Journey in Life: 08/15/13

Thursday, August 15, 2013

Phát xít Ý thử nghiệm với nghiệp đoàn kinh tế

Các đồng chí (comrade) của Benito Mussolini đưa ông một con đại bàng, biểu tượng của chủ nghĩa phát xít. Nguồn: Imagno / Getty Images.

Giáo sư Philip Scranton mới có bài ở Bloomberg, kể: điều gì sẽ xảy ra nếu nền kinh tế được tổ chức thành các nghiệp đoàn, mỗi nghiệp đoàn cho một ngành thương mại và công nghiệp, bao gồm chủ sở hữu và người lao động? Liệu cạnh tranh khốc liệt và các thất bại "lãng phí" của chủ nghĩa tư bản sẽ được thay thế bằng một hệ thống quản lý trên cơ sở hợp tác?

Khi nền kinh tế thế giới phải vật lộn để phục hồi từ cuộc Đại Khủng hoảng vào mùa hè năm 1933, các chính trị gia tìm kiếm giải pháp thay thế cho chủ nghĩa tư bản thị trường tự do.

Trong chủ nghĩa tư bản, 'tương quan lực lượng đóng vai trò chính trong giải quyết tranh chấp lao động và chiến thắng thuộc về bên mạnh hơn, hoàn toàn không dựa trên lẽ phải trái của các vụ việc (the merits of the cases),' tờ New York Times viết. Trái lại, chủ nghĩa cộng sản 'không công nhận (bất kì) quyền nào trừ những quyền của người lao động.'

Nước Ý phát xít vẫn cố gắng để tìm một cách trung gian giữa các đòi hỏi (claim) của tư bản và lao động. Thủ tướng Benito Mussolini đã chọn mùa hè năm 1933 để hình thành các tổ chức quan trọng của chủ nghĩa nghiệp đoàn: các nghiệp đoàn do nhà nước quản lý sẽ tập trung kiểm soát sản xuất.

Tuy nhiên, thực hiện điều này như nào thật sự là một câu hỏi hắc búa (genuine puzzle). Chỉ đạo quá trình này là Hội đồng các Nghiệp đoàn Quốc gia, được chia thành các lĩnh vực - nông nghiệp, thương mại, công nghiệp, vận tải đường bộ, hàng hải, ngân hàng, các ngành khoa học xã hội và mỹ thuật. Nếu các lĩnh vực có thể đồng ý với nhau về chính sách, Hội đồng này có thể điều tiết giá cả, sản xuất và thị trường.

Tuy nhiên, điều này bao gồm không chỉ kiểm soát từ trên xuống. Nếu trong bất kì lĩnh vực nào mà các hiệp hội người sử dụng lao động và người lao động muốn hạn chế sản xuất bằng cách đóng cửa một nhà máy, họ có thể yêu cầu (apply to) nghiệp đoàn của họ trong Hội đồng.

Nhận thấy sự giống nhau phần nào giữa chương trình của Ý và nỗ lực của nước Mỹ nhằm quản lý sản lượng công nghiệp, cạnh tranh, tiền lương và tiêu dùng, tờ The Economist đã rút ra một số kết luận đáng lo ngại từ thử nghiệm này.

Đầu tiên là, luật lệ như vậy cuối cùng sẽ được mở rộng trên phạm vi toàn nền kinh tế. Liên Xô, Đức và Mỹ, tất cả đều đã đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan này của Ý: Phải kiểm soát đến mức nào để có thể bắt đầu phục hồi kinh tế?

Thứ hai, chỉ có một nhóm tương đối nhỏ có thể chỉ đạo quản lý kinh tế nếu nó hiệu quả, và nhóm này sẽ phải phối hợp với một mạng lưới các cơ quan kiểm soát nhỏ hơn. Thông tin sẽ phải được trình báo theo hệ thống phân cấp các chính sách khả thi để có thể được ban hành. Tuy nhiên, như người Mỹ đã phát hiện, việc xác định thông tin chính xác để ra quyết định thường không dễ dàng. Tệ hơn nữa, các quan chức không thống nhất về việc đọc, hiểu dữ liệu.

