉ đạt được một thỏa hiệp với Nga. Sau đó, ngày 5 tháng chín năm 1905, thỏa ước Portsmouth, với trung gian hòa giải là Tổng thống Hoa Kỳ Franklin Roosevelt, đã trả lại phần nam đảo Sakhaline cho Nhật. Ngày 20 tháng 9 năm 1945, vừa sau khi Nhật đầu hàng, Liên Xô đơn phương sáp nhập quần đảo Kuriles và phần nam đảo Sakhaline vào lãnh thổ của mình. Hơn nữa, quân đội Nhật có đóng trên đảo Shikotan và Habomai, quân đội Nga xâm chiếm các quần đảo này và chiếm đóng chúng cho đến hôm nay. Những đảo này là một phần của Hokkaido, vì vậy chúng là những bộ phận của lãnh thổ Nhật (15)».

Thủ tướng Nhật Bản Yoshida vì thế phản đối chống lại sự chiếm đóng « Vùng lãnh thổ phía Bắc », việc chiếm đóng trái với Tuyên bố Caire. Bài phát biểu của ông là nhằm chống Liên Xô, nhưng thực tế cũng phản đối Hoa Kỳ.

3.2 Tuyên bố chung Nhật-Liên Xô:

Năm 1952, Ichiro Hatoyama 鸠山一郎 (Cưu Sơn Nhất Lang) trở thành Thủ tướng. Một trong các ưu tiên của ông này là khôi phục quan hệ ngoại giao với Liên Xô, bởi vì, chính thức, hai bên vẫn còn trong tình trạng chiến tranh. Một mặt, biên giới giữa Liên Xô và Nhật chưa được phân định. Mặt khác, vẫn còn nhiều tù nhân Nhật tại Liên Xô. Hai năm sau, vào tháng hai 1954, Hatoyama chuẩn bị các luận điểm chính sau đây để thương lượng với Liên Xô (17):

« Về vấn đề các đảo phía nam Kouriles Nam và phần phía nam đảo Sakhaline:

Nhật có thể chấp nhận từ bỏ quyền của mình trong những lãnh thổ này.
Về những gì liên quan đến "Vùng lãnh thổ phía Bắc", Nhật Bản chủ trương ngưng lại, việc tìm giải pháp cho vùng này sẽ thảo luận lại sau.

Cuối cùng, về vấn đề thành viên Liên Hợp Quốc: làm thế nào để Liên Xô không dùng quyền phủ quyết của mình, bởi vì Nhật cần sự hỗ trợ của Liên Xô (để gia nhập tổ chức này). »

Trên thực tế, hai ưu tiên của Nhật là trả tự do cho các tù binh, đặc biệt những người bị giam giữ tại Siberie, và được gia nhập Liên Hợp Quốc. Thủ tướng Hatoyama, trước khi ký kết « Tuyên bố chung » vào tháng 10 năm 1956 giữa Nhật và Liên Xô, có nói rằng: « Tôi đến Liên Xô không chỉ để giải quyết vấn đề lấy lại các hòn đảo phía Bắc, mà trước hết là việc trả tự do cho tất cả tù nhân Nhật tại Siberie. Chúng tôi đảm nhận trách nhiệm chính trị về việc trả tự do cho họ. Phải để cho dân ta có thể bước đi trên mảnh đất quê hương của mình càng sớm càng tốt. Nhưng các vùng lãnh thổ này sẽ không biến mất, mà cuộc sống của con người là giới hạn! » (17). Cũng nên lưu ý rằng, trong lúc đàm phán về nội dung của tuyên bố chung, Liên Xô đã đề nghị trả lại các đảo Habomai và Shikotan cho Nhật. Nhưng phe ủng hộ Yoshida và Hoa Kỳ cản trở việc này vị họ cho rằng việc này có tính cách cục bộ.

4/ Từ Chiến tranh lạnh đến ngày hôm nay

Trong thực tế, các vấn đề lãnh thổ giữa Nga và Nhật chỉ một trong những tranh chấp của Chiến tranh Lạnh. Trong thời kỳ này, Nhật đã trở thành một quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ, có hai ưu tiên chính: quan hệ ngoại giao chặt chẽ với Hoa Kỳ, và mối giao hảo tốt đẹp với LHQ. Tầm quan trọng của Hoa Kỳ trong ngoại giao Nhật là rất lớn. Bất cứ khi nào quan hệ giữa Nhật và Nga có xu hướng cải thiện, Hoa Kỳ can thiệp vào vấn đề "vùng lãnh thổ phía bắc", gây gia tăng căng thẳng giữa hai nước. Cũng nên nhớ rằng vị trí của Hoa Kỳ cũng tế nhị: họ vừa là đồng minh của Nhật, nhưng lại chiếm Okinawa.