Thứ ba, điều gì xảy ra cho người tiêu dùng? Việc lựa chọn mua gì và nên mua hay không phụ thuộc vào các cá nhân và gia đình ngoài tầm kiểm soát của nghiệp đoàn. Sự mất cân đối giữa sản xuất có quản lý và tiêu thụ được đo lường kém là một điểm yếu tiềm ẩn.

Nếu hàng tiêu dùng chỉ được phân bổ thông qua điều tiết toàn diện, hệ thống giá cả sẽ tàn lụi. Vai trò của thị trường như một nơi để nắm bắt kinh tế - về những gì cần thiết, những gì còn thiếu và những gì không ai cần - cũng sẽ biến mất. 'Liệu cỗ máy tự động của cạnh tranh tự do sẽ được thay thế thành công bởi giác quan thứ sáu của nhà độc tài kinh tế?' tờ The Economist đặt câu hỏi.

Quản lý nền kinh tế quốc gia sẽ khó khăn rất nhiều chứ không dễ như tưởng tượng.

Sơn Phạm
Bloomberg


Khởi đầu của sự kết thúc Cấm Sản xuất rượu

Tháng Hai năm 1933, Quốc hội đã bỏ phiếu để bãi bỏ lệnh Cấm Sản xuất, Vận chuyển và Buôn bán Rượu, chuyển quyết định cho các bang phê chuẩn (ratification). Nguồn: Youngstown Vindicator

Trong mục Đại Khủng hoảng tuần này, tháng 2/2013 giáo sư Philip Scranton có bài ở Bloomberg, kể về việc: sau 13 năm áp dụng lệnh Cấm Sản xuất, Vận chuyển và Buôn bán Rượu (Prohibition), các ngành công nghiệp bia, rượu ở Mỹ tràn trề hi vọng phục hồi kinh doanh vào đầu năm 1933.

Ngày 9 tháng Một, vài ngày sau khi một nghị quyết để bãi bỏ Tu chính án số 18 tới một ủy ban Thượng viện Mỹ, một nghiệp đoàn (syndicate) của Canada đã mua một nhà máy bia đóng cửa ở Hartford, Connecticut. Tin tưởng rằng lệnh Cấm rượu đã gần kết thúc, Tập đoàn nhập khẩu Pilsner Urquell của Tiệp Khắc đã mở một công ty con phân phối bia ở Mỹ không lâu sau đó.

Các nhà đầu tư hình dung sự phục hồi nhanh chóng của một thị trường béo bở. Giờ đây, câu hỏi duy nhất là, 'Sẽ mất bao thời gian?'

Xét đến các khó khăn trong việc sửa đổi Hiến pháp, những thất thường (capriciousness) của nền chính trị thời Đại Khủng hoảng và động lực sục sôi (heated emotional) của lệnh Cấm Sản xuất, Vận chuyển và Buôn bán Rượu, câu trả lời rất khó đoán (anyone's guess).

Về mặt lập pháp, việc hình thành hay bãi bỏ một Tu chính án không phải nhiệm vụ đơn giản. Nghị quyết đầu tiên phải được thông qua với hai phần ba số phiếu ủng hộ tại Hạ viện và Thượng viện. Sau đó nó được gửi đến tất cả các bang để phê chuẩn theo đa số tại các cơ quan lập pháp của họ hoặc tại các hội nghị được bầu lên đặc biệt. Chỉ khi ba phần tư các bang (năm 1933, tổng cộng là 36 trong số 48 bang) thông qua thì việc sửa đổi mới được chấp thuận.

Và 'trò chơi chính trị' của việc bãi bỏ này khó khăn (daunting) như vậy. Mặc dù các ứng cử viên ủng hộ lệnh Cấm Sản xuất, Vận chuyển và Buôn bán Rượu hầu hết bị thất bại trong cuộc bầu cử mùa Thu, những người tán thành cấm rượu (drys) không hề chán nản (dispirited). Nhà truyền giáo nổi tiếng New York - Norman Vincent Peale tấn công Tổng thống mới đắc cử Franklin D. Roosevelt vì cho rằng doanh thu thuế từ việc hợp pháp hóa rượu sẽ cân bằng ngân sách liên bang.