Khi chiến tranh lạnh kết thúc, vấn đề « Vùng lãnh thổ phía Bắc » đáng lẽ đã có thể được giải quyết qua các cuộc đàm phán giữa Nhật và Nga.

Các nhà lãnh đạo mới xuất hiện trên trường quốc tế, như Gorbachev và Yeltsin ở Nga, hay thủ tướng Hashimoto ở Nhật. Năm 1997, lần cuộc họp lần đầu tiên giữa Yeltsin và Hashimoto ở Krasnoyarsk, Nga và vào năm 1998, họp lần thứ hai tại Kawano, Nhật. Các việc này làm cho hy vọng được hưng chấn về giải pháp cho các vấn đề của "vùng lãnh thổ phía Bắc."

Hội nghị thượng đỉnh Krasnoyarsk (18) đưa đến hai thỏa thuận quan trọng: 1/ Hai bên Nhật-Nga tận dụng mọi nỗ lực để trước năm 2000 một thỏa thuận hòa bình được ký kết dựa trên các « thông báo ở Tokyo năm 1993 ». 2/ Thực hiện kế hoạch « Hashimoto & Yeltsin » để mở rộng hợp tác kinh tế giữa hai nước trong các lĩnh vực khác nhau. Để thực hiện mục tiêu này, Nhật Bản quyết định tài trợ lên tới một tỷ năm trăm triệu đô la.

« Hiệp ước hòa bình trước năm 2000 », đề nghị bất ngờ của Yeltsin, là một ngạc nhiên thú vị cho Nhật Bản. Yeltsin chứng minh khả năng đề xướng và động lực giải quyết vấn đề này. Nhưng sau đó, phía Nga đã không đưa ra đề nghị cụ thể nào để chuẩn bị cho hiệp ước hòa bình như đã hứa.

Sau khi Putin lên nắm quyền ở Nga vào năm 2000 và Koizumi ở Nhật năm 2002, các cuộc đàm phán đã bị chậm lại và quan hệ ngoại giao hai nước xấu đi. Mặc dầu, phía Nhật nỗ lực để khai triển một chiến lược nhằm mục đích « lấy lại lần hồi các đảo: hai hòn đảo đầu tiên, sau đó tiếp tục đàm phán với các đảo khác ». Nhưng một vụ bê bối bị nổ ra tại Bộ Ngoại giao, những người phụ trách chiến lược này bị loại trừ.

Tháng mười hai năm 2006, Ngoại trưởng Aso Taro, 麻生太郎 (Ma Sinh TháiLang), trình bày một dự án nghị quyết mới cho vấn đề của « vùng lãnh thổ miền Bắc ». Hai tháng trước, ông Aso đã trình bày phương pháp tiếp cận của ông tại buổi họp báo lần đầu tiên ra mắt chính phủ Shinzo Abe, 安倍晋三 (An Bội Tấn Tam). Vấn đề đang trong bế tắc, với lập trường « khôi phục lại 4 đảo », ông đã cố gắng thoát ra tình trạng này bằng đề nghị « « trước hết khôi phục lại hai đảo ». Nhưng đề nghị này khác với lập trường chính phủ Nhật « khôi phục lại bốn đảo » cũng như « trước hết khôi phục lại hai đảo » với việc đặt căn bản trên bản Tuyên bố chung năm 1956. Aso trình bày phương pháp giải quyết : « Tính tổng số diện tích bốn đảo và khôi phục lại một nửa ». Aso như thế đã dựa vào phương pháp đã sử dụng năm 2004 giữa Nga và Trung Quốc để giải quyết vấn đề lãnh thổ của họ. « Diện tích hai đảo Habomai và Shikotan chỉ có 7% tổng số diện tích bốn đảo, thêm vào đảo Kunashiri thì tất cả chỉ có 36%, vì vậy chúng ta có thể đưa vào một phần của đảo Etorofu để đạt 50% tổng diện tích của bốn hòn đảo! Điều này có nghĩa là 50% diện tích các đảo là bao gồm ba hòn đảo và 25% diện tích của Etorofu ! (20) »