Những người cấm rượu (Prohibitionists) bắt đầu chuẩn bị các đạo luật cấm quảng cáo rượu, đặc biệt là các chương trình phát thanh được nhà máy bia tài trợ, và cấm bán rượu trong phạm vi bán kính 300 mét từ bất kỳ nhà thờ hay trường học nào. Những người thỏa hiệp (Compromisers) yêu cầu (clamor) cho phép chỉ có bia nồng độ thấp (3%) lưu thông trên thị trường còn cấm rượu vang và rượu mạnh. Phát ngôn viên của Pilsner Urquell lập luận rằng những hạn chế tương tự như ở châu Âu này đã chỉ dẫn đến việc tiêu thụ nhiều hơn rượu mạnh, mà ở Mỹ có lẽ sẽ là rượu lậu (moonshine), mà thôi.

Quốc hội thứ 72 sắp mãn hạn (lame-duck) đã bắt đầu quá trình bãi bỏ vào tháng Một. Thượng nghị sĩ John Blaine, thành viên đảng Cộng hòa ở Wisconsin, đã đệ trình một nghị quyết ngay sau vài ngày đầu năm mới đề xuất việc sửa đổi để chuyển luật lệ rượu cho các bang. Tại các bang, nơi nghị quyết (bãi bỏ) không được thông qua, Chính quyền liên bang sẽ tiếp tục tài trợ việc thực hiện lệnh Cấm rượu.

Cả hai phe ủng hộ (drys) và phản đối (wets) đã rất giận dữ. Phe phản đổi (wets) muốn một bãi bỏ tuyệt đối; phe ủng hộ (drys) muốn không có bãi bỏ hoặc, ít nhất là, một điều khoản chỉ cho phép bia nồng độ thấp. Cả hai phe cho rằng tranh cãi (wrangling) tại Quốc hội sẽ trì hoãn hành động này vô thời hạn. Tuy nhiên, cả hai đều là sai lầm. Phó Tổng thống mới đắc cử John Nance Garner, thời điểm đó là Chủ tịch (speaker) Hạ viện, đã cam kết rằng nếu một nghị quyết của Thượng viện tới bàn làm việc của ông, ông sẽ đưa nó vào một cuộc bỏ phiếu nhanh chóng và nghị quyết sẽ được thông qua. Gạt sang một bên các phản đối thủ tục và từ chối thêm sửa đổi, Thượng viện đã thông qua việc bãi bỏ - với tỉ lệ 63-23 - vào ngày 16 tháng Hai. Garner sau đó đưa nghị quyết không sửa đổi nhiều tới Hạ viện và kêu gọi quyết định. Bốn mươi phút sau, Hạ viện bỏ phiếu 289-121 để chuyển nghị quyết bãi bỏ tới các bang để phê chuẩn.

Những người ủng hộ (lệnh Cấm) vẫn tự tin rằng hơn chục bang chống rượu (anti-booze) sẽ kiên định ở miền Nam và miền Trung Tây, nhưng tờ New York Times đưa tin chỉ có 11 bang phản đối hay nghi ngờ.

Giai đoạn 2 của quá trình bãi bỏ đã bắt đầu.

Sơn Phạm
Bloomberg


"Two wheels are better than four" nghĩa là gì?

Olympic Games Men's Cycling Road Race; Second Group. Photo courtesy Adrian.

Khi ai đó nói 'two wheels are better than four' (2 bánh tốt hơn là 4), điều đó có nghĩa là họ cho rằng đi xe đạp còn tốt hơn đi ôtô.

Ví dụ
If you want to get healthy, get out of your car and onto your bike; two wheels are better than four! The traffic is really bad in the city so two wheels are definitely better than four.

Xin lưu ý
Khuyến mại 'two-for-one' ở một cửa hàng có nghĩa là bạn có thể mua 2 sản phẩm giống nhau nhưng chỉ trả tiền 1 mà thôi (mua 1 tặng 1).

I hope you like eating cabbage; I got them on a two-for-one offer at the supermarket, so we've got lots to eat.

Thực tế thú vị:
Cuộc đua Tour de France nổi tiếng thế giới là một cuộc đua xe đạp vòng quanh nước Pháp dài 3.400 km. Đây là một trong những cuộc đua gian nan nhất trong thể thao chuyên nghiệp. Năm nay, Tour de France lần thứ 100, tay đua xe đạp người Anh - Chris Froome đã giành chiến thắng, và giữ chiếc áo vàng (yellow jersey) nổi tiếng.

BBC