Hai ngày sau, nhân trả lời phỏng vấn, ông Aso nói rằng đó là đề nghị của cá nhân, không phải là chính phủ Nhật, và chưa được phân tích cụ thể. Thật vậy, nguồn gốc của ý tưởng « khôi phục một nửa diện tích của bốn đảo » là của Iwashita Akihiro, 岩下明裕 (Nham Hạ Minh Dụ), như đã viết ở một tờ báo: « Giáo sư Iwashita theo sát quá trình đã dẫn đến thỏa hiệp về các vấn đề biên giới giữa Nga và Trung Quốc. Do tranh chấp này có cùng tính phức tạp với vấn đề Nhật và Nga. Iwashita Akihiro đề nghị, so sánh Trung Quốc và Nhật, việc này đưa đến các biện pháp để mà giải quyết vấn đề « vùng lãnh thổ phía bắc ». Thật vậy, các biện pháp nào được đưa ra nhằm giải quyết các vấn đề giữa Trung Quốc và Nga? Iwashita giải thích trong cuốn sách của mình:

Nga và Trung Quốc đã tiến hành các cuộc đàm phán tiệm tiến (graduelles).

Nga và Trung Quốc đạt đến một thỏa hiệp chính trị táo bạo ở giai đoạn cuối của cuộc đàm phán, năm mươi năm mươi (theo lối chia hai, chú thích người dịch).
Nga và Trung Quốc quyết định khai thác chung chuyển tiếp ở những vùng lãnh thổ tranh chấp trong lúc đàm phán.

Iwashita vì thế đề nghị Nhật thực hiện điểm số 2, vì ông cho rằng Nhật đã cố gắng không thành công ở các điểm 1 và 3 (21).

Nhưng khi nói đến vấn đề lãnh thổ, chúng ta thường nghĩ về đất đai. Tuy nhiên, đặc biệt trong trường hợp của Nga và Nhật, mọi người nên nghĩ về hải phận. Từ khi Nga chiếm đóng, một vấn đề quan trọng trong các cuộc đàm phán chính trị luôn luôn là việc đánh cá trong khu vực của « Vùng lãnh thổ phía Bắc ». Các giới hạn của vùng nước lãnh thổ Nhật sẽ thay đổi lớn lao tùy theo mức độ việc khôi phục các đảo thuộc « Vùng lãnh thổ miền Bắc ».
Bản đồ 3 : Bản đồ xác định hải phận của Nhật tùy theo các trường hợp khôi phục các đảo thuộc « Vùng lãnh thổ miền Bắc ».
Nguồn : Iwashita Akihiro, Những vấn đề « Vùng lãnh thổ miền bắc ». Không 4 hoặc zéro, không 2 (Ni quatre ou zéro, ni deux), NXB Chûo Shinsho, p. 165.

Trong trường hợp chỉ khôi phục được Habomai và Shikotan, vùng hải phận kinh tế độc quyền (ZEE) của Nhật cũng là đã quan trọng. Nếu sau đó, thêm vào đảo Kunashiri thì vùng ZEE sẽ tăng hơn nhiều. Iwashita đã dẫn đòi hỏi của Hidekichi Koizumi, 小泉秀吉 (Tiểu Tuyền Tú Cát , là một người tị tạn Shikotan, đã khởi xướng phong trào khôi phục với thị trưởng Nemuro : « Chúng ta đòi hỏi việc hoàn trả các đảo vì chúng ta đặt căn bản trên bốn đảo là lãnh thổ Nhật Bản không thể tách rời và công lý chỉ thể hiện nếu 4 đảo này được trả lại cho chúng ta. Trong chiều hướng đó, chúng ta không thể bằng lòng chỉ với hai đảo Habomai và Shikotan… Chúng tôi hy vọng ít nhất là phải lấy lại đảo Kunashiri ».

Trên thực tế hồ sơ này dặm chân tại chỗ. Tháng 8 năm 2006, một thuyền đánh cá Nhật bị lực lượng biên phòng cura Nga bắt giữ. Một trong bốn thủy thủ trên tàu này bị bắn chết. Thảm kịch này có nghĩa là người Nhật đầu tiên bị chết bằng súng đạn từ khi hai bên Nhật-Nga thiết lập ngoại giao chính thức từ tháng 12 năm 1956. Dân Nhật cảm thấy bị tổn thuơng và họ thất vọng do việc Nga không xin lỗi cũng như việc không có phản ứng thích hợp nơi chính phủ Nhật.
Gần đây hơn, 15 tháng 11 năm 2009 tại Singapour, trong buổi họp thuợng đỉnh với Tổng Thống Nga Dimitri Medvedev, thủ tướng Nhật Hatoyama Yukio đã từ chối đề nghị chỉ trả lại hai đảo, nhưng vấn đề 4 đảo đã không được đề cập đến (24). Cần nhắc thêm rằng Nhật cần dầu và khí đốt của Nga, do việc này Nga luôn ở thế mạnh lúc đàm phán, vì thế rất ít khi để ý đến các đòi hỏi về lãnh thổ của Nhật. Vì vậy phía Nhật, ngay từ bây giờ, phải hình dung một lối tiếp cận mới về chính trị đối với Nga.

Các bản đồ số 4 A, B, C và D mô tả những thay đổi về biên giới qua 4 hiệp ước Nhật-Nga.
Bản đồ 4A : biên giới theo hiệp ước Shimoda năm 1855


Bản đồ 4B : biên giới theo hiệp ước trao đổi Sakhaline với quần đảo Kouriles năm 1875

Bản đồ 4C : biên giới theo hiệp ước Portsmouth năm 1905


Bản đồ 4D : biên giới theo hòa ước San Francisco năm 1951

Ghi chú :
màu xám đậm : lãnh thổ Nhật.
xám lợt: lãnh thổ Nga
xám trung bình : lãnh thổ quản lý chung
để trắng : lãnh thổ theo đó Nhật Bản từ bỏ chủ quyền nhưng không giao lại cho nước nào vì hiệp ước hòa bình chưa được ký kết, mặc dầu vùng lãnh thổ này hiện do Nga chiếm đóng.
Nguồn : Bộ Ngoại giao, hồ sơ « Vùng lãnh thổ phía bắc của chúng ta », 2006.

Chú thích :

1. Quần đảo Kouriles có khoảng 30 đảo và nhiều đá, diện tích tổng cộng khoảng 10 600 km².
2. Bộ Ngoại Giao, tài liệu « Vùng lãnh thổ phía Bắc của chúng ta », 2006, p. 16.
3. Wada Haruki, « Những vấn đề của Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », NXB Asahi Shinbun, 1999, p. 183.
4. Kimura Hiroshi, « Bản mới về lịch sử thuơng lượng biên giới giữa Nga và Nhật : con đường dẫn đến sự khôi phục Vùng lãnh thổ phía Bắc », éditeur Sekai, Shisôsha, 2002, p. 120.
5. Các bộ Ngoại giao Nhật và Nga, Hồ sơ soạn thảo chung về lịch sử vấn đề Vùng lãnh thổ phía Bắc, 1992.
6. Wada Haruki, « Những vấn đề về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », op. cit., p. 198.
7. Ibid. p. 198.
8. Wada Haruki, « Những vấn đề về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », op. cit., p. 200.
9. Hiệp ước trao đổi giữa Sakhaline cà các đảo Kouriles : hiệp ước Saint-Pétersbourg.
10. FRUS, 1949, vol. VII ; Wada Haruki dẫn trong « Những vấn đề về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », op. cit., p. 201.
11. Wada Haruki, « Những vấn đề về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », op. cit., p. 225.
12. Chishima 千島、có nghĩa theo tiếng Nhật là hàng ngàn đảo.
13. Wada Haruki, « Những vấn đề về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », op. cit., p. 222.
14. tức là đảo Etorofu.
15. Wada Haruki, « Những vấn đề về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », op. cit., p. 222-223.
16. Wada Haruki, « Những vấn đề về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », op. cit., p. 230.
17. Kimura Hiroshi, « Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và chuẩn bị cho việc khôi phục, NXB Jijitsûshin, in lần thứ 5, 1991, p. 49.
18. Tôgô Kazuhiko, Ghi nhớ những thuơng lượng về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Năm cơ hội đánh mất. op. cit., p. 238.
19. Giáo sư viện Đại học Hokkaidô, Trung tâm nghiên cứu về người Tư Lạp Phu (Slaves).
20. Ngày xưa người Nhật và Nga cùng sống chung trên đảo Sakhaline.

5 Sep 1905_Hiệp ước Portsmouth chấm dứt chiến tranh Nga-Nhật
Nhật Bản tặng chó quý cho Putin